Giáo dục truyền thống dân tộc việt thông qua khóa trình lịch sử việt nam từ thế kỷ x đến thế kỷ XVIII - Pdf 31

Chuyên đề:
Giáo dục truyền thống dân tộc Việt thông qua khóa trình
Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII
Th.S Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trường THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày 7/5/2014, Việt Nam tưng bừng kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện
Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Cả dân tộc Việt Nam cùng
ca vang khúc ca khải hoàn “Giải phóng Điện Biên” giữa khí thế sục sôi nhớ lại
“9 năm kháng chiến”. Cũng trong ngày 7/5/2014, Trung Quốc hạ đặt trái phép
giàn khoan HD-981 trong thềm lục địa Việt Nam, vi phạm quyền chủ quyền và
quyền tài phán của Việt Nam. Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc bùng lên ở
khắp nơi, ở mọi lứa tuổi. Tuy nhiên, không phải ai, không phải tầng lớp nào
cũng có những hành động yêu nước tỉnh táo và đúng đắn, đặc biệt là tầng lớp
học sinh, sinh viên. Nếu không tỉnh táo sẽ dễ bị kích động, gây ảnh hưởng đến
bản thân và lợi ích của quốc gia. Trên tất cả, lúc này người Việt Nam cần phát
huy được bản sắc truyền thống của dân tộc, chung vai sát cánh tạo nên nguồn
sức mạnh to lớn đập tan âm mưu vi phạm chủ quyền của các thế lực bên ngoài.
Hơn lúc nào hết, cần giúp cho nhân dân - đặc biệt là thế hệ trẻ người Việt - hiểu
và trân trọng truyền thống, bản sắc dân tộc. Trước bối cảnh đó, bộ môn Lịch sử
có ưu thế trong việc truyền dạy những bài học truyền thống của cha ông thưở
trước, tạo nền tảng, cơ sở để thế hệ trẻ giữ gìn, phát huy, bảo tồn các giá trị văn
hóa Việt, từ đó bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc.
Khóa trình lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII là giai đoạn có
nhiều sự kiện lịch sử thuận lợi trong việc hình thành cho các em học sinh hiểu
khái niệm và những biểu hiện cụ thể của truyền thống dân tộc Việt Nam. Chính

1


vì vậy, trên cơ sở lựa chọn vấn đề dạy và phương pháp ôn tập Lịch sử Việt Nam

lược và đô hộ như kháng chiến chống Tống thời Tiền Lê, Lý; kháng chiến
chống Mông – Nguyên thời Trần; khởi nghĩa chống ách đô hộ của giặc Minh.
Trong suốt thời kỳ lịch sử ấy, dân tộc Việt Nam đã biết gìn giữ, tiếp nối, phát
huy những truyền thống quý báu của cha ông từ thuở văn minh Văn Lang – Âu
Lạc để làm rạng rỡ lịch sử Việt Nam.
Vậy truyền thống dân tộc Việt bao gồm những đặc điểm nào và có những
biểu hiện cụ thể ra sao? Người giáo viên Lịch sử cần xác định và có minh
chứng cụ thể trong khóa trình Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X – thế kỷ XVIII, từ
đó tạo nền tảng, cơ sở trong việc giáo dục tinh thần, tình cảm, thái độ và định
hướng hành động cho học sinh.
Trên cơ sở nghiên cứu và giảng dạy khóa trình Lịch sử Việt Nam từ thế
kỷ X đến thế kỷ XVIII tôi lựa chọn và phân tích 6 biểu hiện, đặc điểm trong
truyền thống dân tộc Việt như sau:
1. Truyền thống yêu nước
Bất cứ một dân tộc nào trên thế giới này cũng đều có lòng yêu nước.
Lòng yêu nước tuy một phần là tình cảm rất tự nhiên, nhưng mặt khác quan
trọng hơn, nó chính là sản phẩm của lịch sử, được hun đúc bởi chính lịch sử của
dân tộc. Cùng với tiến trình lịch sử Việt Nam, tinh thần yêu nước Việt Nam trở
thành chủ nghĩa yêu nước, trở thành một giá trị, một động lực tinh thần vô cùng
mạnh mẽ thúc đẩy biết bao thế hệ kiên cường và dũng cảm hi sinh để giành lại
và bảo vệ độc lập của Tổ quốc, bảo vệ những phẩm giá của chính con người.
Tinh thần yêu nước là giá trị cơ bản trong hệ giá trị truyền thống của dân
tộc Việt Nam ta. Theo G.S Trần Văn Giàu: tình cảm và tư tưởng yêu nước là
tình cảm và tư tưởng lớn nhất của nhân dân, của dân tộc Việt Nam và chủ nghĩa
yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện
đại. Ở đây, bản chất Việt Nam biểu lộ đầy đủ và tập trung nhất, hơn bất cứ chỗ
3


nào khác. Yêu nước trở thành một triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt

