quản lý nhà nước về tôn giáo, lý luận và thưc tiển tại huyện phong điền – tp cần thơ - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khóa 37 (2011 – 2014)

ĐỀ TÀI:

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO, LÝ
LUẬN VÀ THƯC TIỂN TẠI HUYỆN PHONG
ĐIỀN – TP CẦN THƠ

Giảng viên hướng dẫn

Sinh viên thực hiện

Th.s VÕ DUY NAM

NGUYỄN THANH TRUYỀN
MSSV: B110089
Lớp: Luật hành chính K37

Cần Thơ, tháng 4 năm 2014


Luận văn tốt nghiệp

Quản lý Nhà nước về tôn giáo, lý luận thực tiển tại Huyện Phong Điền - TPCT

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ........................................................................................................ 1

CẦN THƠ ............................................................................................................. 16

GVHD: Ths Võ Duy Nam

i

SVTH: Nguyễn Thanh Truyền


Luận văn tốt nghiệp

Quản lý Nhà nước về tôn giáo, lý luận thực tiển tại Huyện Phong Điền - TPCT

2.1.Chính sách chung ........................................................................................... 16
2.1.1. Quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân ....................................... 39
2.1.2.Các chính sách cụ thể ............................................................................. 18
2.1.2.1. Đối với tín đồ Tôn giáo .................................................................... 18
2.1.2.2. Đôí với chức sắc nhà tu hành ........................................................... 18
2.1.2.3. Đôí với các tổ chức tôn giáo ............................................................ 19
2.1.2.4. Đôí với nơi thờ tự và tài sản của các tổ chức tôn giáo ...................... 20
2.1.2.5. Đôí với hoạt động đối ngoại của tổ chức tôn giáo ............................ 20
2.2. Quản lý Nhà nước về tôn giáo ....................................................................... 20
2.2.1. Một số khái niệm ................................................................................... 20
2.2.1.1 Quản lý ............................................................................................. 20
2.2.1.2 Quản lý Nhà nước ............................................................................. 20
2.2.1.3 Quản lý Nhà nước và Quản lý Hành chính Nhà nước đối với các tôn
giáo ........................................................................................................................ 21
2.2.2. Cơ sở pháp lý......................................................................................... 21
2.2.3. Mục tiêu quản lý ................................................................................... 22
2.2.4. Chủ thể, khách thể quản lý .................................................................... 22

2.6.2. Công tác quản lý .................................................................................... 45
2.6.3. Kết quả đạt được.................................................................................... 47
2.6.4. Hạn chế ................................................................................................. 47
2.6.5. Một số vấn đề cần quan tâm trong công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo
trên địa bàn Huyện Phong Điền .............................................................................. 48
CHƯƠNG 3 NGUYÊN NHÂN, XU HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO ......... 51
3.1. Nguyên nhân .................................................................................................. 51
3.2. Xu hướng........................................................................................................ 52
3.3. Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và nâng cao
hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về Tôn giáo ............................................... 56
3.3.1. Giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật ................................................ 56
3.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo ..... 56
3.3.2.1. Tập trung nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm trách nhiêm của
hệ thống chính trị và của toàn xã hội về vấn đề tôn giáo ......................................... 56
3.3.2.2. Tăng cường công tác dân vận, xây dựng lực lượng chính trị cơ sở ... 57
3.3.2.3. Tăng cường quản lý Nhà nước về tôn giáo ....................................... 58
3.3.2.4. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu lợi dụng tôn giáo để phá
hoại chống đối cách mạng ..................................................................................... 59
3.3.2.5. Tăng cường công tác tổ chức cán bộ làm công tác tôn giáo .............. 59
3.3.2.6. Coi trọng công tác đào tạo cán bộ lầm công tác tôn giáo .................. 60
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 61

