TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA K37 – VĂN BẰNG 2
CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN SẠCH TRONG NGHỊ ĐỊNH
THƢ KYOTO VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
DƢƠNG VĂN HỌC
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
NGUYỄN NGỌC THI
Mã số sinh viên: B110078
Lớp: Luật Hành chính K37 VB2
CẦN THƠ, THÁNG 4 NĂM 2014
Ý KIẾN CỦA GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN
___________________
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
1.3.6. Các lĩnh vực thuộc dự án Cơ chế phát triển sạch .......................................14
1.3.7. Các giảm phát thải được chứng nhận (CERs) ............................................15
1.3.8. Ban chấp hành của Cơ chế phát triển sạch .................................................17
1.3.9. Vấn đề tài chính của các dự án Cơ chế phát triển sạch ...............................18
1.3.10. Chu trình thực hiện dự án Cơ chế phát triển sạch.....................................19
1.3.10.1. Xác định và xây dựng dự án ..............................................................20
1.3.10.2. Phê duyệt quốc gia ...........................................................................20
1.3.10.3. Phê duyệt và đăng ký .......................................................................21
1.3.10.4. Giám sát, thẩm tra và cấp chứng nhận ..............................................21
CHƢƠNG 2. CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN SẠCH TRONG PHÁP LUẬT VIỆT
NAM ......................................................................................................................23
2.1. Cơ chế phát triển sạch trong pháp luật Việt Nam .............................................23
2.1.1. Cơ sở pháp lý về Cơ chế phát triển sạch ....................................................23
2.1.2. Cơ quan đầu mối của Cơ chế phát triển sạch tại Việt Nam ........................25
2.1.3. Ban chỉ đạo và tư vấn quốc gia về Cơ chế phát triển sạch (CNECB) .........26
2.1.4. Điều kiện để một dự án CDM được phép đầu tư tại Việt Nam ..................27
2.1.5. Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư xây dựng và thực hiện dự án CDM .....28
2.1.6. Trình tự thủ tục phê duyệt dự án Cơ chế phát triển sạch tại Việt Nam .......29
2.1.7 Vấn đề tài chính liên quan đến Cơ chế phát triển sạch ...............................34
2.1.7.1. Lệ phí bán CERs .................................................................................34
2.1.7.2. Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với dự án CDM .................36
2.2. Thực tiễn các dự án Cơ chế phát triển sạch tại Việt Nam .................................37
2.2.1. Tiềm năng các dự án Cơ chế phát triển sạch tại Việt Nam .........................37
2.2.2. Các dự án Cơ chế phát triển sạch tại Việt Nam đã được Ban chấp hành quốc
tế chứng nhận......................................................................................................38
2.2.3. Tình hình các dự án Cơ chế phát triển sạch đang chờ Cơ quan quốc gia về
Cơ chế phát triển sạch (DNA) phê duyệt .............................................................39
2.2.4. Những bất cập của pháp luật Việt Nam về Cơ chế phát triển sạch .............40
COP
Hội nghị các Bên tham gia Công ước
CMP
Hội nghị các Bên tham gia Nghị định thư Kyoto
DNA
Cơ quan đầu mối quốc gia về Cơ chế phát triển sạch
CNECB
Ban Chỉ đạo quốc gia về Cơ chế phát triển sạch
CERs
Các giảm phát thải chứng nhận
ODA
Quỹ Hổ trợ phát triển chính thức
EVN
Tập đoàn điện lực Việt Nam
PIN
việc xây dựng và thực hiện các dự án CDM sẽ mang lại các giá trị kinh tế và ý
nghĩa bảo vệ môi trường to lớn. Dù vậy, do thị trường mua bán chứng nhận giảm
phát thải khí nhà kính còn quá mới mẻ, nhiều cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là
các nhà doanh nghiệp của Việt Nam còn ít thông tin về thị trường này, nên chưa có
nhiều doanh nghiệp xây dựng và đăng ký dự án CDM cho đơn vị mình. Việt Nam đã
có những văn bản pháp quy để hỗ trợ các dự án CDM và cũng từng bước khắc phục
các nhược điểm về các qui định pháp lý nhưng những thủ tục còn phức tạp và một
số bất cập.