Trong khoảng thời gian từ thế kỷ III TCN đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, dân
tộc ta đã dành hơn nửa thời gian cho các cuộc kháng chiến giữ nước và đấu
tranh chống ngoại xâm, các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc.
Không có một dân tộc nào trên thế giới lại phải chịu nhiều cuộc chiến tranh như
vậy và với những kẻ thù mạnh hơn rất nhiều. Chính tinh thần yêu nước nồng
nàn đã giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi thế lực xâm
lược. Qua những cuộc chiến đấu trường kỳ đầy gian khổ đó, chủ nghĩa yêu
nước đã trở thành dòng chảy “chủ lưu” của đời sống Việt Nam, trở thành một
triết lý xã hội và nhân sinh trong tâm hồn Việt Nam.
Yêu nước là tình cảm và tư tưởng phổ biến, vốn có ở tất cả các dân tộc
trên thế giới chứ không riêng gì của dân tộc Việt Nam. Song, tư tưởng ấy được
hình thành sớm hay muộn, đậm hay nhạt, nội dung cụ thể, hình thức và mức độ
biểu hiện cũng như chiều hướng phát triển của nó lại tuỳ thuộc vào điều kiện
lịch sử đặc thù của từng dân tộc. Đối với dân tộc Việt Nam, lòng yêu nước
không chỉ là một tình cảm tự nhiên, mà nó còn là sản phẩm của lịch sử được
hun đúc từ chính lịch sử đau thương mà hào hùng của dân tộc Việt Nam. Lịch
sử mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam là lịch sử đất tranh giành lại và bảo vệ
nền độc lập từ tay kẻ thù xâm lược (thời gian chống giặc ngoại xâm cộng lại lên
tới trên 12 thế kỷ). Chính vì vậy mà tinh thần yêu nước đã ngấm sâu vào tình cảm,
vào tư tưởng của mỗi người dân Việt Nam qua tất cả các thời đại, làm nên một sức
mạnh kỳ diệu, giúp cho dân tộc ta đánh thắng hết kẻ thù này đến kẻ thù khác cho
dù chúng có hùng mạnh đến đây. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng
kết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của
ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi. Nó kết
thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó
khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [1;140].
5


Lịch sử là một minh chứng hùng hồn nhất cho những khẳng định trên. Từ

được đón họ trở về. Đó là sự hy sinh to lớn được thúc đẩy bởi tinh thần yêu
nước nồng nàn của dân tộc ta. Bấy nhiêu cũng là quá đủ để có thể thấy rằng, tư
tưởng yêu nước không phải là một triết lý để “nói suông” mà nó là kim chỉ nam
cho hành động, đem lại một sức mạnh to lớn, thúc đẩy dân tộc ta tiến lên.
Nội dung cơ bản của truyền thống yêu nước được áp dụng truyền dạy và
định hướng tình cảm, thái độ cho học sinh trong tất cả các nội dung bài dạy của
khóa trình Lịch sử Việt Nam thế kỷ X – XVIII, từ bài 28 đến bài 37 (SGK Lịch
sử 10 Nâng cao); từ bài 17 đến bài 24 (SGK Lịch sử 10 Cơ bản). Đặc biệt được
sử dụng tích cực khi dạy bài Tổng kết lịch sử Việt Nam, bài 28: Truyền thống
yêu nước của dân tộc Việt Nam thời phong kiến (SGK Lịch sử 10 Cơ bản).
Như vậy, được hình thành từ sớm, lại được thử thách, khẳng định qua
bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, được bổ sung, phát triển qua từng thời kỳ,
theo yêu cầu phát triển của dân tộc và thời đại, tinh thần yêu nước đã trở thành
chủ nghĩa yêu nước, trở thành một trong những giá trị truyền thống cao quý
nhất, bền vững nhất của dân tộc ta. Yêu nước đã thực sự trở thành một thứ vũ
khí tinh thần mà theo G.S Trần Văn Giàu: “vận nước suy hay thịnh, mất hay
còn, nhục hay vinh, phần rất quan trọng là tuỳ thuộc ở chỗ ta ứng dụng và phát
huy hay ta quên lãng và chôn vùi món vũ khí tinh thần ấy”.
2. Truyền thống đoàn kết
Chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập chủ quyền là nét nổi bật của
truyền thống yêu nước Việt Nam. Và như trên đã trình bày, dân tộc ta đã đánh
bại gần như tất cả các cuộc xâm lăng của các thế lực bên ngoài. Một trong
những nguyên nhân cơ bản làm nên những thắng lợi đó chính là tinh thần đoàn
kết của quân dân ta.