GVHD: Ths Võ Duy Nam

iii

SVTH: Nguyễn Thanh Truyền



hiện nay.
Tuy nhiên, thời gian gần đây, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có
điều kiện mở cửa và hội nhập quốc tế, tác động của kinh tế thị trường, vì vậy trong
sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo cũng phát sinh nhiều vấn đề phức tạp: một số người đã
lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hành nghề mê tín dị đoan, thương mại hóa loại hoạt
động này; các hoạt động truyền giáo của các tổ chức truyền giáo từ bên ngoài vào,
các phần tử thù địch ở trong nước và ngoài nước lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để
kích động tín đồ tiến hành hoạt động chống đối nhà nước, nhằm phá hoại khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, ảnh hưởng tiêu cực tới trật tự, an toàn xã hội. Trước tình hình
đó, việc xây dựng khung pháp lý quy định và tăng cường quản lý Nhà nước về hoạt
động tín ngưỡng, tôn giáo là rất cần thiết. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề
này, người viết đã chọn đề tài: “Quản lý Nhà nước về tôn giáo, lý luận và thực tiễn
quản lý Nhà nước về Phật giáo trên địa bàn huyện Phong Điền – Thành phố Cần
Thơ” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Trước khi luận văn này được viết thì ở Việt Nam đã có rất nhiều nhà nghiên
cứu nói chung trong công tác tôn giáo viết về tôn giáo và quản lý Nhà nước về tôn
giáo ở nhiều khía cạnh, phương diện khác nhau. Đó là những tư liệu quý mà trong

1

Nhiệm vụ thứ 1, phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Hồ Chí Minh. toàn tập, Nxb CTQG 1995, Tr 9

1
GVHD: Ths Võ Duy Nam

SVTH: Nguyễn Thanh Truyền


Luận văn tốt nghiệp

việc ban hành các quy định pháp luật mới phù hợp hơn. Ở đây, người viết tập trung
chủ yếu vào việc nghiên cứu những quy định pháp luật quản lý Nhà nước về tôn giáo
trên cơ sở lý luận, pháp lý của vấn đề, nêu lên thực tiễn ở Huyện Phong Điền năm
2013. Cụ thể công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo ở huyện là công tác quản lý Nhà
nước về Phật giáo. Qua đó đề ra những phương hướng và biện pháp nhằm nâng cao
hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo.
Về thời gian: luận văn nghiên cứu từ tháng 01/2014 đến tháng 4/2014
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu đề tài “Quản lý Nhà nước về tôn giáo, lý luận và thực tiễn tại Huyện
2
GVHD: Ths Võ Duy Nam

SVTH: Nguyễn Thanh Truyền


Luận văn tốt nghiệp

Quản lý Nhà nước về tôn giáo, lý luận và thực tiển tại huyện Phong Điền - TPCT

Phong Điền - TPCT” người viết tìm hiểu các quy định của pháp luật về tín ngưỡng,
tôn giáo như Pháp lệnh, Nghị định, thông tư... quan điểm của Đảng và Nhà nước và tư
tưởng Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo. Trong quá trình viết đề tài, người viết còn
sử dụng các thông tin từ sách vở, giáo trình,...kết hợp với tìm hiểu thực tiễn trên cơ sở
đó áp dụng các phương pháp tổng hợp, so sánh và các phương pháp phân tích luật viết
để hoàn thành đề tài luận văn.
6. Ý nghĩa và kết cấu của đề tài
Thực hiện đề tài này trước hết là một phần kết quả học tập, nghiên cứu của bản
thân trong quá trình học tập. Thông qua việc nghiên cứu về tôn giáo, chính sách tôn
giáo của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực tôn giáo giúp cho bản thân nhận thức được
những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm

siêu nhiên. Cho rằng có những siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người
phải phục tùng, tôn thờ.
- Tôn giáo: là một hình thái ý thức xã hội hình thành nhờ vào niềm tin và sùng

bái thượng đế.
- Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội ra đời và phát triển từ hàng ngàn năm và
luôn tồn tại cùng sự tồn tại của xã hội loài người. Trong quá trình tồn tại và phát triển
, tôn giáo ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội (chính trị, văn hoá, xã
hội, tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán…) của nhiều dân tộc, quốc gia.
- Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng tôn giáo chỉ là một hình thức xã hội, phản
ánh tồn tại xã hội. Theo Ănghen: “Tất cả tôn giáo chẳng qua là phần phản ánh hư ảo
vào trong đầu óc của con người, của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống
hàng ngày của họ; chỉ là phản ánh trong đó những thế lực trần thế đã mang hình thức
những lực lượng siêu trần thế”3
Như vậy, ta có thể hiểu tôn giáo qua các yếu tố:
- Lòng tin vào hiện tượng siêu nhiên.
- Con người sùng bái, biến nó thành thiêng liêng nhằm lý giải thế giới khách
quan, là chỗ dựa cho lòng tin với cuộc sống, lao động, hướng con người tới cuộc sống
lương thiện.
- Tôn giáo đi vào cuộc sống thành nghi thức, tổ chức, trở thành sinh hoạt văn
hoá của cộng đồng dân cư.
- Tôn giáo có khả năng thu hút quần chúng, tác động không nhỏ đến tâm lý, đạo
đức, phong tục, tập quán của từng bộ phận nhân dân.
2

