Phát triển du lịch văn hóa Chùa Bút Tháp - Pdf 31

LỜI NÓI ĐẦU
Nằm giữa sông Đuống và sông Cầu, Bắc Ninh (Kinh Bắc xưa) là vùng đất cổ
của người Việt với mật độ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh dầy đặc. Không
chỉ thu hút du khách bởi những bức tranh “ bừng sáng trên giấy điệp, lặng lòng
người bởi những triền đê xanh mướt, ngút ngàn cỏ và hoa cúc dại mà còn thu
hút bởi những kiến trúc Phật Giáo nổi tiếng. Nhắc đến Bắc Ninh là không thể
không nói đến Chùa Bút Tháp. Đây là một ngôi chùa cổ, mặc dù đã trải qua
những lần trùng tu, sửa chữa nhưng chùa vẫn giữ được những tác phẩm kiến
trúc, điêu khắc tuyệt mỹ và nét nguyên sơ hấp dẫn của nó với sự dung hội hai
nền văn hoá Việt – Hoa.
Chùa Bút Tháp hiện còn khá nhiều tác phẩm kiến trúc, điêu khắc tuyệt mỹ. Nổi
bật là hai tác phẩm Tháp Bảo Nghiêm (có thể vì nó giống hình cái bút mà
người ta gọi chùa với tên là Tháp Bút?) và bức tượng Phật Bà Quan âm nghìn
mắt nghìn tay. Toàn bộ kiến trúc của ngôi chùa là một khuôn mẫu về sự kết
hợp hài hòa kiến trúc của các chất liệu gạch, gỗ và đá, của sự hòa nhập kiến
trúc rất gần gũi với môi trường thiên nhiên. Những ai đã từng đến đây chắc
chắn sẽ bị chinh phục bởi vẻ đẹp kỳ thú và cực kỳ ấn tượng của nó.
Chùa Bút Tháp không chỉ hấp dẫn đối với người dân Việt mà còn thu hút khá
đông khách Quốc tế đế viếng thăm. Đây đang thực sự trở thành một địa điểm
du lịch lý tưởng và là nơi hành hương của đồng bào cả nước và của du khách
thập phương.
I-Tên di tích và lịch sử xây dựng
Bút Tháp là một trong những ngôi chùa cổ nhất ở đất Kinh bắc xưa. Giử vẻ
đẹp trong sự thăng biến của bao đời, chùa cổ uy nghiêm và tĩnh lặng trong
không gian văn hoá đất Bắc. Bút Tháp với sự huy hoàng của cái nôi Phật Giáo,
dòng Lâm tế phát xuất thời Lê, tạo thành mạch nguồn đạo giáo thâm sâu trong
tâm thức dân tộc. Chùa cổ dấu xưa đến nay đã trải qua mấy trăm năm, hưng
tích vẫn còn với thời gian, mà lịch sử vẫn là điều chưa được thấu rõ.
1
1 a. Tên di tích thường gọi, tên chữ và các tên gọi khác
- Tên thường gọi : Chùa Bút Tháp

dựng lại chùa Ninh Phúc và điện Đại Hùng, vào năm Dương Hoà 8 (1643)
2
người ta mới chỉ kịp khắc chữ ghi lại vào mấy tấm biển gỗ để treo. Đến năm
Phúc Thái 4 (1664) lệnh chỉ của Chúa Trịnh đã được khắc vào bia đá, đó là văn
bia Phụng lệnh chỉ của Chúa Trịnh Tráng cho phép dân xã Nhạn Tháp được thu
lấy toàn bộ số thuế ngạch chi dùng vào việc đèn hương lễ Phật. Năm Phúc Thái
5 (1647) có thêm bốn văn bia ghi lại quá trình xây dựng và trung tu chùa.
Ngay khi bước vào chùa ta bắt gặp 2 tấm bia đá được đặt trên lưng con rùa
được khắc bằng chữ Hán Nôm.