Việc nghiên cứu và hệ thống hóa các văn bản pháp lý quốc tế và Việt Nam về
CDM, cũng như thực tiễn tại Việt Nam là việc làm rất có ý nghĩa. Bên cạnh đó,
nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các dự án
Giảng viên HD: Dương Văn Học
-1-
SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi
Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật
CDM sẽ giúp chúng ta hoàn thiện các quy định pháp luật về Cơ chế phát triển sạch
và xây dựng thị trường mua, bán CERs hoàn chỉnh.
Vì những lý do trên, vấn đề “Cơ chế phát triển sạch trong Nghị định thư Kyoto
và pháp luật Việt Nam” được bản thân lựa chọn làm đề tài của luận văn cử nhân
luật của mình.
2. Mục đích nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích tình hình thực hiện Cơ chế phát triển sạch trên phạm vi
toàn cầu, những vấn đề pháp lý và thực tiễn thực thi cam kết quốc tế về CDM của
Việt Nam, luận văn cũng nêu và phân tích những kinh nghiệm quốc tế về việc thực
hiện CDM, qua đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về Cơ
chế phát triển sạch ở Việt Nam.
quốc gia trên thế giới. Đưa ra các vấn đề thực tiễn và giải pháp hoàn thiện pháp luật
Việt Nam về CDM.
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, tác giả xin chân thành cảm ơn:
Quý thầy cô Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ.
Thầy Dương Văn Học đã hướng dẫn tận tình, cung cấp kiến thức, tài liệu và tạo
điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn.
PGS.Ts Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Dragon - Mekong đã nhiệt tình
cung cấp các tài liệu chuyên ngành.
Ths Nguyễn Minh Thế, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố
Cần Thơ đã nhiệt tình hướng dẫn và cung cấp các kiến thức chuyên ngành.
Ths Trần Ngọc Phi Long, Phó trưởng Phòng Hợp tác Quốc tế - Sở Ngoại vụ
thành phố Cần Thơ đã tận tình giúp tác giả dịch các tài liệu có liên quan sang tiếng
Việt.
Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện, hỗ trợ, chia sẻ thông tin
trong quá trình nghiên cứu và học tập.
Giảng viên HD: Dương Văn Học
-3-
SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi
Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật
CHƢƠNG 1. CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN SẠCH TRONG
NGHỊ ĐỊNH THƢ KYOTO
Dẫn nhập chƣơng
Ở chương đầu tiên này, tác giả sẽ tìm hiểu quá trình hình thành các vấn đề pháp
lý quốc tế có liên quan đến Cơ chế phát triển sạch. Tiếp đó sẽ phân tích các nội dụng
Giảng viên HD: Dương Văn Học
-4-
SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi
Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật
Biến đổi khí hậu và những tác động tiêu cực của nó là mối quan tâm chung của
nhân loại và là một trong những vấn đề gây nhiều tranh luận nhất trong đàm phán
quốc tế. Biến đổi khí hậu có những ảnh hưởng tiêu cực như sau:
Trƣớc tiên, biến đổi khí hậu ảnh hƣởng đến nguồn nƣớc2
Các nhà khoa học đã dự báo rằng: sự nóng lên toàn cầu sẽ gây nên những biến
đổi đáng kể đến đặc trưng nhiệt độ và dạng mưa. Thông qua cân bằng nước trong
mỗi khu vực sẽ có những tác động tới dòng chảy sông ngòi và tài nguyên nước.
Sự nóng lên toàn cầu làm giảm tài nguyên nước ở Châu Á, khu vực Địa Trung
Hải và Nam Phi trong khi đó tài nguyên nước có xu thế tăng lên ở vùng vĩ độ cao và
Đông Nam Á.
