ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THUỲ HƢƠNG
PHƢƠNG PHÁP GIẢNG DẠY “NHẬT KÝ TRONG TÙ”
CỦA HỒ CHÍ MINH THEO ĐẶC TRƢNG THỂ LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học
(Bộ môn Ngữ văn)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. TRẦN KHÁNH THÀNH
HÀ NỘI – 2010
KÍ HIỆU VIẾT TẮT
GD
Giáo dục
GV
Giáo viên
HS
1.3. Nhật kí trong tù nhìn từ đặc trƣng thể loại ……………….……….........20
1.3.1. Đặc trƣng kí…………………………………………………………...20
1.3.2.Đặc trƣng thơ ………………….............................................................25
1.3.3. Nhật kí trong tù là một tác phẩm kí ………….………….……………28
1.3.4. Nhật kí trong tù là một tác phẩm thơ……………………………….…33
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƢỚNG GIẢNG DẠY NHẬT
KÍ TRONG TÙ Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG………........39
2.1. Thực trạng giảng dạy Nhật ký trong tù trong chƣơng trình
Ngữ văn THPT................................................................................................39
2.1.1. Vị trí của Nhật ký trong tù trong chƣơng trình Ngữ văn THPT……………39
2.1.2. Những thuận lợi – khó khăn…………………………………………..41
2.1.3. Thực trạng giảng dạy Nhật ký trong tù ở trƣờng THPT ………….….43
2.2. Định hƣớng giảng dạy Nhật ký trong tù ở trƣờng THPT …………..….48
2.2.1. Hƣớng khai thác từ đặc trƣng ký ………………………………...…..48
2.2.2. Hƣớng khai thác từ đặc trƣng…...........................................................54
2.2.3. Hƣớng khai thác từ đặc trƣng thơ Đƣờng luật ……….........................63
Chƣơng 3 : ĐỀ XUẤT PHƢƠNG PHÁP GIẢNG DẠY NHẬT KÍ
TRONG TÙ Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ……………...67
3.1. Đề xuất phƣơng pháp …………………………………………….......67
3.1.1. Đề xuất phƣơng pháp giảng dạy văn bản Chiều tối ở trƣờng THPT…….64
3.1.2. Đề xuất phƣơng pháp giảng dạy văn bản Lai Tân ở trƣờng THPT ....73
3.2. Thiết kế giáo án thể nghiệm ……………………………………………77
3.2.1. Giáo án thể nghiệm bài thơ Chiều tối …………………………..……77
3.2.2. Giáo án thể nghiệm bài thơ Lai Tân …………………………....……94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ……………………………………....109
1. Kết luận……………………………………………………………….…109
2. Khuyến nghị………………………………………………………..……111
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………..……112
1
tác phẩm văn chương qua dẫn dắt của người thầy. Ngay cả khi giáo viên đưa
ra những tình huống có vấn đề để người học tìm tòi tự khám phá, lĩnh hội tri
thức thì cũng chỉ nhận lại những ánh mắt “vô cảm” nơi các em. Hoặc những
vấn đề cần thảo luận học sinh làm việc theo nhóm, nói lên suy nghĩ, cách nhìn
nhận của mình về vấn đề, rồi từ đó khái quát vấn đề - một phương pháp học
tập rất tích cực nhưng chỉ một số rất ít học sinh là thực sự làm việc, hoạt động
nhóm số còn lại đều có tâm lý và hành động ỷ vào những người trong nhóm,
tham gia một cách chiếu lệ thậm chí có những em không tham gia. Từ đó,
hiệu quả của việc đổi mới chưa phát huy hết những tác dụng của nó. Không ai
phủ nhận tầm quan trọng ý nghĩa và tính cấp bách của việc đổi mới phương
pháp dạy học nhưng để biến nó thành hiện thực không phải là chuyện có thể
hoàn thành trong một sớm một chiều. Bởi một chủ trương mới dù tiến bộ đến
đâu, khi đi vào thực tế cũng vấp phải những khó khăn. Tuy nhiên hệ thống
giáo dục trung học phổ thông của nước ta hiện nay để vươn tới, đuổi kịp và
hoà nhập với xu thế phát triển giáo dục trung học trên thế giới, trước hết là
các nước trong khu vực thì vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đã trở thành
một đòi hỏi bức thiết, không thể trì hoãn.
