1
MỤC LỤC
1
2
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
2
3
LỜI MỞ ĐẦU
1.Lí do lựa chọn đề tài.
Qúa trình quốc tế hoá tiếp tục diễn ra với quy mô ngày càng lớn, tốc độ
ngày càng cao trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế thế giới: trong sản
xuất, thương mại đầu tư, tài chính, các hoạt động dịch vụ, trong lĩnh vực giáo
dục đào tạo, văn hoá và lối sống…Thông qua các hoạt động trên các nước xích
lại với nhau hơn, gắn bó với nhau nhiều hơn. Chính điều đó làm cho nền kinh tế
thế giới trở thành một chỉnh thể thống nhất, trong đó mỗi quốc gia là một bộ
phận không tách rời và tuỳ thuộc vào nhau. Sự biến động xảy ra ở bất kỳ nước
nào đó tất yếu sẽ dẫn tới sự tác động tới các quốc gia khác trên thế giới. Đặc
điểm này đặt ra một yêu cầu tất yếu là mỗi quốc gia cần phải mở cửa ra thị
trường thế giới và chủ động tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển
kinh tế đối ngoại để có được một khuôn khổ phù hợp cho sự phát triển.
Nhận thức được vấn đề đó, Đảng và Nhà Nước ta đã thực hiện chính sách
kinh tế mở, hội nhập kinh tế, tiến hành hàng loạt các biện pháp cải cách, đổi mới
nền kinh tế quốc dân để đảm bảo Việt Nam thực hiện thắng lợi đổi mới xây
dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kể từ khi mở cửa, hoạt động
ngoại thương của Việt Nam diễn ra sôi nổi hơn bao giờ hết, trong đó hoạt động
xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng đã góp phần to lớn vào sự đổi
mới đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của hàng
hoá trong nước cũng như đáp ứng đầy đủ hơn nu cầu sản xuất và tiêu dùng.
Vậy phải tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu - một động lực quan trọng để hội
nhập kinh tế. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là: do khả năng tài chính có hạn mà các
doanh nghiệp xuất khẩu không phải lúc nào cũng có đủ tiền để thanh toán hàng
để viết chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu của chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Trên cơ sở xác định bản chất và vai trò của tín dụng ngân hàng ( TDNH )
đối với hoạt động xuất nhập khẩu, đặc biệt là thực trạng hoạt động TDTTXK
của NHNTVN, mục đích nghiên cứu chuyên đề là đưa ra một số giải pháp nhằm
thúc đẩy hoạt động TDTTXK tại NHNTVN.
4
5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là hoạt động TDTTXK tại
NHNTVN.
Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề là: Chuyên đề khảo sát hoạt động
TDTTXK tại NHNTVN từ năm 2003 đến năm 2006.
4. Kết cấu của chuyên đề.
Tên chuyên đề: “ Giải pháp thúc đẩy hoạt động tín dụng tài trợ xuất khẩu
tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam”.
Để đạt được các mục đích trên, ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Lời cam
đoan; Mục lục; Danh mục các bảng số liệu, hình vẽ, chữ viết tắt; Danh mục tài
liệu tham khảo; Phụ lục, thì chuyên đề được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung về hoạt động TDTTXK tại ngân
hàng thương mại ( NHTM ).
Chương 2: Thực trạng và đánh giá hoạt động TDTTXK tại NHNTVN.
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy hoạt động TDTTXK tại NHNTVN.
5
6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT
ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng thương mại ( NHTM ).
Lịch sử hình thành và phát triển của NHTM gắn liền với sự hình thành và
phát triển của nền sản xuất hàng hoá. Qúa trình phát triển kinh tế tạo điều kiện
Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm
sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển
dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay.
Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản
trên cơ sở hoàn trả giữa hai chủ thể.
Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính
cung cấp cho khách hàng. Trong một số ngữ cảnh cụ thể thì thuật ngữ tín dụng
còn đồng nghĩa với thuật ngữ cho vay.