Nhu cầu về nước đang tăng lên do phát triển kinh tế và sự tăng dân số. Khoảng
1,7 tỉ người hiện tại đang sống trong tình trạng khan hiếm nước. Dự báo, đến năm
2025 con số này sẽ tăng lên 5 tỉ người. Biến đổi khí hậu làm suy giảm lưu lượng
dòng chảy và nước ngầm ở nhiều nước vốn đã khan hiếm nước sinh hoạt như Trung
Á, Nam Phi và các nước ven biển Địa Trung Hải.
Tiếp theo, biến đổi khí hậu còn ảnh hƣởng đến nông nghiệp và an ninh
lƣơng thực3
Khi nhiệt độ tăng lên, ở vùng nhiệt đới, sản lượng sẽ giảm ngay khi nhiệt độ
thay đổi không đáng kể. Trong khi đó ở vùng ôn đới, sản lượng của một số cây trồng
sẽ tăng lên. Nhìn chung nhiệt độ tăng lên sẽ có hại đối với số lượng lớn các loài cây
trồng do chưa thích nghi với điều kiện thay đổi.
Suy thoái đất và tài nguyên nước là một trong những thách thức của ngành
Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu còn ảnh hƣởng đến các hệ sinh thái4
Các hệ sinh thái phải gánh chịu nhiều sức ép như thay đổi sử dụng đất, chất ô
nhiễm, thay đổi khí hậu tự nhiên … Biến đổi khí hậu là một sức ép làm thay đổi
hoặc gây nguy hại cho các hệ sinh thái.
Nhiều loại cây bị đe dọa do biến đổi khí hậu. Nếu không có các biện pháp thích
ứng, nhiều loài cây sẽ có nguy cơ biến mất trong thế kỷ 21. Điều này sẽ tác động
đáng kể đến cộng đồng thu nhập thấp, sống phụ thuộc vào cuộc sống tự nhiên. Bên
cạnh đó, do vai trò của các loài thực vật trong hệ sinh thái, suy giảm của các loài
thực vật sẽ tác động đến các hiện tượng tự nhiên, các tập quán văn hóa của người
bản địa.
Biến đổi khí hậu cũng làm giảm số lượng hồ, vùng đầm lầy và các dòng sông
băng, đồng thời làm tăng sự xâm lấn của các động thực vật ngoại lai, làm trầm trọng
thêm vấn đề ô nhiễm hiện tại như nhiễm độc, mưa acid và bức xạ tia tử ngoại.
Cuối cùng, biến đổi khí hậu ảnh hƣởng đến vùng ven bờ5
Biến đổi khí hậu làm tăng nhiệt độ mặt biển và mực nước biển, làm suy giảm
lớp băng phủ và độ mặn, dòng chảy của nước biển. Những thay đổi trong đại dượng
sẽ có tác động ngược trở lại đối với khí hậu toàn cầu cũng như đối với khí hậu của
khu vực ven bờ.
Nhiều vùng ven bờ phải chịu lũ lụt do nước biển dâng, sự xói mòn và sự nhiễm
mặn nguồn nước ngọt. Nhiều đồng bằng và vùng ven bờ sẽ bị nhấn chìm do mực
nước biển dâng.
1.2. Tổng quan pháp luật quốc tế về Biến đổi khí hậu
1.2.1. Công ƣớc khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu năm 1992
(UNFCCC)
Công ước khung của Liên hiệp quốc về Biến đổi khí hậu (United Nations
Framework Convention on Climate Change, UNFCCC hoặc FCCC) là một hiệp
ước quốc tế về môi trường được đàm phán tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Môi
4
5
phát triển. Nguyên tắc công bằng và “trách nhiệm chung nhưng có phân biệt” của
Công ước đòi hỏi các Bên thuộc Phụ lục I phải đi đầu trong tiến trình nhằm giảm
mức phát thải khí nhà kính của mình vào năm 2000 bằng phát thải năm 1990. Các
nước này cũng phải đệ trình các báo cáo định kỳ, còn gọi là Thông báo Quốc gia,
nhằm nêu rõ các chính sách, chương trình về Biến đổi khí hậu và kiểm kê khí nhà
kính hàng năm.