1.2. Môn Văn trong nhà trường phổ thông có vị trí và thế mạnh riêng. Môn
Văn giúp người học tiếp xúc với vẻ đẹp kì diệu và phong phú của tiếng mẹ
đẻ, tiếp xúc với vốn văn hóa tri thức của dân tộc và nhân loại kết tinh trong tác
phẩm văn chương. Vì vậy môn Văn trang bị kiến thức, bồi dưỡng tâm hồn và
góp phần hình thành, phát triển nhân cách học sinh. Tuy nhiên, dạy học văn
như thế nào để phù hợp với bản chất của văn học và đạt được có hiệu quả vẫn
đang là vấn đề cần giải quyết từ lý luận đến thực tiễn. Theo ý kiến của viện sĩ
Sec-bi-na “Vấn đề dạy học văn trong nhà trường quả là một vấn đề cực kì phức
tạp... Quá trình dạy học văn là một quá trình phức hợp đan kết nhiều quá trình
kì tác phẩm văn học nào cũng đều tồn tại trong một dạng thức nhất định. Đó
là sự thống nhất mang tính chỉnh thể của một loại nội dung với những phương
thức biểu đạt và hình thức tổ chức tác phẩm, tổ chức lời văn. Thể loại văn học
3
chính là sự phân chia loại hình tác phẩm theo những căn cứ nêu trên. Thể loại
văn học là sự thống nhất giữa một loại nội dung với một dạng hình thức văn
bản và phương thức tái hiện đời sống. Học và phân tích một tác phẩm văn học
càng không thể không quan tâm đến đặc điểm thể loại của tác phẩm ấy. Bởi vì
thể loại chính là cơ sở tạo nên tính thống nhất chỉnh thể của một tác phẩm, tổ
chức liên kết các yếu tố nội dung và hình thức, từ đề tài, chủ đề, cảm hứng
đến hệ thống nhân vật, kết cấu và lời văn nghệ thuật. Thể loại không những
qui định cách thức tổ chức tác phẩm mà còn định hướng cho việc tiếp nhận
của độc giả, tạo nên kênh giao tiếp giữa tác phẩm và người đọc. Thể loại của
tác phẩm vừa có tính kế thừa, tính liên tục, lại vừa có tính độc đáo, tính biến
đổi do sự sáng tạo của tác giả. Vì thế, phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể
loại không chỉ dừng lại ở đặc điểm chung của một thể loại thể hiện trong tác
phẩm mà còn cần phải chỉ ra nét riêng biệt, độc đáo, thể hiện sự sáng tạo
không lặp lại của tác giả mà Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh là tác phẩm
tiêu biểu.
Với mong muốn tìm hiểu cái hay, cái đẹp trong thơ Hồ chủ tịch cùng
với sự day dứt băn khoăn về hiệu quả tiếp nhận tác phẩm văn chương của học
sinh ở trường trung học phổ thông, tôi quyết định chọn đề tài “Phƣơng pháp
giảng dạy Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh theo đặc trƣng thể loại” với
mong muốn góp phần nâng cao khả năng chuyên môn nghiệp vụ của giáo
viên, kích thích sự hứng thú và phát triển năng lực cảm thụ văn chương của
học sinh trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông.
2. Lịch sử vấn đề
điển, giọng điệu – bút pháp đa dạng. Ông cho rằng: “Nghiên cứu Nhật kí
trong tù là đi sâu vào thế giới tâm hồn của Hồ Chí Minh. Nếu không chú ý tới
nhũng đặc trưng nói trên cảu tác phẩm thì e rằng thế giới ấy không chịu mở
hẳn ra với các nhà nghiên cứu”
- “Thơ Bác với thơ Đường” của tác giả Phương Lựu cho thấy sự đổi mới
trong thơ chữ Hán của Bác đói với hình thức Đường thi.