Khoa học tôn giáo, trang 06, Nxb Tôn giáo năm 2006

3

c. Mác - Ph. Ănghen toàn tập, Nxb CTQG 1994, Tập 20, Tr 437.


Trong xã hội công xã nguyên thuỷ, do trình độ của lực lượng sản xuất và điều
kiện sinh hoạt vật chất còn thấp kém, con người cảm thấy yếu đuối và bất lực trước
thiên nhiên. Vì vậy, người nguyên thuỷ đã gán cho thiên nhiên những sức mạnh siêu
nhiên.
Khi xã hội xuất hiên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, giai cấp hình thành, mâu
thuẩn đối kháng nảy sinh, hiên tượng tiêu cực ngày càng phát triển, con người lại
thêm một bất lực nữa là bất lực trước phát sinh xã hội. Không giải thích được nguồn
gốc của sự phân hoá giai cấp và nguyên nhân của sự bất bình đẳng trong xã hội và
những yếu tố ngẫu nhiên may rủi trong cuộc sống, người ta lại hy vọng, ảo tưởng về
cuộc sống tốt đẹp hơn ở thế giới “bên kia”. Quần chúng bất lực trước cuộc đấu tranh
giai cấp thống trị, bốc lột luôn sử dụng tôn giáo như một công cụ, phương tiiện để
duy trì ách bốc lột của mình, đó là những nguyên nhân ra đời và tồn tại của tôn giáo.
Như vậy bên cạnh những lực lượng thiên nhiên còn có lực luợng xã hội tác động,
những lực lượng này đối lập với con người và vẻ bên ngoài cũng giống như sức mạnh
tự nhiên.
- Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo

GVHD: Ths Võ Duy Nam

5

SVTH: Nguyễn Thanh Truyền


Luận văn tốt nghiệp

Quản lý Nhà nước về tôn giáo, lý luận và thực tiển tại huyện Phong Điền - TPCT

Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo còn gắn liền với các đặc điểm của quá trình

giáo chiếm tỷ lệ cao trong dân số thế giới, mà còn ở chỗ tôn giáo đáp ứng nhu cầu
tinh thần của đa số quần chúng nhân dân lao động. Dù tôn giáo hướng con người hy
vọng vào hạnh phúc hư ảo ở thế giới bên kia, song nó luôn luôn phản ánh khát vọng
của những người bị áp bức về một xã hội tự do, bình đẳng, bát ái.

GVHD: Ths Võ Duy Nam

6

SVTH: Nguyễn Thanh Truyền


Luận văn tốt nghiệp

Quản lý Nhà nước về tôn giáo, lý luận và thực tiển tại huyện Phong Điền - TPCT

- Tính chất chính trị

Tính chất chính trị của tôn giáo chỉ có khi xã hội đã phân chia giai cấp và lợi
ích giai cấp ngày càng thể hiện rõ trong tôn giáo.
Những cuộc chiến tranh tôn giáo đã và đang xảy ra trên thế giới về thực chất
vẫn là xuất phát từ lợi ích vật chất của những lực lượng xã hội khác nhau. Trong lịch
sử, những cuộc đấu tranh hệ tư tưởng tôn giáo là một bộ phận của đấu tranh giai cấp.
Trong các cuộc đấu tranh đó, tôn giáo đã bị các giai cấp thống trị sử dụng như công
cụ hữu dụng bảo vệ lợi ích của mình. Và dĩ nhiên, đông đảo quần chúng tín đồ đến
với tôn giáo là nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần, đáp ứng nhu cầu tâm linh. Song trên
thực tế, tôn giáo đã và đang bị các lực lượng chính trị - xã hội thù địch sử dụng cho
mục đích ngoài tôn giáo.
Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng phải gắn liền với cuộc đấu tranh
chống những kẻ lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo vì mục đích ngoài tôn giáo và hoạt