1.2.2. Nghị định thƣ Kyoto
Nghị định thư Kyoto là một nghị định liên quan đến Chương trình khung về
biến đổi khí hậu mang tầm quốc tế của Liên hiệp quốc với mục tiêu cắt giảm
lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Bản dự thảo được thông qua vào ngày 11
tháng 12 năm 1997 tại Hội nghị các bên tham gia lần thứ ba (COP-3) khi các bên
tham gia nhóm họp tại Kyoto, Nhật Bản. Sự thông qua Nghị định thư này phù hợp
6
UNFCCC, Introducing The United Nations Framework Convention on Climate Change,
[truy cập ngày 25 tháng 4 năm
2014].
Giảng viên HD: Dương Văn Học
-7-
SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi
Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật
với Điều 24 là “Nghị định thư này sẽ được mở ký và được phê chuẩn, phê duyệt
hoặc chấp nhận bởi các Quốc gia và các tổ chức liên kết kinh tế khu vực là các Bên
vủa Công ước. Nghị định thư sẽ được mở để ký tại trụ sở của Liên Hợp Quốc, New
York, Hoa Kỳ từ ngày 16 tháng 3 năm 1998 đến 15 tháng 3 năm 1999”. Ngày đó
[truy cập ngày 25 tháng 4
năm 2014].
Giảng viên HD: Dương Văn Học
-8-
SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi
Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật
Sau khi Nghị định thư Kyoto được ký, các cuộc đàm phán vẫn diễn ra nhằm cụ
thể hóa các hoạt động của Nghị định thư. Nghị định thư xác định các phương thức
hổ trợ giữa các Bên để đạt được chỉ tiêu của mình nhưng lại không đi sâu vào chi
tiết. Năm 2001, sau 4 năm tranh cãi, cuối cùng chính phủ các nước đã thống nhất
nguyên tắc toàn diện – Thỏa thuận Marrakeck – về phương thức thực hiện Nghị định
thư Kyoto. Thỏa thuận cung cấp đầy đủ các thông tin cho chính phủ các nước khi
xem xét phê chuẩn Nghị định thư Kyoto.
Nghị định thư Kyoto đã xây dựng ra ba “Cơ chế mềm dẻo” để giúp các nước
phát triển giảm chi phí thực hiện mục tiêu giảm phát thải, bằng cách giảm phát thải
ở các nước khác với chi phí thấp hơn so với thực hiện giảm phát thải trong nước
mình. Ba cơ chế mềm dẻo đó là:
Cơ chế đồng thực hiện (Joint Implementation (JI)) là cơ chế phối hợp thực hiện
các dự án hợp tác về khí hậu giữa các nước phát triển với nhau. Cơ chế này
giảm phát thải KNK ít nhất 18 % so với mức năm 1990 trong thời gian tám năm
(2013-2020). Việc sửa đổi này được quy định trong Nghị quyết 1/CMP.8, phù hợp
với Điều 20 và Điều 21 của Nghị định thư Kyoto. Việc gia hạn Nghị định thư Kyoto
đến năm 2020 cũng có nghĩa là giai đoạn thứ 2 của Cơ chế phát triển sạch là giai
đoạn 2013 đến 2020.