Đi tới tòa “Cửu Phẩm Liên Hoa” được dựng trên cơ sở bia “Tích Thiện Am”
Bia Tích Thiện am là một tấm bia nhỏ ,được dựng vào giờ tốt ngày lành
tháng 11 năm Tân Mùi niên hiệu Chính Hòa thứ 12 (1691) gồm có hai mặt,
một mặt có văn toàn bia, mặt kia chỉ có một dòng ghi bài vị của vị Thiền sư,
kích thước mặt bia cao khoảng 70x50cm chiều ngang, chân bia chôn dưới đất,
gần sát phần chữ cùng với chữ nhỏ vì thế rất khó in bia và đọc văn bản. Còn
mặt sau là bài vị:” Trưởng lão tăng là Hà Đăng Đệ, tên chữ là Huệ Thông, đạo
hiệu là Huyền Thanh Phổ Tế Thiền sư”
Thực tế thì văn bia không hề đưa ra một từ ngữ nào liên hệ đến chùa Bút
Tháp cũng như tên đất lân cận trong vùng Thuận Thành. Năm 1659 Minh Hành
mất thì Như Phúc nối đèn lên trụ trì chùa Bút Tháp, trong khoảng 30 năm
không thể có điều gì khác biệt. Như vậy bia Tích Thiện am là được đem từ nơi
khác về mà chúng ta không biết nguồn gốc bia từ đâu và theo thời gian cùng
thói quen mà dân ta gọi tên tòa nhà Cửu phẩm liên hoa theo tên bia là "nhà
Tích Thiện Am".
Ngoài ra còn 3 tấm bia quan trọng khác như: “Sắc kiến Ninh Phúc Thiền Tự
“(xây dựng chùa Ninh Phúc) năm 1642 ; “Ninh Phúc Thiền Tự Tam Bảo Tế Tư
Điền Bi”(bia cúng ruộng cho Tam Bảo chùa Ninh Phúc) năm 1674 ; "Ngự chế
Đại hùng bảo điện năm 1642.
Với những tấm bia đá có niên đại lâu đời còn giữ được tại chùa Bút Tháp đã
tôn lên giá trị cổ kính của ngôi chùa và là sử liệu vô cùng quí giá giúp cho các

Trịnh Tráng cũng cho "miễn sưu sai tạp dịch" trong dịp "bản xã có ngôi cổ tích
danh lam là chùa Ninh Phúc nay được dựng sửa lại" (Phụng Lệnh chỉ-1646).
Sang đầu thế kỷ 18, chùa Ninh Phúc lại được tu sửa với quy mô lớn. Bia
"Ninh Phúc thiền tự bi kí" dựng năm Vĩnh Thịnh 10 (1714) chép rằng "trong xã
vốn có danh lam cổ tích là chùa Ninh Phúc, tuy được mở dựng bởi bậc thánh
đời trước, nhưng qua nhiều năm đã hư hoại" và được các quan viên như Luân
Quận công họ Lê, Nhu Thuận quận chúa họ Trịnh, Thể Thái Hầu là Lê Hội,
Dĩnh Quận Công Lê Đĩnh, Ninh Lộc Hầu Lê Vịnh,... cho tu sửa thêm khang
trang hơn mà "chẳng tiếc ngàn vàng sắm mua toàn gỗ tốt, lại được dân làng
góp sức mời thợ cất dựng sửa sang, điện thờ nguy nga, chùa chiền rộng rải,
trang điểm một bầu thế giới Lưu ly" (Khánh Lưu bi kí-1714). So với trước kia
4
thì sau khi chùa được dựng lại thêm "dãy nhà riêng ở phía sau Phật đường",
chùa đã quy mô to lớn hơn trước hơn rất nhiều.
Sau đó hơn 20 năm thì chùa lại được trùng tu một lần nữa, lần này có lẽ là lần
định hình nên kiến trúc và diện mạo của chùa cho đến ngày nay, bao gồm toàn
diện các toà nhà đều được trùng tu lại cho thêm mới. Bia tháp Tôn Đức dựng
năm 1739 cho biết "trụ trì chùa Ninh Phúc là Sa môn Tính Hài hưng công tu
sửa trang hoàng, tu dựng tượng vàng ngày lành tháng 4 năm Kỷ Mùi niên hiệu
Vĩnh Hựu thứ 5 (1739) triều Lê". Cũng trong lần tu sửa này toà Cửu phẩm liên
hoa cũng được tạo dựng.