Mục đích cuối cùng là muốn xem tín dụng là một chức năng cơ bản của
ngân hàng. Vì vậy trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng
thì tín dụng được hiểu như sau: “ Tín dụng là một giao dịch về tài sản ( tiền hoặc
hàng hoá) giữa bên cho vay ( ngân hàng và các định chế tài chính khác ) và các
bên đi vay ( cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác ), trong đó bên cho vay
chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo
thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho
bên cho vay khi đến hạn thanh toán ”.
Trong nền kinh tế thị trường , nếu lấy tiêu thức “ chuyển nhượng ” làm
căn cứ để phân chia các hình thức tín dụng thì có hai loại đó là tín dụng thương
mại và tín dụng ngân hàng. Tín dụng thương mại là hình thức cho vay bằng
hàng hoá; Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức
tín dụng khác với các cá nhân và doanh nghiệp.
1.2.1.2. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng.
Xuất phát từ khái niệm tín dụng ngân hàng, tín dụng ngân hàng có một số
7
8
đặc điểm sau:
Thứ nhất, trong quan hệ tín dụng, ngân hàng thể hiện rõ vai trò trung gian
tài chính, là người đứng giữa thực hiện nghiệp vụ huy động vốn từ các chủ thể
có vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế ( ngân hàng là người đi vay ) và sử dụng vốn
đầu tư cho các doanh nghiệp thì ngân hàng lại là người cho vay.
việc cung cấp vốn cho các doanh nghiệp, tín dụng ngân hàng đã góp phần giúp
các doanh nghiệp không những đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn
có thể mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới thiết bị, áp dụng tiến bộ khoa học – kĩ
thuật và công nghệ mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo khả năng và khuyến
khích đầu tư vào các ngành,các lĩnh vực các công trình lớn có ý nghĩa đối với
quốc kế dân sinh.
Hơn nữa hoạt động tín dụng ngân hàng còn tạo điều kiện để duy trì mối
liên hệ hữu cơ giữa sản xuất, lưu thông hàng hoá và tiêu dùng xã hội. Nó làm
cho lưu thông hàng hoá mở rộng thị trường trong và ngoài nước.
Hiện nay, khoa học – kĩ thuật và công nghệ phát triển, bùng nổ như vũ
bão, chu kì sản phẩm ngày càng rút ngắn lại thì tín dụng ngân hàng càng trở nên
quan trọng hơn. Nhờ nguồn vốn tín dụng của ngân hàng mà doanh nghiệp có thể
tiếp cận được với những công nghệ tiên tiến, hiện đại, từ đó giúp các nước đang
và chậm phát triển có thể thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước với chiến lược đi tắt đón đầu.
Như vậy, tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát
triển nhanh chóng là điều không thể phủ nhận.
1.2.2.2. Tín dụng ngân hàng đóng vai trò tích cực thúc đẩy quá trình tích tụ và
tập trung sản xuất.
Trong nền kinh tế mở, các doanh nghiệp phải đối đầu với sự cạnh tranh
ngày càng gay gắt. Họ không chỉ cạnh tranh với các nhà sản xuất trong nước mà
còn phải cạnh tranh với đối thủ nước ngoài. Để chiến thắng trong cạn tranh, các
doanh nghiệp phải có tiềm lực tài chính mạnh để thực hiện các hoạt động như
đổi mới dây chuyền công nghệ, mua sắm nguyên vật liệu, nâng cao chất lượng
sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm…Do vậy các doanh nghiệp có tiềm lực tài
chính thường có nhiều lợi thé hơn, và họ có nguồn vốn lớn nên có thể dễ dang
mở rộng sản xuất kinh doanh và chiếm lĩnh thị trường. Kết quả là các công ty
9
10
lớn càng lớn mạnh hơn,và các doanh nghiệp nhỏ do không đủ khả năng cạnh
hệ thống ngân hàng.