-
Bài viết “Ngục trung nhật kí, bức tranh thu nhỏ của một chế độ, nhạt kí
của một tâm hồn tuyệt đẹp” của Huỳnh Lý tập trung khai thác Ngục trung
5
nhật kí trên hình thức là một tập nhật kí ghi sự việc Bác đã sống, đã tham gia
hay chứng kiến…
-
Công trình nghiên cứu “Các thước đo thời gian của Nhật kí trong tù”
(Phùng Văn Tửu) nhấn mạnh ý niệm thời gian trong Nhật kí trong tù trong đó
chỉ ra tính chất kí của tác phẩm.
-
Ngoài ra còn một số bài viết nghiên cứu về tác phẩm thơ Nhật kí trong tù
như bài viết của Trần Khánh Thành về bài thơ “Chiều tối” in trong cuốn
Giảng văn văn học Việt Nam – NXB Giáo dục 1997 đã đề cập tới đặc trưng
thể loại của Nhật kí trong tù ở cả hai phương diện thơ và kí; bài viết của Vũ
trong chương trình ngữ văn Trung học phổ thông.
4.3. Phạm vi khảo sát: 2 tác phẩm Chiều tối và Lai tân
5. Giả thuyết khoa học
Nếu đổi mới phương pháp dạy tác phẩm thơ Nhật kí trong tù theo đặc
trưng thể loại sẽ góp phần nâng cao năng lực đọc hiểu và cảm nhận tác phẩm
thơ trong trường THPT nói chung và tác phẩm thơ Nhật kí trong tù nói riêng.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tham khảo các tài liệu giáo trình có nội
dung liên quan đến đề tài.
- Phương pháp điều tra quan sát: Thông qua việc dự giờ thăm lớp, qua thực tế
dạy học.
- Phương pháp nghiên cứu từ đặc điểm thi pháp học.
- Phương pháp tổng kết và đúc rút kinh nghiệm.
7. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn đã chỉ ra thực trạng của việc giảng dạy và học tập văn bản thơ Nhật
kí trong tù, từ đó đề xuất đổi mới phương pháp dạy học 2 tác phẩm Chiều tối
và Lai Tân, giúp giáo viên và học sinh có thêm những gợi mở cần thiết khi
dạy học những tác phẩm này.
7
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ
lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2: Thực trạng giảng dạy văn bản thơ Nhật ký trong tù ở trường THPT.
Chương 3: Những đề xuất về phương pháp dạy Nhật ký trong tù ở trường THPT.
8
9
Vấn đề đổi mới PPDH là vấn đề hết sức cần thiết trong nhà trường, đổi
mới để dáp ứng yêu cầu xã hội. Những năm gần đây việc đổi mới PPDH ở
nhà trường nói chung, môn Ngữ văn nói riêng luôn được sự chú ý quan tâm
của các trường phổ thông đồng thời cũng là mục tiêu hướng tới của mỗi giáo
viên Ngữ văn hiện nay.
Đổi mới PPDH là điều tất yếu, là con đường đi rất khoa học. Giao việc cho
học sinh cũng là một trong những phương pháp học tập nhằm phát huy tính tích
cực, chủ động của học sinh. Học sinh học tập mang tính cá thể hóa cao, có cơ
hội được tự học, tự khám phá, tìm tòi bộc lộ được những suy nghĩ cảm xúc của
mình, tính độc lập trong học tập có tác dụng cao tạo tiền đề định hướng cho ý
thức tự lập, tự đáp ứng trước đòi hỏi của cuộc sống không đơn giản.
Giáo viên giao việc hợp lí sẽ thể hiện được vai trò chủ động về kiến thức
trong bài giảng. Học sinh được thể hiện mình trước tập thể một cách tự tin.
Giao việc phù hợp sẽ thực hiện được sự đổi mới trong cách thiết kế bài dạy là
tổ chức tốt các hoạt động học tập trong một giờ đọc hiểu văn bản, từ đó thầy
mới chủ động tổ chức cho học sinh lĩnh hội tri thức, trò mới chủ động tiếp thu
kiến thức.