SVTH: Nguyễn Thanh Truyền


Luận văn tốt nghiệp

Quản lý Nhà nước về tôn giáo, lý luận và thực tiển tại huyện Phong Điền - TPCT

lễ nghi và học tập giáo lý tôn giáo mà mình tin theo.
+ Hoạt động tôn giáo phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người
khác, thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, không cản trở quyền và nghĩa vụ
của công dân.
+ Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đảm bảo an toàn, tiết kiệm, tôn trọng quy
định của cơ sở tôn giáo và tuân thủ quy định của pháp luật.
- Hội đoàn tôn giáo: Là hình thức tập hợp tín đồ do tổ chức tôn giáo lập ra
nhằm phục vụ hoạt động tôn giáo.
Trước đây nội dung này không được đề cập một cách trực tiếp, chi quy định tín
đồ được tham gia các hoạt động tôn giáo, học tập giáo lý, đạo đức, phục vụ lễ nghi
tôn giáo tại cơ sở thờ tự. Theo quy định mới, Hội đoàn tôn giáo được xác định là một
hình thức tập hợp tín đồ do tổ chức tôn giáo lập ra không nhằm mục đích phục vụ tôn
giáo thì không phải là hội đoàn tôn giáo, việc thành lập và hoạt động thực hiện theo
quy định của pháp luật về lập Hội. Những Hội đoàn do tổ chức tôn giáo lập ra chỉ
nhằm phục vụ lễ nghi tôn giáo, khi hoạt động không phải đăng ký với cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền.
- Cơ sở tôn giáo : là nơi thờ tự, tu hành, nơi đào tạo người chuyên hoạt động tôn
giáo, trụ sở của tôn giáo và những cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước công nhận.
- Tín đồ: là người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa nhận
- Nhà tu hành: là tín đồ tự nguyện thực hiện thường xuyên nếp sống riêng theo

giáo lý, giáo luật mà mình tin theo.

khoảng 80-85%, Cao đài, Hòa Hảo khoảng 95%, Tin lành khoảng 65%.
1.1.4.2. Ở Việt Nam tôn giáo có cả trong lòng đông bào thiểu số
Về mặt tín ngưỡng tôn giáo, các đồng bào các dân tộc thiểu số có những nét
riêng độc đáo (thờ cúng đa thần với tập quán thờ cúng truyền thống). Sau này, theo
thời gian các tôn giáo dần dần được thâm nhập vào vùng đồng bào thiểu số. Một bộ
phận đồng bào Tây Bắc theo đạo Tin lành trong một thời gian ngắn cũng là một vấn
đề rất lớn, liên quan đến vấn đề tư tưởng, tôn giáo và an ninh chính trị.
1.1.4.3. Các tôn giáo Việt Nam có mối quan hệ quốc tế rộng rãi
Trong 6 tôn giáo chính ở Việt Nam thì đã có 4 tôn giáo du nhập từ bên ngoài
(Phật giáo, Công giáo, Tin lành và Hồi giáo) cho nên tôn giáo Việt Nam có mối quan
hệ quốc tế khá rộng rãi. Ngoài ra, hiện nay có hơn 2 triệu người Việt Nam ở nước
ngoài, Việt kiều đa số là tín đồ, một số ít là chức sắc.
1.1.4.4. Các tôn giáo nước ta luôn là đối tượng trong chính sách lợi dụng
của các thế lực thù địch
Trong chiến lược diễn biến hoà bình, các thế lực thù địch đặc biệt quan tâm lợi
dụng vấn đề tôn giáo, vấn đề tôn giáo được bọn chúng gắn với nhân quyền qua các
thủ đoạn sau:
- Một là, khai thác những sai sót trong việc thực hiện chính sách tôn giáo cơ sở
để xuyên tạc tình hình tôn giáo, vu khống ta hạn chế tôn giáo, vi phạm nhân quyền.
- Hai là: lợi dụng kênh thông tin thế giới bôi nhọ chính sách tôn giáo của Đảng,