1.3. Cơ chế phát triển sạch quy định trong Nghị định thƣ Kyoto
1.3.1. Sơ lƣợc về Cơ chế phát triển sạch (CDM)
Trong ba cơ chế mềm dẻo của Nghị định thư Kyoto, Cơ chế phát triển sạch
(Clean Development Mechanism – CDM) được quy định trong Điều 12 Nghị định
thư Kyoto. Cơ chế phát triển sạch là một phương thức hợp tác quốc tế trong lĩnh vực
môi trường nhằm làm giảm sự phát thải khí nhà kính trên phạm vi toàn cầu. Phương
thức hợp tác này là sự thông qua cơ chế đầu tư giữa các nước công nghiệp phát triển
với các nước đang phát triển, tăng cường khuyến khích các cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp của các nước công nghiệp phát triển thực hiện các dự án giảm phát thải khí
nhà kính.
Theo Khoản 3 Điều 12 Nghị định thư Kyoto thì Dự án CDM mang về nhiều lợi
ích cho cả phía đầu tư và phía chủ nhà.
Nƣớc chủ nhà
Các dự án CDM là nguồn đầu tư nước ngoài mới đầy tiềm năng. Các nước
đang phát triển có thể nhận được đầu tư nước ngoài để đạt các mục tiêu phát triển
của mình, đổng thời giảm nhẹ biến đổi khí hậu toàn cầu. Các dự án CDM cũng làm
tăng thêm các dự án phát triển hiện nay. Ngoài ra, CDM còn mang lại lợi ích về đa
dạng sinh học, bảo vệ môi trường, nguồn nước và không khí sạch hơn, tạo việc làm
và góp phần xóa giảm đói nghèo.
Đối tác chủ nhà
Các đối tác chủ nhà sẽ có thêm các nguồn đầu tư bổ sung cho doanh nghiệp của
mình. Trong từng trường hợp cụ thể, các lợi ích đó sẽ khác nhau nhưng nhìn chung
các đối tác chủ nhà sẽ tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới hiệu quả hơn, nâng cao
tính khả thi của dự án và tăng thêm vốn đầu tư. Những khoản đầu tư này có thể đem
lại nhưng lợi ích cạnh tranh quyết định.
dụng chứng nhận này đáp ứng mục tiêu Kyoto của mình. Nếu cơ chế CDM vận hành
đúng nó sẽ làm thay đổi “giảm” tổng lượng KNK tại quốc gia thuộc phụ lục I bằng
việc đơn giản là thay đổi địa điểm giảm phát thải tại quốc gia không thuộc phụ lục I.
Xem một ví dụ8 sau: Một công ty Pháp cần phải giảm lượng phát thải của mình
được phân bổ trong tổng mục tiêu giảm phát thải của Pháp theo Nghị định thư
Kyoto. Thay vì giảm phát thải từ các hoạt động của chính các công ty ở Pháp, công
ty sẽ cung cấp tài chính để xây dựng một nhà máy điện Biomass9 ở Ấn Độ (mà nếu
không có khoản tài chính này, dự án sẽ không được xét đến). Điều này sẽ tránh được
việc phải xây dựng nhà máy điện sử dụng năng lượng hoá thạch hoặc sử dụng điện
từ những nhà máy khác đang hoạt động, do đó giảm được phát thải khí nhà kính ở
TUV Rheinland Hong Kong Ltd. and RCEE (2004), Sách hướng dẫn về CDM, Trung tâm Nghiên
cứu Năng lượng và Môi trường, Hà Nội, trang 17
9
Nhiên liệu sinh khối hay còn gọi là nhiên liệu từ vật liệu hữu cơ
8
Giảng viên HD: Dương Văn Học
-11-
SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi
Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật
Ấn Độ. Nhà đầu tư Pháp này nhận được chứng nhận giảm phát thải góp phần thực
hiện mục tiêu giảm phát thải của Pháp.