7


Đoàn kết là sự đồng thuận và đóng góp của mỗi cá nhân trong một nhóm vì
một mục đích hay một công việc chung nào đó mà không làm phương hại đến

năm 981. Những tên tuổi như Lê Hoàn, Dương Vân Nga sáng mãi cùng lịch sử
dân tộc và trong lòng quần chúng nhân dân.
Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống lần II (1075-1077),
Lý Thường Kiệt cùng vua quan nhà Lý cũng phát huy được sức mạnh đoàn kết
toàn dân tộc làm nên những chiến thắng vang dội, tiêu biểu là trận chiến ở bờ
Bắc sông Như Nguyệt.
Tinh thần đoàn kết chưa bao giờ được phát huy rực rỡ như dưới triều đại
nhà Trần thế kỷ XIII. “Hào khí Đông A” – hào khí nhà Trần - trở thành một sức
mạnh lớn lao để giúp nhân dân ta 3 lần đánh thắng quân Mông – Nguyên. Hạt
nhân của khối đại đoàn kết đó chính là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.
Trần Quốc Tuấn đã gạt bỏ mọi tư thù cá nhân, hết lòng trung nghĩa phụng sự sứ
mệnh của đất nước. Khi giảng dạy về mối đoàn kết trong nội bộ tướng sĩ nhà
Trần, giáo viên có thể chứng minh qua câu chuyện cảm động về việc Trần Quốc
Tuấn tắm gội cho Trần Quang Khải, chủ động giải quyết mối bất hòa riêng tư
để thực hiện đoàn kết chặt chẽ từ trong nội bộ triều đình.
Từ tinh thần đoàn kết đã tạo nên tính chất toàn dân sâu sắc trong cuộc
kháng chiến chống Mông – Nguyên của nhà Trần thế kỷ XIII. Đông đảo các
tầng lớp nhân dân tham gia các lực lượng vũ trang của triều đình và đấu tranh
chống kẻ thù xâm lược:
Các vua Trần cùng các vương hầu, quý tộc đều ra trận thể hiện khí phách
hiên ngang, lòng yêu nước nồng nàn như Trần Quốc Toản, Trần Khánh Dư,
Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão,... đặc biệt là Trần Quốc Tuấn.
Những người có địa vị thấp kém nhất trong xã hội Yết Kiêu, Dã Tượng vốn là gia nô, gia đồng - cũng vẫn có nhận thức đầy đủ và sâu sắc về nghĩa vụ
9


của mình với vận mệnh dân tộc, dũng cảm, kiên gan tham gia cuộc chiến và lập
nhiều chiến công vang dội.
Mọi giới, mọi lứa tuổi đều hăng hái tham gia kháng chiến. Các vị bô lão
tham gia Hội nghị Diên Hồng 1285 thể hiện sự đồng lòng nhất trí qua lời hô