Nhà nước ta nhằm cô lập trên trường quốc tế.
- Ba là: lôi kéo, mua chuộc, nuôi dưỡng các phần tử ly khai trong và ngoài
nước.
- Bốn là: khai thác, lợi dụng vị trí thế giới một cực, tiềm lực kinh tế, quân sự và

xu hướng toàn cầu hoá.
- Năm là tìm cách chính trị hoá vấn đề tôn giáo, nhất là tôn giáo của đồng bào
thiểu số, gắn vấn đề tôn giáo với dân tộc.
1.1.5. Chủ nghĩa Mác- Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

Một là: tôn giáo còn tồn tại lâu dài, việc khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của thế
giới quan không tách rời khỏi công cuộc cải biến cách mạng, khẳng định bản chất tốt
đẹp của xã hội chủ nghĩa. Chỉ có thông qua công cuộc xây dựng xã hội mới từng bước
nâng cao đời sống vật chất tinh thần của quần chúng nhân dân, cũng cố niềm tin của
quần chúng tín đồ các tôn giáo vào chế độ mới thì mới khắc phục tâm lý sùng tín tôn
giáo, khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của thế giới quan tôn giáo.
Hai là, cần phân biệt những hoạt động tôn giáo, nhu cầu tôn giáo thuần tuý của
nhân dân với những âm mưu lợi dụng tôn giáo, kích động tôn giáo nhằm chia rẽ khối
đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đi ngược lại
lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc. Sinh hoạt tôn giáo bình thường là nhu cầu chính đáng
của một bộ phận nhân dân, được pháp luật bảo hộ, Nhà nước tôn trọng và tạo nhiều
điều kiện thuận lợi. Mặt khác, những hành vi lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật,
tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo chế độ xã hội chủ nghĩa, chống đối chính quyền phải
được xử lý nghiêm minh bằng pháp luật. Dưới chủ nghĩa xã hội một mặt vừa phải
được đảm bảo nhu cầu sinh hoạt chính đáng của nhân dân, mặt khác phải tăng cường
quản lý Nhà nước về tôn giáo. Trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan đến tôn
giáo vừa chống cực đoan, đồng thời chống buôn lỏng quản lý. Đây là vấn đề không
đơn giản, đòi hỏi phải giải quyêt một cách thận trọng, chính xác.
Ba là: đoàn kết rộng rãi quần chúng có tín ngưỡng và không có tín ngưỡng,
đoàn kết các tôn giáo và tín đồ các tôn giáo khác nhau lấy mục tiêu xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, một xã hội “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ và văn minh” làm điểm tương đồng. Sự phát triển về thế giới quan không cản trở

GVHD: Ths Võ Duy Nam

10

SVTH: Nguyễn Thanh Truyền



những quan điểm đó vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta.
1.1.6. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác quản lý Nhà
nước về tôn giáo
1.1.6.1. Trước thời kỳ đổi mới
- Giai đoạn từ khi giành chính quyền 1945 đến hiệp định Giơnevơ 1954
Sau sự ra đời của Nhà nước công - nông non trẻ, sau cách mạng tháng Tám
nước ta luôn đứng trước những thách thức lớn. Lúc bấy giờ, tình hình tôn giáo khá
phức tạp, đông đảo đồng bào tôn giáo bị áp bức dưới chế độ thực dân phong kiến.
Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn hết sức nâng đỡ Công giáo, biến không ít các tín đồ,
chức sắc thành tay sai chống lại sự nghiệp cách mạng, đi ngược lại lợi ích của dân
tộc.
Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngàý 3-9-1945, ra tuyên bố: “Tín ngưỡng
tự do và Lương giáo đoàn kết”5, công bố “quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không
theo một tôn giáo nào”6; “Đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt lương giáo để
kháng chiến, đoàn kết chặt chẽ, lâu dài, cùng nhau tiến bộ”7. Chỉ đạo công tác chăm
lo sản xuất, cải thiện đời sống vật chất tinh thần, nâng cao trình độ chính trị và tinh
thần cho đồng bào tôn giáo vì lợi ích dân tộc, Tổ quốc, quan tâm tới đời sống sinh
hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào có đạo, bảo vệ các cơ sở thờ tự của tôn giáo8.
Phân biệt giữa quần chúng tôn giáo với bọn đội lốt tôn giáo, lợi dụng tôn giáo để phá
hoại cách mạng; chống lại âm mưu dụ dỗ, lừa gạt giáo dân di cư vào Nam của các thế
lực thù địch. Cán bộ phải thực hiện đúng chính sách tôn giáo, nghiêm túc phê bình và
xử lý cán bộ làm sai, vi phạm chính sách tôn giáo9.
- Giai đoạn chống đế quốc Mỹ (1955-1975)