Bên cạnh đó, sẽ có các Bên liên quan như Ngân hàng thế giới (WB) hoặc các
đại lý mua bán quyền phát thải Carbon sẽ đầu tư vốn cho các dự án đại diện cho
chính phủ và tập đoàn của các nước công nghiệp. Trong nhiều trường hợp khác, các
nhà phát triển dự án có thể tự cấp vốn cho các dự án CDM và sau đó tìm kiếm bên
SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi
Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật
1.3.4. Nội dung của Cơ chế phát triển sạch
Khoản 3 Điều 12 Nghị định thư Kyoto có quy định:
“Theo cơ chế phát triển sạch:
a) Các Bên không thuộc Phụ lục I sẽ được lợi nhờ các hoạt động dự án đưa đến
những sự giảm phát thải được chứng nhận; và
b) Các Bên thuộc Phụ lục I có thể sử dụng sự giảm phát thải được chứng nhận
đạt được nhờ các hoạt động dự án như vậy để đóng góp vào việc tuân thủ một
phần các cam kết của mình về giảm và hạn chế phát thải định lượng theo Điều 3,
như đã xác định bởi Hội nghị các Bên tức là cuộc họp các Bên của Nghị định
thư này”.
Vậy, nội dung cơ bản của CDM được hiểu như sau:
Các công ty quốc doanh, tư nhân ở các nước phát triển đầu tư vào các dự án ở
các nước đang phát triển để góp phần giảm phát thải khí nhà kính;
Thông qua đầu tư vào các nước đang phát triển, các nước phát triển có thể nhận
được “Giảm phát thải được chứng nhận” (Certified Emission Reductions (CERs)) để
thực hiện cam kết giảm KNK theo KP.
Các nước đang phát triển cũng có thể tự mình đầu tư vào các dự án giảm phát
thải trong nước;
Các nước đang phát triển có thể bán tín dụng phát thải thu được của mình cho
các nước phát triển dưới dạng CERs;
Các dự án này sẽ làm hiện đại hóa một số lĩnh vực ở các nước đang phát triển,
đồng thời góp phần tích cực vào bảo vệ khí hậu toàn cầu;
Như vậy, các dự án CDM thúc đẩy phát triển bền vững tại các nước đang phát
triển đồng thời cho phép các nước phát triển góp phần vào mục tiêu giảm nồng độ
Nhu cầu năng lượng
Ngành công nghiệp chế tạo
Công nghiệp hóa chất
6. Xây dựng
7. Vận tải
8. Khai thác khoáng sản
9. Sản xuất kim loại
10. Các phát thải từ các nhiên liệu (nhiên liệu rắn, dầu và khí tự nhiên)
11. Sản xuất và tiêu thụ các halocarbons và sulphur hexafluoride
12. Sử dụng dung môi
13. Quản lý và xử lý rác thải
14. Trồng rừng và tái trồng rừng
15. Nông nghiê ̣p
Phạm vi từ 1 đến 9 là ngành công nghiệp và 10 đến 13 là những ngành dựa trên
các nguồn phát thải khí nhà kính. Danh sách này có thể được tiếp tục sửa đổi nhằm
phù hợp với hướng dẫn thủ tục và tình hình Chống biến đổi khí hậu trong tương lai.
Ta có thể hiểu theo một cách khác, CDM gồm các dự án thuộc các lĩnh vực
sau:
Nâng cao hiệu quả năng lượng sử dụng cuối.
Nâng cao hiệu quả cung cấp năng lượng
Năng lượng tái tạo
Chuyển đổi nhiên liệu
Nông nghiệp (giảm phát thải CH4 và N2O)
Ban chỉ đạo thực hiện Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu và Nghị định thư
Kyoto tại Việt Nam (2012), Thông tin tóm tắt về Cơ chế phát triển sạch và thị trường Các-bon
Quốc tế, Hà Nội, trang 1.
10
tính trực tiếp vào phần thực hiện nghĩa vụ giảm phát thải KNK của nước phát triển
đó, có thể được bán cho một bên thứ ba cần có CERs để thực hiện cam kết theo
Nghị định thư Kyoto hoặc giữ lại để sử dụng về sau. Vì thế, bất cứ cơ quan nào sở
hữu CERs chưa sử dụng, được để dành hoặc đem mua bán và tìm kiếm cơ hội bán
phần phát thải định lượng này đều có thể trở thành người bán CERs.