Sau bao tan biến của bể dâu, triều chính thay đổi, dân tình nghèo đói tan tác,
dấu cũ chùa xưa thêm tiêu điều, các cao tăng thạc đức của chùa vắng bóng như
hầu hết các chùa trên đất Việt giai đoạn này. Cũng từ đây không còn dấu sách,
văn bia nào ghi chép về các thiền sư của chùa mà chỉ còn lại đôi chút hình ảnh
chùa Bút Tháp trong các thư tịch về một thắng tích còn vang bóng một thời.
Đầu thời Nguyễn, sau một thời gian đất nước dần trở về sự ổn định và nhân
dân yên ổn làm ăn thì nhu cầu tâm linh của họ được chú trọng. Cùng với thời
gian diện mạo chùa xưa nay đã tiêu điều, chuông cũ tiếng vang không còn
được như xưa, dân tình và các quan viên hương lão đã họp bàn đúc lại chuông,

mông đó.
Cụm kiến trúc trung tâm ở chùa Bút Tháp bao gồm 8 đơn nguyên chạy song
hành được bố trí đăng đối trên một đường "thần đạo" và được bao bọc bởi hai
dãy hành lang chạy suốt dọc chùa ở hai bên đó là tòa Tiền Đường, Thượng
Điện, Cầu Đá, tòa Tích Thiện Am, Trung Đường, Phủ Thờ, tòa Hậu Đường và
hàng tháp đá.
Sau nhà Hậu Đường bố trí đăng đối theo trục chính và phương pháp xử lý các
khối kiến trúc của công trình đã tạo nên vẻ thâm nghiêm, u tịch cho cảnh chùa.
Sự bố trí chặt chẽ ở khu vực trung tâm này thể hiện tư tưởng về giáo lý của đạo phật,
diễn tiến từ nhận thức suy lý đến thự chành chính nghiệm đã đạt được đến sự giác ngộ và giải
thoát.
Lối kiến trúc này phổ biến trong các chùa làng thế kỷ 17 như chùa Keo, chùa
Thầy và có lẽ bắt đầu từ chùa Phổ Minh ( thế kỷ 13 ). Gọi là kiến trúc “ nội công
ngoại quốc “- trong chữ công ngoài chữ quốc - tức là nhiều lớp nhà cắt ngang một trục dọc nối
liền bởi một nhà cầu, hai bên có hành lang bao bọc. Cách bố trí như vậy luôn quy gọn các
công trình hình chữ nhật có cấu trúc vì kèo bên trong tạo thành một khối lớn. Các lớp nhà có
thể sít nhau, có thể dãn cách để xen kẽ vào đó sân và vườn cảnh, nhưngc hủ yếu do yêu cầu
phân cắt các thành phần của hệ thống tượng Phật bên trong. Không gian luôn có tính chất nửa
đóng nửa mở, nửa hở nửa kín. Thiên nhiên xen kẻ trong công trình nhân tạo. Nhìn bên ngoài
6
thì nhỏ, đi vào thấy rộng và mở mãi vào trong như không cùng làm cho ngôi chùa như rộng
hơn thực tế. Giới hạn ngôi chùa với làng xóm như không quá tách biệt.
Mỗi khi đi qua một công trình kiến trúc là khách hành hương đã bước dần
vào ý đạo. Có thể nói rằng người thiết kế công trình này khi vẽ đồ án xây dựng
đồng thời vạch ra một chương trình tu đạo cho các phật tử. Trong các kiến trúc
của chùa Bút Tháp ta có thể tìm được những bộ phận kiến trúc mang dấu ấn
Trung Hoa một cách đậm nét nhất, đó là hàng lan can bao quanh tòa Thựợng
Điện, lan can cầu đá, rào vây tháp đá Báo Nghiêm, một vài kiến trúc ở tòa
Thượng Điện.
Ngay cả lối bố trí kiến trúc công trình theo kiểu "nội công ngoại quốc" một

đặc biệt mang đậm tính chất nghệ thuật thiền. Tất cả các bức chạm tập trung về
đề tài cỏ cây hoa lá như: sen, cúc, trúc, lan, tùng, các loại động vật như: ngựa,
dê, trâu, khỉ, hổ, cá, cò và những linh vật: rồng, long mã...