Hàng loạt các hình thức giao việc đa dạng, phong phú của thầy sẽ phát
triển năng lực học tập của học sinh, tạo tình huống để học sinh chủ động, tích
cực học tập, tham gia vào bài học. Điều đó là vô cùng cần thiết.
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, việc đổi mới phương
pháp học tập phát huy tính tích cực của học sinh trong các trường phổ thông
còn có nhiều điều cần phải suy nghĩ.
Thực tế cho thấy: học sinh chưa chăm, học hành chỉ mang tính chất gò
ép, miễn cưỡng. Có em có thói quen dựa vào thầy vào bạn, thiếu năng động,
nói theo làm theo, bắt chước một cách máy móc.
11
trong thời kì Người bị bọn Quốc dân Đảng bắt giữ và trải qua 13 tỉnh huyện
tỉnh Quảng Tây Trung Quốc. Bài thơ đầu “Thân thể ở trong lao, Tinh thần ở
ngoài lao, Muốn nên sự nghiệp lớn, Tinh thần càng phải cao” có thể coi như
một lời đề từ cho cả tập thơ. Khai quyển là bài số 1 mở đầu tập Nhật kí trong
tù và kết luận là bài số 133. Ở trang kết thúc Nhật kí trong tù có đề ngày tháng
29/08/1942 – 10/ 09/1943.
1.2.2.Giá trị nội dung
Trước hết, Nhật kí trong tù cho chúng ta hiểu về một tâm hồn vĩ đại – Hồ
Chí Minh. Nó không phải là một lời thanh minh, lời cảm khái về thân phận
long đong cực khổ của một người tù. Và giá trị của nó có lẽ cũng không phải
ở chỗ được một biểu tượng lớn của người Việt Nam và một phần nhân loại ở
thế kỉ XX: hình tượng người tù, hình tượng người lưu đày. Nhật kí trong tù đã
tố cáo cái tính chất phi lí, bất công vốn là nét bản chất của chế độ xã hội thối
nát Tưởng Giới Thạch. Âm hưởng tố cáo vang lên mạnh mẽ, sắc sảo trong
những bài thơ mang giọng điệu hài hước, châm biếm (Cái cùm, Quán trọ,
Tiền đèn, Tiền vào nhà giam, Đánh bạc, Mới đến nhà lao Thiên Bảo…), lên
án cái chế độ nhà tù mọt ruỗng, thối nát và tàn bạo kiểu phong kiến trung cổ
phương Đông. Nhưng giá trị chính của Nhật kí trong tù là những bài học lớn,
những tình cảm lớn của một tâm hồn vĩ đại, một trí tuệ sắc sảo của “bậc đại
nhân, đại trí, đại dũng”. Tìm hiểu Nhật kí trong tù, cái tòa nhà bằng ngôn ngữ
vẵng chắc và đẹp, người ta có cảm giác như mỗi bước đi đều chạm vào gốc rễ
sâu xa của một trong những con người kì diệu ít có, những con người như
những tảng đá lớn làm nền cho nhân loại, những con người qua cuộc đời mình
đã dạy cho mọi người hiểu rằng đối với con người không đỉnh cao nào là
không thể đạt tới . Nhật kí trong tù thể hiện sự bình tĩnh, ung dung thanh thản
của một chiến sĩ đã hơn nửa đời người chịu đựng mọi gian khổ, mọi khó khăn
biện chứng của lịch sử. Trong nhà tù bị đọa đầy, bị xiềng xích, mà nhà thơ
vẫn vui đùa, vẫn giữ một phong thái ung dung tự tại:
13
“Hôm nay xiềng xích thay dây trói,
Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung;
Tuy bị tình nghi là gián điệp,
Mà như khanh tướng vẻ ung dung”
(Đi Nam Ninh)
Trong tập Nhật kí trong tù, sức mạnh của lí tưởng cộng sản, của niềm tin và
khí phách đã tạo cho người chiến sĩ một thế đứng cao hơn hẳn cái hiện thực đen
tối đó. Vì thế câu thơ của Hồ Chí Minh lạc quan, ung dung, thanh thản lạ
thường. Ở đây cũng thể hiện sự chiến thắng của sức mạnh tinh thần với sức
mạnh vật chất:
“Đáp thuyền thẳng xuống huyện Ung Ninh
Lủng lẳng chân treo tựa giảo hình
Làng xóm ven sông đông đúc thế
Thuyền câu rẽ sóng nhẹ tênh tênh”.
(Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh)
Ở Nhật kí trong tù còn thể hiện khát vọng độc lập, tự do. Khát vọng
thường trực của chủ tịch Hồ Chí Minh là “không có gì quí hơn độc lập, tự
do”, “tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta
được hoàn toàn độc lập, dân tộc được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có
cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Khát vọng độc lập tự do của Hồ Chí
Minh bắt nguồn từ khát vọng dân tộc, dân chủ của nhân dân trong mấy ngàn
năm lịch sử. Khát vọng độc lập, tự do cũng là một trong những nội dung cơ
bản của Nhật kí trong tù. Hình tượng người chiến sĩ cách mạng thức suốt đêm
không ngủ vì lo lắng cho vận mệnh của đất nước đã trở thành một mô típ
Tung bay cờ nghĩa khắp trăm miền;
Xót mình còn hãm trong tù ngục
Chưa được xông ra giữa trận tiền”.
(Việt Nam có bạo động)
15
Nhật kí trong tù 13 lần nhắc đến chữ “tự do”. Từ cảnh ngộ của riêng
mình, từ những từng trải của cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đã đúc kết nên
những chân lí của thời đại.
Nhật kí trong tù chan chứa tình yêu thương đối với con người và cuộc
sống. Chủ nghĩa nhân đạo cách mạng của Hồ Chí Minh thật bao la và độ
lượng. Là thân phận một người tù, Hồ Chí Minh quên nỗi đau khổ của riêng
mình để chia sẻ nỗi đau buồn ở xung quanh. Người cảm thông với từng cảnh
ngộ éo le, phức tạp của những người bạn tù. Có người bị rơi vào cảnh oan
trái, có người tù vì cờ bạc, lại có cả em bé và phụ nữ chịu tội thay người trốn
lính. Trong nhà lao, nghe tiếng sáo sầu thảm của người bạn tù nhớ quê hương
Hồ Chí Minh thương cảm và như thấy hiện ra trước mắt một làng quê nào đó
có người thiếu phụ bước lên thêm một tầng lầu ngóng về phương xa:
“Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu,
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu;
Muôn dặm quan hà khôn xiết nỗi,
Lên lầu, ai đó ngóng trông nhau”.
(Người bạn tù thổi sáo)
Tấm lòng nhân ái, bao dung và độ lượng của Hồ Chí Minh chắc chắn đã
cảm hóa được nhiều người trong cái nhà tù thối nát của chế độ Quốc dân
Đảng. Trong nhà ngục của chúng, Hồ Chí Minh cũng rất quí trọng, nâng niu
những tâm hồn trong sạch, lương thiện còn sót lại. Người tỏ lòng biết ơn
“khoa trưởng họ Ngũ, khoa viên họ Hoàng” đã ân cần thăm hỏi và giúp đỡ tù
Minh có một mối quan hệ đồng cảm với thiên nhiên. Cảnh với người, sự vật
khách quan và cái tôi của chủ thể trữ tình soi bóng vào nhau, hòa quyện
khăng khít với nhau:
“Hương hoa bay thấu vào trong ngục
Kể với tù nhân nỗi bất bình”.
(Chiều tối)
17
“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.
(Ngắm trăng)
Thiên nhiên là người bạn tâm tình của thi sĩ cho nên thiên nhiên trong
thơ Bác bao giờ cũng ấm cúng tình người:
“Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết, lò than đã rực hồng”
(Chiều tối)
Con người hài hòa với thiên nhiên, đó là nét giống nhau giữa thơ Hồ Chí
Minh và thơ Đường. Nhưng trong thơ Hồ Chí Minh con người lại là chủ thể
của thiên nhiên. Trong Nhật kí trong tù ta thấy phảng phất cái thi vị của thơ
Đường. Nhưng Bác Hồ thường đưa vào cái thiên nhiên vĩnh cửu của câu thơ
xưa một nội dung xã hội.