Đất nước tạm thời bị chia cắt làm 2 miền. Tình hình tôn giáo ở hai miền khác
nhau. Ở miền Bắc, đạo Công giáo diễn ra phức tạp, tình hình dân cư có đạo Công giáo
di cư vào Nam, gây xáo trộn.. Ở miền Nam, Mỹ - Ngụy lợi dụng tôn giáo triệt để, âm
5

Nhiệm vụ thứ 6, phiên họp đầu tiên cùa Chính phủ, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG11995, Tr 9

+ Phương châm công tác tôn giáo là: “tích cực phát triển kinh tế, văn hoá, cải
thiện đời sống đi đôi với việc nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng cho quần chúng và
chấp hành nghiêm chỉnh chính sách tự do tín ngưỡng và mọi chính sách khác đối với
tôn giáo”, “Vạch trần âm mưu chống cộng và lợi dụng giáo hội của Mỹ - Diệm”10.
Chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, kiểm điểm và sửa chữa
những lệch lạc, sai lầm trong việc chấp hành chính sách tôn giáo của các cấp uỷ,
chính quyền và đội ngũ cán bộ11...
- Giai đoạn từ sau giải phóng miền Nam, đến Đại hội VI của Đảng (1976-1986)
Cả nước đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội, với những khó khăn, thách thức,
khủng hoảng chính trị, xã hội và âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch để
thực hiện diễn biến hoà bình, chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.
Chính sách cơ bản của Đảng và Nhà nước ta là: Nhanh chóng ổn định tình hình
sinh hoạt tôn giáo trong cả nước, kiên quyết chống các phần tử và các thế lực phản
động trong các giáo hội, chống lợi dụng tôn giáo, cải tạo giáo sỹ, giáo hội theo hướng
đi với dân tộc và Chủ nghĩa xã hội, hoạt động tôn giáo tuân theo pháp luật Nhà nước.
Tích cực tuyên truyền, giáo dục quần chúng tôn giáo về nhân sinh quan và thế giới
quan khoa học, loại bỏ dần những ảnh hưởng mê tín dị đoan và những ảnh hưởng tiêu
cực trong các hoạt động tôn giáo.12
1.1.6.2. Trong thời kỳ đổi mới
- Sự nghiệp đổi mới đất nước và tư duy về công tác tôn giáo

Quan điểm chỉ đạo
+ Công tác tôn giáo vừa phải quan tâm giải quyết nhu cầu tín ngưỡng của quần
chúng, vừa kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo phá hoại cách mạng;
+ Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng;
10
11
12

Chi thị 22-CT/TW 5/7/1961.

trong khuôn khổ pháp luật.
- Quản lý hành chính Nhà nước đối với tôn giáo: Là quá trình chấp hành pháp
luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan Nhà nước trong hệ thống hành
pháp (Chính phủ và Ủy ban Nhân dân các cấp) để điều chỉnh các quan hệ xã hội của
các tôn giáo và mọi hành vi hoạt động của các tô chức, cá nhân tôn giáo diễn ra trong
khuôn khổ pháp luật.
1.2.2. Quản lý Nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động tín ngưỡng,
tôn giáo
- Khái niệm: Pháp luật đối với hoạt động tôn giáo hay còn gọi là tổng thể các
quy phạm pháp luật thuộc hệ thống pháp luật do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận,
nhằm điều chỉnh các quạn hệ xã hội tôn giáo phát sinh trong quan hệ nội bộ tôn giáo
nhưng có liên quan đến Nhà nước, đến xã hội; giữa các tổ chức, cá nhân tôn giáo với
nhau; giữa tổ chức, cá nhân tôn giáo với các tổ chức và công dân khác và các quan hệ
xã hội khác phát sinh trong quá trình quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo.
Quản lý Nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động tôn giáo là quá trình các cơ
quan Nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, sử dụng pháp luật để
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện quản lý Nhà nước về
tôn giáo.
- Vai trò của pháp luật về hoạt động tôn giáo trong quản lý Nhà nước