hùng vĩ đại của dân tộc - Trần Hưng Đạo đã nói: “Mới rồi Toa Đô và Ô Mã Nhi
bốn mặt bao vây nhưng vì vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước góp sức
nên bọn giặc phải chịu bị bắt” [3;117].
Thế kỷ XV chứng kiến nỗi đau khổ tột cùng của nhân dân ta dưới ách đô
hộ, kìm kẹp của nhà Minh:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”…
(Trích: Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)
Cao trào kháng chiến chống Minh, do yêu cầu và tính chất của nó đã phát
huy thêm một bước tinh thần cả nước cùng đứng lên chống quân xâm lược.
Khắp mọi nơi, nhân dân rầm rộ nổi dậy, không phải đi theo một đội quân chính
quy nào đó, hay theo mệnh lệnh của nhà nước mà tự động chống lại kẻ thù.
Cuộc đấu tranh mang đậm tính tự phát nên cũng nói lên tính tự giác cao độ để
bảo vệ Tổ quốc của nhân dân. Không sợ hy sinh, không sợ kẻ thù lớn mà tùy
theo sức mà đánh. Mỗi tầng lớp tập hợp theo hoàn cảnh và điều kiện của mình
với những hình thức đấu tranh khác nhau nhưng tất cả các cuộc đấu tranh đều
có chung một mục đích: giải phóng Tổ quốc. Và từ cao trào tự phát như vậy
mới có được đỉnh cao tập trung trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) một cuộc chiến tranh nhân dân xuất sắc trong lịch sử dân tộc. Trong cuộc khởi
nghĩa ấy đã huy động được toàn dân tham gia đánh giặc, không phân biệt già
trẻ, trai gái, tướng – sĩ,…Tất cả nghĩa quân như một đại gia đình:

11


“Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.”…
(Trích: Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)
Với tinh thần đoàn kết và đội quân “phụ tử” như vậy, nghĩa quân Lam
Sơn đã lật đổ ách cai trị của nhà Minh, từ một cuộc khởi nghĩa ở địa phương đã
phát triển lên trở thành một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Sau thắng lợi

cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng 40, Khởi nghĩa Lí Bí 542, khởi nghĩa của Khúc
Thừa Dụ năm 905 và đỉnh cao là chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch
Đằng năm 938.
Tiếp nối tinh thần ấy, bước sang thời kỳ độc lập, nhân dân ta quyết tâm
xây dựng nền chính trị - kinh tế độc lập tự chủ, và hơn bao giờ hết, tinh thần
đấu tranh anh dũng bất khuất phát huy cao độ trong các cuộc kháng chiến chống
giặc ngoại xâm.
Tinh thần đấu tranh anh dũng bất khuất thể hiện đanh thép qua lời “Hịch
tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối,
ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa. Chỉ tiếc chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống
máu quân thù. Dẫu trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong
da ngựa, ta cũng cam lòng”.
Những câu nói bất hủ của những vị tướng lĩnh trong các cuộc kháng
chiến chống ngoại xâm đã tỏ rõ chí khí chiến đấu bất khuất của dân tộc ta.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên lần thứ nhất 1258,
Trần Thủ Độ đã nói: “Đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo”.
Ở lần kháng chiến lần II (1285), Trần Hưng Đạo nói: “Nếu bệ hạ muốn
hàng xin chém đầu thần trước đã”.
Trước khi bị chém đầu, Trần Bình Trọng đã tỏ rõ khẩu khí của mình qua
câu nói: “Ta thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”.

13


Hình ảnh người anh hùng Trần Quốc Toản bóp nát quả cam, cương quyết
đi đầu đạo quân của mình với “6 chữ vàng”: “Giết giặc Thát, Báo hoàng ân”,
lời Hịch tướng sĩ, chữ “Sát Thát” trên tay các binh sĩ, lời hô quyết chiến của các
bô lão tại Hội nghị Diên Hồng...đã thể hiện được tinh thần chiến đấu anh dũng,
bất khuất của quân dân Đại Việt.
Những tấm gương kiên trung, sẵn sàng hy sinh tính mạnh để bảo vệ nền