Riêng về, người mua CERs có thể là Tổ chức trực tiếp sử dụng hoặc là Tổ chức
có nhu cầu sử dụng đồng thời có kế hoạch kinh doanh hoặc là Nhà đầu tư CERs.
Thông thường Người mua phải thỏa mãn điều kiện là có đăng ký hoạt động tại một
quốc gia thuộc Phụ lục I, hoặc ít nhất là có tài khoản CERs mở tại các nước này. Sự
trao đổi CERs giữa Chủ dự án với Người mua và giữa các Bên mua với nhau tạo ra
tương ứng là thị trường CERs sơ cấp và thứ cấp.
11
Căn cứ Khoản 22 Phần D Nghị quyết 3/CMP.1
Giảng viên HD: Dương Văn Học
-15-
SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi
Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật
Bên cạnh đó, theo tài liệu Thông tin tóm tắt về Cơ chế phát triển sạch và thị
trường Các-bon Quốc tế năm 2012 của Ban chỉ đạo thực hiện Công ước khung của
Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu và Nghị định thư Kyoto tại Việt Nam (CNECB)
thì Người mua lớn nhất là các Doanh nghiệp Tài chính Carbon (CFB, đại diện cho
nhiều chính phủ và một số công ty ở Châu Âu) của Ngân hàng Thế giới (World
Bank) thông qua một số quỹ như Quỹ Carbon ban đầu (PCF), Quỹ Carbon phát triển
cộng đồng (CDC), Quỹ Carbon sinh học và các quỹ riêng của các chính phủ, như
Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật
Khi tham gia dự án CDM, Bên mua CERs sẽ phải phòng ngừa các rủi ro và sẽ
khấu trừ vào giá mua, ngoài các chi phí phát triển dự án và tạm ứng tiền nếu Bên
mua yêu cầu, về cơ bản là:
Dự án có điều chỉnh và không chứng minh được đầy đủ các tiêu chí bổ
sung để được đăng ký thành công là dự án CDM, chủ yếu do Chủ dự án
không nhận thức và xác định rõ các mục tiêu, trong đó mục tiêu tự
nguyện giảm phát thải phải được ưu tiên hàng đầu;
Dự án vận hành không thể đúng theo công suất thiết kế (do kế hoạch sản
xuất hoặc do điều kiện khách quan) nên không thể nhận được một số
lượng CERs như kỳ vọng;
Dự án vận hành không tuân thủ các qui tắc CDM (do chủ quan của Chủ
dự án) nên có nhiều khó khăn khi thẩm tra định kỳ hoặc tổn thất khi ban
hành CERs;
CERs không được ban hành vào đúng thời điểm mà Bên mua cần có để
sử dụng chuyển đổi, tuân thủ cam kết giảm phát thải buộc Bên mua phải
chịu thêm chi phí mua CERs dự phòng hoặc mua CERs từ thị trường thứ
cấp;
Loại hình hoạt động dự án trong tương lai có thể không còn được các
quốc gia thuộc Phụ lục I hoặc quốc gia có dự án khuyến khích hoặc thừa
nhận là hoạt động đóng góp vào giảm phát thải và vì vậy CERs từ các
dự án đó sẽ không được chấp nhận chuyển đổi;
Như vậy có thể thấy giá mua CERs sẽ thay đổi theo thời điểm của tiến
trình, hiện trạng dự án khi Thỏa thuận mua bán CERs được đàm phán,
ký kết.