GVHD: Ths Võ Duy Nam

14

SVTH: Nguyễn Thanh Truyền


Luận văn tốt nghiệp

Quản lý Nhà nước về tôn giáo, lý luận và thực tiển tại huyện Phong Điền - TPCT

Mọi công dân đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật, không phân
biệt người theo đạo và không theo đạo cũng như giữa các tôn giáo khác nhau.
- Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi năm 2013,
điều 70 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo
một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật Những nơi thờ tự của các tín
ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng,
tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của

GVHD: Ths Võ Duy Nam

15

SVTH: Nguyễn Thanh Truyền


Luận văn tốt nghiệp

Quản lý Nhà nước về tôn giáo, lý luận và thực tiển tại huyện Phong Điền - TPCT

Nhà nước”.
- Các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước bảo
đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, đồng thời phát huy những giá trị văn hóa
đạo đức tôn giáo, gìn giữ những giá trị truyền thống của tín ngưõng, tôn giáo. Nhà
nước khẳng định việc bảo hộ cơ sở vật chất, tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo
như chùa, nhà thờ, thánh đường, thánh thất, điện, đền, am, miếu, trụ sở tổ chức tôn
giáo, trường tôn giáo, kinh bổn và các đồ dùng thờ cúng của tín ngưỡng, tôn giáo.
Nhà nước nghiêm cấm việc phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; vi phạm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước, kích động bạo lực để tuyên
truyền chiến tranh.



Luận văn tốt nghiệp

Quản lý Nhà nước về tôn giáo, lý luận và thực tiển tại huyện Phong Điền - TPCT

thực hiện trên cơ sờ thượng tôn pháp luật, không thể chấp nhận việc lợi dụng tự do
tôn giáo để có các hành vi vi phạm pháp luật, càng không nên cho rằng làm đúng giáo
luật là không trái pháp luật hay chỉ làm theo giáo luật và bất chấp pháp luật. Mọi tín
đồ tôn giáo Việt Nam, trước hết là công dân Việt Nam. Một tín đồ tốt phải là một
công dân tốt. Nhìn chung, năm nguyên tắc của chính sách đối với tôn giáo nói trên, có
thể tóm gọn ở ba nội dung cốt lõi:
Một là: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo;
Hai là: Khuyến khích những hoạt động tôn giáo tiến bộ, ích nước lợi dân;
Ba là: Đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo vào mục đích xấu và bài trừ mê tín dị
đoan.
- Các cấp Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể tổ

chức xã hội và các tổ chức tôn giáo có trách nhiệm làm tốt công tác vận động quần
chúng và thực hiện đúng đắn chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước.
Quan điểm của Đảng về công tác tôn giáo hiện nay: “Tôn trọng và bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo
quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự
do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của
Tổ quốc và nhân dân ”13
Nhìn chung, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng ta về tín ngưỡng, tôn
giáo luôn thể hiện xuyên suốt trong mọi thời kỳ của đất nước. Trong giai đoạn hội
nhập và phát triển, những quan điểm đó đã được thể chế hoá thành hệ thống văn bản
quy phạm pháp luật. Nếu như trước đây, văn bản pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo được
ban hành dưới dạng sắc lệnh, Nghị quyết, sắc luật, Nghị định thì giai đoạn ngày nay