lập chủ quyền của Tổ quốc trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
4. Truyền thống độc lập, tự chủ
Truyền thống độc lập tự chủ được thể hiện sâu sắc trên các khía cạnh
chính trị - kinh tế - văn hóa.
Về mặt chính trị, truyền thống độc lập thể hiện nổi bật, rõ nét nhất thông
qua việc đất nước ta thoát khỏi sự ràng buộc của phong kiến phương Bắc và xây
dựng cho mình một nhà nước mang tính tự chủ rõ ràng.
Năm 939, Ngô Quyền xưng Vương đã khẳng định lòng tự tôn dân tộc,
chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc, mở ra một thời đại mới – thời đại độc lập tự chủ
lâu dài.
Trải qua các triều đại Ngô, Đinh – Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, chế độ phong
kiến Việt Nam dần được hình thành và hoàn thiện thông qua việc tổ chức bộ
máy nhà nước ngày càng chặt chẽ. Đến những năm 60 – thế kỷ XV, sau cải
cách của vua Lê Thánh Tông, chế độ phong kiến Việt Nam phát triển đến đỉnh
cao. Với những nội dung quan trọng trong cuộc cải cách như bãi bỏ chức Tể
tướng hay Đại hành khiển, thành lập 6 Bộ, đứng đầu là các Thượng thư, chia cả
nước thành 13 đạo Thừa Tuyên,… đã tạo ra bộ máy quản lý hoàn chỉnh, thống
nhất từ Trung ương đến địa phương. Tổ chức bộ máy Nhà nước ngày càng chặt
chẽ hơn, hiệu quả hơn, tạo điều kiện ổn định về chính trị và phát triển kinh tế.
Đồng thời tạo ra uy lực, uy quyền của nhà vua trong việc cai quản đất nước,
khẳng định tính độc lập, tự chủ trong thiết chế chính trị của Nhà nước Đại Việt.
15


Về mặt kinh tế, thế kỷ X – XVIII là giai đoạn cha ông ta tích cực xây
dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, thoát khỏi sự lệ thuộc vào kinh tế của
phong kiến phương Bắc. Với sự quan tâm của các nhà nước phong kiến, nền
kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp nước ta đều phát triển
đạt được những thành tựu lớn. Kinh thành Thăng Long với 8 chợ, 36 phố
phường không những là trung tâm chính trị lớn nhất cả nước mà còn trở thành

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời)
Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống ách đô hộ của nhà Minh thế kỷ
XV đã xuất hiện áng hùng văn bất hủ “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi –
bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc, trong đó khẳng định rõ:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có”…
Trong quá trình tiến quân ra Bắc tiêu diệt 29 vạn quân Thanh xâm lược
năm 1789, Quang Trung – Nguyễn Huệ đã ban hành bài “Hiểu dụ” để khích lệ
tinh thần đấu tranh của quân sĩ, đồng thời khẳng định nền độc lập của dân tộc:
“Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen răng
Đánh cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.
17


Tất cả những ánh văn thơ bất hủ đó đã khích lệ tinh thần đấu tranh của
quân sĩ, khẳng định sự tất thắng trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm,
khiến cho tinh thần kẻ địch hoang mang, lo sợ và trên tất cả, những bài thơ đó
đã khẳng định một chân lý “bất di, bất dịch” – nước Việt ta là một nhà nước độc
lập, là một nước có quyền tự chủ.
Những minh chứng cụ thể về truyền thống độc lập tự chủ được áp dụng

Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc”…
(Trích: Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)
Tinh thần yêu chuộng hòa bình, căm ghét chiến tranh phi nghĩa của dân
tộc đã trở thành một truyền thống. Bước sang thời lịch sử hiện đại, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã kế thừa, phát huy có sáng tạo trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo
cách mạng. Các Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946, Bản Tạm ước ngày 14/9/1946
và đỉnh cao là Hiệp định Giơ-ne-vơ ngày 21/7/1954 đã thể hiện rõ thiện chí,
tinh thần yêu chuộng hòa bình của dân tộc. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ
cứu nước (1954-1975), sau khi đập tan âm mưu leo thang chiến tranh của Mĩ
trong cuộc tập kích 12 ngày đêm cuối năm 1972 ra miền Bắc với trận “Điện
Biên Phủ trên không”, quân dân ta cũng đã cho thế giới thấy rõ được tinh thần
yêu chuộng hòa bình của dân tộc thông qua việc kí kết Hiệp định Pa-ri năm
1973 về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Trong quá trình khai thác nội dung, biểu hiện của truyền thống này, giáo
viên cần làm liên hệ với tình hình thời sự nổi bật của đất nước để học sinh thấy
rằng, đến giai đoạn lịch sử hiện đại (tháng 6/2014), dân tộc ta vẫn tiếp tục phát
19


huy tinh thần yêu chuộng hòa bình, căm ghét chiến tranh thông qua các biện
pháp đấu tranh hòa bình, ngoại giao trên các diễn đàn quốc tế nhằm yêu cầu
Trung Quốc rút giàn khoan HD – 981 ra khỏi thềm lục địa Việt Nam. Những
biện pháp đấu tranh của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn so với Công ước Liên
hợp quốc và Luật pháp quốc tế, được bạn bè quốc tế đồng tình ủng hộ.
6. Truyền thống hiếu học
“Hiếu học” là một khái niệm có thể coi như làm thành một bộ phận, một