Mặt khác, tín dụng ngân hàng thực hiện điều hoà nguồn vốn, phân phối
lại vốn trong xã hội. Đây chính là chức năng phân phối của tín dụng ngân hàng.
Nó biểu hiện ở cơ chế “ hút ” và “đẩy ” được thực hiện thông qua nhiệm vụ huy
động vốn cho vay (thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi, phân tán trong xã hội ) và
nhiệm vụ cho vay (để đẩy vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng )
hoặc thông qua thị trường liên ngân hàng. Dù dưới hình thức nào thì việc điều
hoà vốn của tín dụng ngân hàng làm cho xã hội bớt được thừa vốn ở nhiều nơi
thừa vốn và giảm khó khăn ở những nơi thiếu vốn, đồng thời làm cho phát triển
tốc độ luân chuyển hàng hoá và tiền vốn, giảm tình trạng phải phát hành thêm
tiền, khắc phục tình trạng lạm phát tiền tệ, từ đó góp phần ổn định lưu thông tiền
tệ, ổn định giá cả. Tất cả những tác động đó của tín dụng ngân hàng đều giúp tiết
kiệm một lượng lớn lưu thông trong xã hôi.
1.2.2.4. Tín dụng ngân hàng góp phần thực hiện chính sách xã hội và là phương
tiện để Nhà Nước thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Thông qua tín dụng ngân hàng , Nhà nước tài trợ cho các đối tượng chính
sách xã hội như học sinh, sinh viên, các hộ nông dân nghèo, các hộ sản xuất, các
ngành nghề thủ công truyền thống bằng quỹ. Tính dụng ngân hàng là công cụ
quan trọng trong việc tổ chức đời sống dân cư. Dân cư sử dụng tín dụng để tiết
kiệm, tăng dự trữ của cải và cũng thông qua tín dụng để cải thiện nâng cao mức
sống.
Ngoài ra, tín dụng ngân hàng là công cụ để cân đối thu chi ngân sách của
Nhà Nước và góp phần điều chỉnh lượng tiền cung ứng trong lưu thông, bảo
đảm sự cân đối tiền hàng, giữ cho tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý và
kiểm soát thị trường giá cả và sức mua của đồng tiền. Nó cũng là phương tiện
được dùng để tài trợ cho các ngành, lĩnh vực kinh tế mũi nhọn vươn ra thị
trường nước ngoài, nâng cao mức độ cạnh tranh của nền kinh tế.
1.3. Tổng quan về hoạt động tín dụng ngân hàng tài trợ xuất
khẩu(TDTTXK ).
11
12
13
cho họ có thể thực hiện các hợp đồng thương mại quốc tế lớn. Với sự bảo lãnh
của ngân hàng các doanh nghiệp nhập khẩu nước ngoài loại bỏ được những lo
ngại đối với doanh nghiệp xuất khẩu ( về uy tín, khả năng thực hiện hợp đồng ),
và doanh nghiệp xuất khẩu sẽ không bị bỏ lỡ cơ hội kinh doanh tốt. Nếu doanh
nghiệp có hối phiếu hay các chứng từ có giá trong tay có thể đưa đến ngân hàng
để chiết khấu . Ngân hàng sẽ mua lại bộ chứng từ và có quyền đòi nhà nhập
khẩu theo hối phiếu và các giấy tờ đó.
Như vậy, do trình độ kỹ thuật nghiệp vụ ngày càng phát triển, các phương
thức thanh toán quốc tế ngày càng đa dạng thì hoạt động TDTTXK cũng phát
triển mạnh với sự ra đời của nhiều hình thức, phục vụ tích cực và có hiệu quả
cho hoạt động xuất khẩu.
1.3.2. Vai trò của tín dụng tài trợ xuất khẩu.
Nếu xét hoạt động TDTTXK trên từng giác độ của ngân hàng, của doanh
nghiệp và của nền kinh tế thì chúng ta sẽ thấy vai trò quan trọng của nó được
biểu hiện rõ nét.