Chức sắc, nhà tu hành là những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp, được
tự do hoạt động trong phạm vi phụ trách, đồng thời phải chịu trách nhiệm trước pháp
luật về những hoạt động tôn giáo diễn ra trong phạm vi phụ trách. Chức sắc, nhà tu
hành chủ trì cơ sở thờ tự hàng năm có trách nhiệm đăng ký lịch sinh hoạt với chính
quyền cơ sở theo luật định. Khi thực hiện lịch sinh hoạt tôn giáo đã đăng ký và được
chấp thuận thì không phải xin phép.
Chức sắc, nhà tu hành với tư cách công dân được Nhà nước khuyến khích tổ
chức các hoạt động từ thiện, y tế, giáo dục theo quy định của pháp luật.
Chức sắc, nhà tu hành nước ngoài được phép giảng đạo tại cơ sở tôn giáo của
Việt Nam sau khi được Ban Tôn giáo Chính phủ chấp thuận. Đây là một trong những
chính sách thể hiện sự đổi mới trong công tác quản lý đối với hoạt động tôn giáo của
chức sắc, nhà tu hành.
Người vào tu tại cơ sở tôn giáo hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện, không ai
được ép buột hay cản trở. Trừ trường họp người chưa thành niên phải có sự đồng ý
của cha, mẹ hoặc người giám hộ.
-Đối với các tổ chức tôn giáo
Tổ chức tôn giáo có tôn chỉ, mục đích và đường hướng hành đạo, cơ cấu tổ
chức phù hợp với pháp luật và được Thủ tướng chính phủ cho phép hoạt động thì
được Nhà nước bảo hộ.
Các hoạt, động tôn giáo tại cơ sở thờ tự đã đăng ký thì thực hiện trong khuôn
viên cơ sở thờ tự không phải xin phép.
Nhà nước cho phép xuất bản sản xuất những loại kinh sách tôn giáo và các giáo
phẩm tôn giáo. Nhà nước cũng bảo hộ các giáo phẩm đó.
Nhà nước cho phép tổ chức các đại hội, hội nghị cấp toàn quốc và cấp địa
phương. Những đại hội, hội nghị đó phải có sự đồng ý của Thủ tướng chính phủ hoặc
chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- Đối với nơi thờ tự và tài sản của các tổ chức tôn giáo
Nhà nước bảo hộ nơi thờ tự của các tổ chức tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo có
trách nhiệm giữ gìn, tu bổ nơi thờ tự.
Các cơ sở thờ tự được phép tu bổ, trùng tu lại. Những trường họp làm thay đổi

*Quản lý hoạt động tin ngưỡng
+ Khi tham gia các hoạt động tín ngưỡng, phải tôn trọng quy định của cơ sở tín
ngưỡng; quy định của lễ hội, quy định trong các hương ước, quy định của cộng đồng
và quy định của pháp luật.
+ Hoạt động tín ngưỡng phải đảm bảo an toàn, tiết kiệm phù họp với truyền
thống, bản sắc văn hoá dân tộc, giữ gìn và bảo vệ môi trường.
Riêng đối với lễ hội tín ngưỡng, một hình thức hoạt động tín ngưỡng có tổ
chức, pháp luật quy định
+ Những lễ hội tín ngưỡng khi tổ chức phải được sự chấp thuận của Uỷ ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi diễn ra lễ hội. Những lễ hội tín
ngưỡng sau, trước khi tổ chức ít nhất 30 ngày, người tổ chức có trách nhiệm gửi hồ sơ
đến Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh:
Lễ hội tín ngưỡng được tổ chức lần đầu;
Lễ hội tín ngưỡng lần đầu được khôi phục lại sau nhiều năm gián đoạn;
Lễ hội tín ngưỡng được tổ chức định kỳ nhưng có thay đổi về nội dung, thời
gian, địa điểm so với truyền thống.
+ Những lễ hội tín ngưỡng không thuộc các loại trên thì trước khi tổ chức 15
ngày, người tổ chức có trách nhiệm thông báo bằng văn bản đến Uỷ ban nhân dân xã,

GVHD: Ths Võ Duy Nam

19

SVTH: Nguyễn Thanh Truyền


Luận văn tốt nghiệp

Quản lý Nhà nước về tôn giáo, lý luận và thực tiển tại huyện Phong Điền - TPCT


vấn đề này, Điều 16 pháp lệnh tin ngưỡng, tôn giáo 2004 đưa ra những điều kiện cần
và đủ để được công nhận là tổ chức tôn giáo đó là:
+ Là tổ chức của những người có cùng tín ngưỡng, có giáo lý, giáo luật, lễ nghi
không trái với thuần phong mỹ tục và lợi ích của dân tộc
+ Có Hiến chương, điều lệ, thể hiện tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo

GVHD: Ths Võ Duy Nam

20

SVTH: Nguyễn Thanh Truyền



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status