Với một tổng thể hài hòa bởi các tòa nhà được kết hợp giữa gỗ và đá tạo cho
chùa Ninh Phúc một vẻ đẹp vừa hoành tráng cá biệt vừa giản dị mà trang
nghiêm và nổi trội lên trong toàn cục đó là tòa nhà Cửu phẩm liên hoa. Nhưng
xung quanh "cối xay gạo" (tòa Cửu phẩm liên hoa) này còn nhiều điều cần bàn
tới về lịch sử và kiến trúc. Đó là một cây tháp gỗ 9 tầng, 8 mặt, có thể quay
tròn quanh một trục. Tháp đặt nhiều pho tượng Phật, Bồ tát và trang trí nhiều
mảng phù điêu lấy đề tài trong Phật thoại.
Theo Bắc Ninh phong thổ tạp kí được viết dưới thời Nguyễn thì chùa Ninh
Phúc từng được tổ thứ 3 phái Trúc Lâm Yên Tử là Huyền Quang đến thăm và
cho dựng tòa Cửu phẩm liên hoa. Nhưng toàn bộ kiến trúc, mỹ thuật, niên đại
và tôn giáo cho các thức giả nhận đoán chùa được dựng vào thế kỷ XVII, tức là
chùa được xây dựng vào giai đoạn tổ Chuyết Chuyết sang lánh nạn ở nước
Nam và được vua Lê chúa Trịnh cùng hoàng thân quốc thích sùng tín mà tòa
Cửu phẩm liên hoa cũng được xây dựng trong các đợt tu tạo.
Cửu phẩm liên hoa là cái tên được dân ta quen gọi theo tên bia là nhà “ Tích
thiện am” .Tòa nhà Cửu phẩm liên hoa cao khoảng 7 mét, với 12 mái cong,
chồng diêm 3 tầng, các hàng cột giữa cao to nâng các tầng trên, cùng với kiểu
thức vì kèo chồng giường tạo nên sự vững chắc, thoáng đãng mà nhẹ nhàng.
Trong nhà là tòa Cửu phẩm liên hoa cao chín tầng, với 32 bức chạm khắc tỉ mỹ
và công phu về nghệ thuật và hàm ý đạo giáo, thể hiện ý nghĩa mỗi tầng là một
cảnh giới siêu thoát. Tín chủ mỗi lần xoay tháp tụng niệm danh Phật thì vãng
sanh tịnh độ, mà được siêu sinh lên thế giới cực lạc, thế giới Di lặc, cõi vô sinh
vô tử siêu thoát Niết bàn. Trong tổng thể kiến trúc, tòa Cửu phẩm liên hoa
mang một vẻ đẹp tượng trưng bởi sự dung hòa các tông giáo, kết hợp Tông
giáo Tịnh độ trong việc thờ Di Lặc, tôn giáo Thiền tông và Tông giáo Mật tông
trong thể nghiệm ý tưởng mà ý nghĩa của nó hiện trên các bức ván chạm trổ.
Như trên đã nói tòa Cửu phẩm liên hoa được dựng từ thời Trần bởi thiền sư

sen, tràng phướn, lọng báu, hoặc có hình rồng phượng, qui, xà chầu bái. Đó là
đất dương cơ ái hổ (nền dương có tay hổ) vậy. Cũng lại nên cưỡi đảo lại (đảo
kị), như là người cưỡi ngựa thì đầu ở phía trước. Nước thì nên chảy quay sang
trái. Nếu đảo kị, thì mạch nước lại vào ở phái trước. Trước mặt có minh đường
hay không có minh đường đều được cả. Phía sau không nên có núi áp kề thế là
9
đất tốt…Nếu được như thế mới có thể hưng hiển được đạo pháp, người trụ trì
nảy sinh trí tuệ, người thí chủ có công đức lớn, phúc ấm đến con cháu. Nếu
không làm như thế thì về sau tất mau chóng đổ nát, không có công đức gì. Cho
nên hãy cẩn thận”. Phải chăng thế đất hình hoa sen này là bông sen nghìn cánh
mà khi đạt tới thì con người sẽ đạt được lậu tận thông, trí sáng suốt vô cùng vô
tận, hiểu biết được tất cả sự huyền bí của vũ trụ.