1.3.2.1. Đối với nền kinh tế đất nước.
TDTTXK góp phần làm tăng trưởng kinh tế đất nước cả về mặt lượng và
chất. Thông qua việc huy động vốn và cho vay, tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu
nói chung và TDTTXK nói riêng tác động trực tiếp đến quan hệ tích luỹ - tiêu
dùng và đầu tư - tiết kiệm, góp phần quan trọng vào khai thác các nguồn lực xã
hội nhằm thực hiện GDP thực tế cân bằng GDP tiềm năng, từ đó tác động đến
tăng trưởng kinh tế. Đối với các nước đang phát triển thì tốc độ công nghiệp hoá
- hiện đại hoá phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Đặc biệt là đối với các dự án,
chương trình lớn phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu, cần nhập khẩu thiết bị
công nghệ mới, hiện đại, nguồn vốn tài trợ xuất khẩu thường chiếm từ 70% -
80% tổng mức vốn đầu tư. Bằng cơ chế lãi suất ưu đãi và nguồn trung – dài hạn,
ngân hàng có thể tập trung cho các dự án này nhằm đẩy mạnh tốc độ công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
quốc tế - điều này giúp doanh nghiệp nhập khẩu sẽ an tâm hơn và tin vào khả
năng thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp xuất khẩu. Như vậy TDTTXK là giải
14
15
pháp giúp doanh nghiệp thực hiện được các hợp đồng (đặc biệt là các hợp đồng
có giá trị lớn với các doanh nghiệp nhập khẩu có uy tín).
Ngoài ra, TDTTXK còn làm tăng hiệu quả của doanh nghiệp trong quá
trình thực hiện hợp đồng. Thông qua nguồn vốn tài trợ của ngân hàng, doanh
nghiệp có thể mua hàng đúng thời vụ, gia công, chế biến, sản xuất và giao hàng
đúng thời điểm, thương vụ được thực hiện trôi chảy, từ đó nâng cao sức cạnh
tranh của doanh nghiệp trên thị trường thế giới.
1.3.2.3. Đối với ngân hàng thương mại.
TDTTXK của NHTM là hình thức tài trợ thương mại, kỳ hạn gắn liền với
thời gian thực hiện thương vụ, đối tượng tài trợ là các doanh nghiệp xuất khẩu
trực tiếp hoặc uỷ thác. Gía trị tài trợ thường ở mức vừa và lớn. Tài trợ của ngân
hàng trong lĩnh vực xuất khẩu là hình thức cho vay mang lại hiệu quả cao, an
toàn, đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích và thời gian thu hồi vốn nhanh,bởi vì:
Đồng vốn ngân hàng tài trợ cho doanh nghiệp xuất khẩu gắn liền với
thương vụ. Trong nhiều trường hợp, vốn tài trợ được thanh toán thẳng cho bên
thứ ba, mà không qua bên xin tài trợ, như: thanh toán tiền hàng nhập khẩu, thanh
toán tiền nguyên vật liệu cho các đại lý gom hàng cho người xuất khẩu…Rõ
ràng việc làm này tránh được tình trạng người xin tài trợ sử dụng vốn sai mục
đích, hạn chế được rủi ro tín dụng.
Đối với TDTTXK ngắn hạn, thi thời gian tài trợ gắ liên với thời gian thực
hiện thương vụ. Thời gian thực hiện thương vụ đối với người xuất khẩu là thời
gian kể từ lúc gom hàng xuất đi cho đến lúc nhận được tiền thanh toán của
người mua. Kỳ hạn tài trợ ngắn phù hợp với kỳ hạn huy động vốn của các
NHTM thường là dưới một năm. Điều này giúp ngân hàng tránh được rủi ro về
thanh khoản.