hoảng và suy thoái do sự biến động của đất nước, chiến tranh xâm lược và
khủng hoảng kinh tế - chính trị.
Nhiều tấm gương hiếu học được thế giới đương thời thán phục và đời sau
noi theo xuất hiện trong suốt lịch sử phát triển của nền giáo dục Việt Nam thời
phong kiến. Mạc Đĩnh Chi được xem là “Lưỡng quốc trạng nguyên”, “Trạng
Trình” Nguyễn Bỉnh Khiêm được Trung Quốc thán phục là nhà thông thái ( An
Nam lý số hữu trình tuyền), nhà mưu lược Nguyễn Trãi, nhà bác học Lê Quí
Đôn…
Giáo viên có thể giới thiệu những câu chuyện liên quan tới những tấm
gương hiếu học trong lịch sử như câu chuyện về cậu học trò nghèo Mạc Đĩnh
Chi bắt đom đóm thắp sáng học bài. Ông chính là tấm gương cho bao thế hệ
học trò có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập.
Truyền thống hiếu học đã hình thành đức tính cầu học, cầu tiến với tư
tưởng sẵn sàng tiếp thu cái mới, cái tiến bộ từ bên ngoài. Từ đó hình thành tinh
thần “ Tôn sư trọng đạo”, “Không thầy đố mày làm nên”, “Muốn sang thì bắc
cầu kiều…”…
Nếu yêu nước là truyền thống ra đời và phát triển mạnh mẽ chủ yếu khi
Tổ quốc lâm nguy, thì hiếu học gắn với sự phát triển của đất nước trong những
năm tháng hòa bình. Dĩ nhiên, các vị tướng tài trên chiến trận cũng là những
người ham học, không ít người còn văn võ song toàn, tiêu biểu như Lý Thường
21


Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung – Nguyễn Huệ,…
Đến giai đoạn lịch sử hiện đại ta không thể không nhắc tới tinh thần học tập của
Chủ tịch Hồ Chí Minh và người học trò xuất sắc – Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Truyền thống hiếu học của cha ông được giáo viên truyền giảng khi dạy
nội dung phần văn hóa – giáo dục ở các bài 20, bài 24 (SGK Lịch sử 10 Cơ
bản); bài 31, bài 36 (SGK Lịch sử 10 Nâng cao). Đồng thời, giáo viên giúp học
sinh liên hệ với việc học tập của bản thân trong một “thế giới phẳng” hiện nay.

huyết với nghề, tôi hy vọng có thể truyền tải một phần của quá khứ để giúp các
em học sinh - thế hệ trẻ của đất nước – hiểu được giá trị truyền thống của dân
tộc, từ đó định hướng được tư tưởng, tình cảm, thái độ và có những hành động
đúng trong tương lai. Đồng thời, việc nắm bắt, bảo tồn, giữ gìn, phát huy những
giá trị truyền thống dân tộc Việt trong bối cảnh hiện đại còn giúp cho “gốc rễ”
của đất nước vững mạnh trước sự tác động của các yếu tố bên ngoài để Việt
Nam có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu” như lời Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã căn dặn./.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
23


1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, “Lịch sử 10”, NXB Giáo dục, HN, 2006.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, “Lịch sử 10 Nâng cao”, NXB Giáo dục, HN
2006.
3. Cao Huy Giu (Dịch), “Đại Việt sử ký toàn thư”, (Tập 1), NXB Hội Văn
học, HN, 2006.
4. “Hồ Chí Minh toàn tập (tập 3: 1930 - 1945)”, NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2000.
5. Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên), “Tiến trình lịch sử Việt Nam”, NXB
Giáo dục, Hà Nội, 2005.
6. Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), “Đại cương lịch sử Việt Nam” (Tập I),
NXB Giáo dục, 2004.
7. Nguyễn Khắc Thuần, “Danh tướng Việt Nam” (tập 2 – Danh tướng Lam
Sơn), NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007.
8. Trịnh Đình Tùng (Chủ biên), Trần Huy Đoàn, Nguyễn Thị Hương, “Bồi
dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử Trung học phổ thông”, Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam, 2012.
9. PGS.TS Trần Thị Trâm, “Hiếu học – một truyền thống quý báu của dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status