Chùa nằm trên một khoảng đất rộng bên bờ phải sông Đuống, sát cạnh
đê, ngay chố lượn dòng của con sông mà theo quan niệm thì đó là nơi “ tụ
thủy”- chỗ đất lành. Ngay trong tên gọi của chùa là Ninh Phúc cũng đã ẩn chứa
sự yên lành, tốt phúc. Phong thủy của chùa phản ánh sự kế thừa về truyền thống
xây dựng chùa của người Việt, thể hiện ước vọng sao cho Phật pháp được bền
lâu, nhà tu hành được yên nghiệp, tâm linh sáng suốt để mau chóng đạt được
chứng quả.
2. Cảnh quan môi trường
Kiến trúc chùa được bố trí cân xứng, chặt chẽ ở khu vực trung tâm, nhưng lại
rất tự nhiên vơí cảnh quan xung quanh.
Ngoài Tháp Bảo Nghiêm, chùa còn có tháp Tôn Ðức 5 tầng, cao 10m là nơi
thờ thiền sư Minh Hành, vị tổ thứ hai của chùa. Điều đặc biệt là trên đỉnh tháp
vẫn có cây cỏ phát triển.
Nối giữa Thượng điện (Thế giới Phật Pháp lòng thành được nhận) và Tích
thiên Am (Nơi cầu mong để được siêu thoát) là chiếc Cầu đá cong (Vượt qua
cầu đã cao xa giữ sạch bụi trần) bắc ngang qua hồ nước tinh khiết.Đây là một
tích của nhà Phật – nơi đi qua cửa Phật rũ sạch bụi trần. Bên dưới cầu là hoa
sen, hoa sung thơm ngát, chen giữa màu xanh cây lá là những nhịp cầu đá

3. Kết cấu bộ khung gỗ toà nhà chính và chú thích tên gọi( vẽ kiểu nhà
Bái Đường )
3.1 Kết cấu bộ khung gỗ tòa nhà chính.
• Tam quan
Có kết cấu ba hàng chân, có bẩy ngang, vì chồng rường cánh .
• Gian Bái Đường:
Đây là tòa nhà 5 gian và hai chái. Các bộ vì ở đây có kết cấu bốn hàng chân cột
11
3.2 Bản vẽ kết cấu bộ khung gỗ gian Bái đường và chú thích
4. Mô tả mái ngói, đầu đao, bờ nóc, bờ dải
Trên thực tế không có ai kì công ngồi phân biệt, chia nhóm, sắp xếp cho các
mái đao của chùa bao giờ, cũng không có cái quy chuẩn thống nhất nào cho các
chi tiết của mái đao chùa nhưng có thể tạm phân chia mái đao thành 2 loại dựa
vào thời gian là: mái đao cổ và mái đao hiện đại:
Mái đao cổ là mái đao của những ngôi chùa cổ đã được xây dựng từ vài
trăm năm trở lên, những mái đao này có những nét chung tiêu biểu cho kiến
trúc chùa chiền cổ như: được làm bằng chất liệu gỗ, vật liệu xây dựng cổ;
thường có hình cuộn mây hay rồng; đầu mái đao thường quay vào trong; nét
tạo hình thanh thoát, hài hoà...
Mái đao hiện đại là những mái đao của các ngôi chùa được xây mới gần đây.
nét đặc trưng thường thấy là được xây bằng xi măng, vữa; đầu hướng ra ngoài;
có sự học tập, vay mượn nhiều của các công trình trong và ngoài nước : chi tiết
rườm rà ,…..
Phong cách xây dựng đình, chùa ở Việt Nam chịu ảnh hưởng và có lẽ bắt
nguồn từ cách xây dựng các công trình này của Trung Quốc. Trong những thứ
chịu ảnh hưởng đó thì có cả phần xây dựng các đầu đao ở các góc mái đình,
mái chùa. Tuy có sự "sao chép" nhưng các nghệ nhân Việt Nam xưa đã có sự
"cải tiến", cũng chính ở phần đầu đao này.Có thể thấy là đầu đao "Trung
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status