Nhật kí trong tù ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Có lẽ
đó là một tác phẩm cuối cùng viết bằng chữ Hán nhưng lại là một trong
những tập thơ cách mạng đầu tiên ở nước ta. Nhật kí trong tù cho ta hiểu
một quãng đời gian khổ của chủ tịch Hồ Chí Minh. Nó đã phản ánh được
một số nét khá tiêu biểu của tư tưởng đạo đức tình cảm Hồ Chí Minh.
Tác phẩm còn là một bài học lớn về tinh thần đấu tranh kiên cường, bất
khuất cho độc lập, tự do, về chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, về chủ nghĩa
và hiện tượng, giữa nội dung và hình thức, giữa cái thực chất xấu xa bên trong
của chế độ thống trị và mọi hình thức ngụy trang giả dối bên ngoài. Những
người tù cờ bạc bị giải vào nhà lao mới biết pháp luật của chính quyền Tưởng
Giới Thạch là một cái gì hết sức giả dối và ngược đời:
“Đánh bạc ở ngoài quan bắt tội;
Trong tù đánh bạc được công khai;
Bị tù con bạc ăn năn mãi;
Sao trước không vô quách chốn này”
(Đánh bạc)
19
Nhật kí trong tù là một bước tổng hợp mới của thi ca hiện đại Việt Nam.
Tác giả đã sử dụng mọi thủ pháp nghệ thuật: tả thực, tượng trưng, ước lệ,
chiết tự, chơi chữ, nói nhại và lúc cần tung phá cả luật lệ. Tập thơ đã kết hợp
một cách khá nhuần nhị chất thép và chất trữ tình, trữ tình và tự sự, lãng mạn
và hiện thực, phản ánh và triết lí, tính cổ điển và tính hiện đại. Nhật kí trong
tù là một tác phẩm lớn của nền văn học cách mạng, là tập thơ đã cắm một cái
mốc quan trọng trong lịch sử thơ ca Việt Nam.
1.3. Nhật kí trong tù nhìn từ đặc trƣng thể loại
1.3.1. Đặc trưng kí
1.3.1.1. Khái niệm
Trong văn xuôi, bên cạnh tiểu thuyết, các thể kí văn học có một tầm
quan trọng đặc biệt. Kí văn học là thể loại linh hoạt, nhạy bén trong việc phản
ánh hiện thực ở cái thế trực tiếp nhất, ở những nét sinh động và tươi mới nhất.
Kí phản ánh sự việc và con người có thật trong cuộc sống. Tính chính xác tối
đa là đặc trưng cơ bản của kí. Do đó, sức hấp dẫn, sức thuyết phục của kí một
phần lớn do chính sự việc được phản ánh trong tác phẩm. So với truyện ngắn,
tiểu thuyết, kí phản ánh nhanh chóng và linh hoạt cuộc sống. Tác phẩm kí vừa
nghiên cứu, phát hiện rồi ghi lại những “người thật, việc thật”, những biến cố,
những vấn đề của đời sống. “Kí văn học có cách thức xây dựng điển hình
không giống với các thể loại văn học như kịch, tiểu thuyết, thơ ca. Nó không
theo con đường khái quát tổng hợp mà lựa chọn từ những người thật việc thật
điển hình trong đời sống” [8, t.250]. Phần nhiều tác phẩm kí ra đời như bộc lộ
phản ứng trực tiếp với những biến cố thời sự, những vấn đề nóng bỏng đang
được đặt ra trong đời sống. Người viết kí không chỉ đặc biệt quan tâm và tôn
trọng những sự kiện xã hội – lịch sử, mà chú ý tới tất cả các biểu hiện, những
dạng hướng tồn tại và phát triển của cuộc sống, truyền đạt trung thực những gì
mà theo tác giả là có giá trị, ý nghĩa với con người. Với thể loại kí, cõi thực vốn
là bản gốc của tác phẩm, “tính chính xác tối đa là đặc trưng cơ bản của kí” [18,
21