TDTTXK nâng cao tính an toàn cho ngân hàng thông qua việc quản lý thu
cam kết sẽ thay mặt khách hàng của mình thực hiện thanh toán cho người hưởng
( người bán / người xuất khẩu ) thông qua một ngân hàng thứ hai một số tiền
nhất định trong mộ khoảng thời gian nhất định trên cơ sở xuất trình bộ chứng từ
theo yêu cầu phù hợp với các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng.
16
17
Như vậy, L/C không những là công cụ thanh toán, công cụ bảo đảm thanh
toán mà còn là công cụ tín dụng. Đây là công cụ được các ngân hàng sử dụng
phổ biến hiện này để thực hiện tài trợ xuất nhập khẩu. Đối với việc tài trợ xuất
khẩu theo L/C thí được thể hiện qua các hình thức sau:
• Cho vay thực hiện hàng xuất theo L/C đã mở.
Khi nhận được L/C do ngân hàng mở L/C phát hành theo yêu cầu của nhà
nhập khẩu, nhà xuất khẩu có thể dựa vào đó để để nhờ ngân hàng phục vụ mình
cấp một khoản tín dụng để thực hiện xuất hàng theo L/C quy định. Trên cơ sở
L/C đã được chấp nhận ngân hàng có thể cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu để tiếp
tục sản xuất , nghĩa là sẵn sàng chấp nhận chiết khấu các hối phiếu của L/C này.
Đối với L/C trả chậm cũng được sử dụng như một phương tiện đ vay. Nhà
xuất khẩu có thể nhận được tiền dưới dạng tín dụng chuyển nhượng toàn bộ
quyền thụ hưởng L/C cho ngân hàng cấp phát tín dụng, đặc biệt thuận lợi hơn
khi đó là L/C trả chậm có xác nhận.
• Cho vay chiết khấu hoặc ứng trước chứng từ hàng xuất khẩu: để đáp ứng
nhu cầu vốn, nhà xuất khẩu sau khi giao hàng có thể thương lượng với ngân
hàng, thực hiện chiết khấu toàn bộ chứng từ hoặc ứng trước tiền khi bộ chứng từ
được thanh toán.
- Chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất là hình thức ngân hàng tài trợ nhà
nhập khẩu thông qua việc mua lại hoặc cho vay trên cơ sở giá trị bộ chứng từ
xuất khẩu hoàn hảo được người xuất khẩu trình. Có hai hình thức chiết khấu:
+ Chiết khấu miễn truy đòi ( chiết khấu đóng ): ngân hàng mua lại bộ
chứng từ xuất khẩu hoàn hảo của nhà xuất khẩu. Gía mua sẽ thấp hơn giá trị bộ
chứng từ, do ngân hàng tính trừ lại phí chiết khấu và thời gian cần thiết trung
cấp tín dụng ứng trước. Một khi những giấy tờ có giá trị trên không cho phép
chuyển nhượng thì người vay vốn phải sử dụng những hình thức thế chấp khác.
Mức độ cấp vốn ứng trước phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu.
+ Khả năng cạnh tranh của hàng hoá và giá trị của hàng hoá dự kiến.
+ Chính sách kinh tế và chính sách chính trị của nước nhập khẩu đối với
18
19
ngân hàng nhà xuất khẩu.
+ Những rủi ro về tỉ giá hối đoái.
- Tín dụng ứng trước dưới hình thức mua lại bộ chứng từ thanh toán:
Sau khi hoàn tất nghĩa vụ xuất chuyển hàng hoá cho người mua, người xuất
khẩu lập bộ chứng từ thanh toán, lúc này nhà xuất khẩu có toàn quyền sở hữu bộ
chứng từ thanh toán này. Đồng thời ở họ xuất hiện nhu cầu bù đắp vốn để tiếp
tục quá trình kinh doanh trong khoảng thời gian xuất chuyển hàng đến khi nhà
nhạp khẩu chấp nhận bộ chứng từ và đồng ý trả tiền. Trong trường hợp như vậy,
nhà xuất khẩu có thể đem bán bộ chứng từ thanh toán này cho ngân hàng. Việc
ngân hàng mua lại bộ chứng từ thanh toán này tức là đã chấp nhận cấp một
khoản tín dụng cho nhà xuất khẩu. Trị giá khoản tín dụng ứng trước này phụ
thuộc vào trị giá bộ chứng từ, loại hàng hoá mua bán thể hiện trên chứng từ,…
Thông thường các ngân hàng mua với giá khoảng 70 – 80% trị giá bộ chứng từ.