1.3.8. Ban chấp hành của Cơ chế phát triển sạch
Khoản 4 Điều 12 Nghị định thư Kyoto có quy định:“Cơ chế phát triển sạch sẽ
chịu sự điều hành và hướng dẫn của Hội nghị các Bên tức là cuộc họp các Bên của
1.3.9. Vấn đề tài chính của các dự án Cơ chế phát triển sạch
Khoản 8 Điều 12 Nghị định thư Kyoto có qui định: “Hội nghị các Bên tức là
cuộc họp các Bên của Nghị định thư này sẽ bảo đảm rằng một phần của thu nhập từ
các hoạt động dự án được xác nhận được sử dụng để chi trả cho công tác hành
chính cũng như giúp các nước phát triển đặc biệt dể bị ảnh hưởng do tác động có
hại của biến đổi khí hậu, nhằm đáp ứng các chi phí ứng phó”.
Và tại Điểm a Điều 15 Nghị quyết 17/CP.7 có qui định:“Phần tài chính để
giúp các nước phát triển dể bị ảnh hưởng do tác động có hại của biến đổi khí hậu,
như quy định tại Khoản 8 Điều 12 Nghị định thư Kyoto, sẽ được trích ra 2% từ các
thu nhập từ CERs cấp cho mỗi hoạt động của dự án CDM”.
Vậy, CERs từ dự án CDM phải chịu mức phí 2% – khoản thu nhập này sẽ được
đưa vào Quỹ thích ứng mới để giúp các nước đang phát triển dễ nhạy cảm đối với
các tác động tiêu cực của Biến đổi khí hậu.
Các khoản thu về CERs sẽ góp phần thành toán các chi phí quản lý CDM. Để
thúc đẩy phân bổ công bằng dự án giữa các nước đang phát triển, dự án CDM tại các
nước kém phát triển không phải chịu khoản thu về thích ứng và chi phí quản lý 12.
12
Điểm b Điều 15 Nghị quyết 17/CP.7
Giảng viên HD: Dương Văn Học
-18-
SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi
Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật
1.3.10. Chu trình thực hiện dự án Cơ chế phát triển sạch
Nhằm thúc đẩy các hoạt động CDM, việc xây dựng chu trình dự án CDM thích
quyết 3/CMP.1:
(A) Các phát thải hiện nay hoặc quá khứ phù hợp;
(B) Các phát thải từ công nghiệp do đầu tư thiện hữu với môi trường;
(C) Các phát thải trung bình của hoạt động dự án tương tự được tiến hành
trong năm năm trước đó, trong cùng hoàn cảnh xã hội, kinh tế, môi trường và công
nghệ tượng tự, và các hoạt động đó thuộc mức cao của 20% tổng các loại dự án.
Các dự án CDM phải có kế hoạch giám sát để thu thập số liệu phát thải chính
xác. Kế hoạch giám sát là cơ sở của thẩm tra trong tương lai, nó đảm bảo rằng các
giảm phát thải và mục tiêu của dự án sẽ đạt được trong tương lai và đồng thời có thể
kiểm soát những rủi ro gắn liền với đường cơ sở và phát thải của dự án. Kế hoạch
giám sát có thể do bên thực hiện dự án hoặc đội chuyên gia xây dựng. Đường cơ sở
và kế hoạch giám sát phải phù hợp với phương pháp luận đã được thông qua. Nếu
các Bên tham gia dự án sử dụng phương pháp luận mới thì phương pháp này phải
được Ban chấp hành chấp thuận và cho phép.
Bên cạnh đó, tại Khoản 49 của Phần G Nghị quyết 3/CMP.1 thì các Bên tham
gia dự án chọn thời kỳ tín dụng là 7 năm thì khả năng có thể được gia hạn 2 lần
(trong khoảng thời gian tối đa là 21 năm) và mỗi lần gia hạn phải thông báo cho EB.
Với dự án chọn thời kỳ tín dụng là 10 năm thì không được gia hạn.
1.3.10.2. Phê duyệt quốc gia
Theo Khoản 29 Phần F Phụ lục Phương thức và thủ tục cho một cơ chế phát
triển sạch của Nghị quyết 3/CMP.1 thì tất cả các nước tham gia CDM phải thành lập
Giảng viên HD: Dương Văn Học
-20-
SV thực hiện: Nguyễn Ngọc Thi