Ngân hàng vẫn có quyền truy đòi đối với nhà xuất khẩu khi bộ chứng từ gửi đi
không thu được tiền.
1.3.3.2. Tài trợ trong khuôn khổ phương thức nhờ thu kèm chứng từ.
So với tín dụng chứng từ, nhờ thu ít được sử dụng hơn trong thanh toán vì
đây là phương thức thanh toán có lợi cho bên mua. Từ lúc gửi các chứng từ tới
ngân hàng
( ngân hàng bên nhà xuất khẩu ) cho tới khi xuất trình với người thanh toán có
thể mất một khoảng thời gian nhất định. Đối với các doanhnghiệp xuất khẩu,
thông thường buôn bán hàng hoá từ dầu tới cuối có thể cần đến một khoản tín
định như sau:
T
CK
= M
Pt
L
CK
−
×+
3600
1
Trong đó: T
CK
: giá trị chiết khấu.
M : mệnh giá hối phiếu.
L
CK
: lãi suất chiết khấu ( theo năm ).
T : thời gian chiết khấu ( theo ngày ).
P : lệ phí.
Khi kết thúc thời hạn chiết khấu, ngân hàng sẽ đòi tiền ở người có nhiệm
vụ trả tiền hối phiếu.
• Chấp nhận hối phiếu ( Banker
’
bồi thường cho khách hàng khi có tổn thất xảy ra. Sự tín nhiệm tài chính này lớn
hay nhỏ hoàn toàn phụ thuộc vào địa vị, uy tín và độ tín nhiệm của ngân hàng
21
22
như thế nào. Khi bảo lãnh cho khách hàng, ngân hàng chỉ cho vay trừu tượng,
nghĩa là ngân hàng không bỏ ra một khoản vốn nào cả, mà chỉ lấy uy tín, danh
dự của ngân hàng ra cho vay, làm cơ sở cho vay và thu phí bảo lãnh. Khi nhà
xuất khẩu không giao hàng hay giao hàng không đủ, không đúng, vi phạm hợp
đồng thì nhà nhập khẩu có thể yêu cầu ngân hàng thanh toán bảo lãnh. Bảo lãnh
ngân hàng là nhằm ngăn chặn những rủi ro có thể phát sinh trong các dịch vụ
mua bán không thường xuyên, đồng thời bù đắp những thiệt hại về mặt tài chính
cho người thụ hưởng một cách nhanh chống và chắc chắn.
1.3.3.5. Một số hình thức tín dụng tài trợ xuất khẩu khác.
• Tín dụng bao thanh toán ( Factoring ).
Đây là hình thức tài trợ đặc biệt dành cho nhà xuất khẩu, ngân hàng sẽ
mua lại các chứng từ thanh toán, các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán để trở
thành chủ nợ trực tiếp đứng ra đòi nợ nhà nhập khẩu ở nước ngoài. Hiện nay
trên thế giới nghiệp vụ bao thanh toán được thực hiện tại các ngân hàng hoặc
thành lập ra các công ty riêng gọi là công ty Factoring chuyên mua lại các khoản
nợ. Thông thường người mua lại các khoản phải thu phát sinh từ những hợp
đồng xuất khẩu gọi là người bao thanh toán (nhà Factor ), và người bán là người
nhượng. Như vậy, nhà Factor sẽ giữ trọn bộ chứng từ của nhà xuất khẩu, họ sẽ
phụ trách toàn bộ việc quản lý và theo dõi tiến độ thu nợ, xử lý các hoá đơn và
theo dõi việc thanh toán tiền hàng xuất khẩu khi đến hạn. Ngay sau khi nhận
được hoá đơn của nhà xuất khẩu, nhà Factor sẽ thanh toán ngay cho nhà xuất
khẩu một tỷ lệ % trị giá hoá đơn ( thường từ 75% - 85% ), phần còn lại sẽ được
cam kết thanh toán sau một thời hạn nhất định ( sau khi trừ đi các chi phí, lãi
suất và hoa hồng ). Tuỳ theo tính chất hoàn hảo của chứng từ, tình hình tài chính
và khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu mà ngân hành quyết định tỷ lệ mua
nợ cao hay thấp đối với nhà xuất khẩu. Có hai loại:
ngắn để sử dụng vào mục đích tạm thời. Mọi rủi ro và lợi ích đem lại đối với
quyền sở hữu tài sản cho thuê vẫn thuộc người cho thuê.
So với hình thức cho vay truyền thống, hình thức thuê mua này có ưu
điểm sau:
23
24
- Các doanh nghiệp sẽ không phải bỏ tiền mua thiết bị ngay lập tức mà
trả tiền thuê thiết bị theo định kỳ, tạo điều kiện cho các doanh nghiẹp chủ động
hơn về vốn để tập trung sản xuất. Hình thức này có ý nghĩa nhất đối với doanh
nghiệp không đủ vốn nhưng vẫn có thể đi thuê thiết bị để sản xuất và dùng một
lợi thu được từ tài sản để trả tiền thuê định kỳ.
- So với đi vay ngân hàng, việc thế chấp để được thuê máy móc thiết bị
đơn giản hơn nhiều do thiết bị thuê thộc quyền sở hữu của bên cho thuê trong
suốt thời gian thuê, nên khi bên thuê không trả được nợ, bên cho thuê có thể láy
lạitoàn bộ tài sản cho thuê. Ngày nay các ngân hàng thường lập công ty tài chính
riêng để hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp và làm phong phú thêm hoạt động của
mình.
1.3.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng tài trợ xuất khẩu.
Hoạt động TDTTXK của ngân hàng chịu ảnh hưởng rất nhiều yếu tố khác
nhau. Muốn thúc đẩy hoạt động TDTTXK phát triển thì ngân hàng phải xác định
được yếu tố nào tác động nhiều đến ngân hàng và mức độ ảnh hưởng đó như thế
nào. Nếu lấy ngân hàng làm ranh giới, thì các yếu tố này có thể được chia thành
các yếu tố bên trong ngân hàng và các yếu tố bên ngoài ngân hàng.
1.3.4.1. Các yếu tố bên trong ngân hàng.
Nhóm yếu tố này bao gồm các vấn đề liên quan đến mô hình tổ chức
quản lý của ngân hàng, trình độ nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ tín dụng,
năng lực tài trợ của ngân hàng,….Những yếu tố này mạnh hay yếu sẽ đòi hỏi
các nhà quản trị của ngân hàng phải tìm ra hình thức tổ chức, sắp xếp sao cho
phù hợp với năng lực hiện có của ngân hàng.
• Mô hình tổ chức quản lý và các quy trình nghiệp vụ.
Với thực tiễn môi trường kinh doanh cạnh tranh hiện tại: các yếu tố trên
rất quan trọng. Để thực hiện Hiệp định thương mại Việt – Mĩ và gia nhập WTO,
các ngân hàng nước ngoài, đặc biệt là các ngân hàng Mĩ sẽ được nới lỏng các
quy định về hoạt động của ngân hàng nước ngoài, cho phép cung cấp các dịch
vụ mà ngân hàng nước ngoài hơn hẳn các NHTM Việt Nam về công nghệ, trình
độ quản lý thanh toán quốc tế, tài trợ xuất nhập khẩu…, được phép tái cấp vốn
25