Chuyên đề trại hè Hùng Vương
Th.S Lê Đăng Thành
CHUYÊN ĐỀ :
Vai trò, trách nhiệm của triều Nguyễn trong việc để nước
ta rơi vào tay thực dân Pháp cuối thế kỉ XIX
Trong quá trình nghiên cứu lịch sử cận- hiện đại Việt Nam, chúng ta nhận
thấy nổi lên hai vấn đề: thứ nhất đánh giá như thế nào về vai trò và trách nhiệm của
triều Nguyễn trong việc để mất nước ta vào tay thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX vấn đề gần đây đang được đánh giá lại dưới ánh sáng của tinh thần khách quan
khoa học. Thứ hai, tại sao cuối cùng lịch sử dân tộc lại lựa chọn con đường cứu
nước và phát triển xã hội theo khuynh hướng vô sản. Có thể nói rằng việc đi sâu và
tìm hiểu nghiên cứu hai vấn đề trên là hết sức cần thiết. Bởi lẽ có như vậy chúng ta
mới có thể giải quyết được các vấn đề đặt ra trong lịch sử dân tộc và có câu trả lời
thoả đáng. Đồng thời trả về cho lịch sử tính khách quan vốn có của nó.
I.Trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước ta vào tay thực dân Pháp
cuối thế kỷ XIX
1.Bối cảnh lịch sử :
a. Thế giới:
Từ nửa sau thế kỷ XIX các nước tư bản phương Tây đã tiến dần lên và trở
thành những nước đế quốc chủ nghĩa. Gắn liền với quá trình đó là nhu cầu tìm
kiếm thị trường nguyên liệu, nhân công- trong khi ở chính quốc các yếu tố này
không còn - do vậy các nước đế quốc đã ráo riết chạy đua xâm lược thuộc địa.
Trong bối cảnh đó các nước trong khu vực Đông Nam Á trong đó có Việt Nam với
những điều kiện đất rộng người đông, tài nguyên thiên phong phú trở thành miếng
mồi săn lùng của chủ nghĩa tư bản. Việt Nam cũng như các nước trong khu vực đều
phải đương đầu với nguy cơ xâm lược nền độc lập bị đe doạ nghiêm trọng.
Bối cảnh lịch sử nêu trên có thể được xem là nguyên nhân khách quan dẫn
tới thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam(1858), tuy nhiên cần phải thấy rằng
từ việc bị xâm lược đến mất nước là một khoảng cách khá xa, không có nghĩa bị
đông như chế độ phong kiến lại đang khủng khoảng- là phải nhanh chóng cải cách,
canh tân đất nước củng cố quốc phòng, tức là phải nhanh chóng chấn hưng đất
nước tạo ra tiềm lực mạnh có thể đối phó được trước âm mưu và hành động xâm
lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây. Việt Nam là một nước trong khu vực cũng
không nằm ngoài yêu cầu lịch sử tất yếu khách quan ấy. Tuy nhiên ta cần thấy rằng
ngoài những yêu cầu lịch được nêu ở trên thì Việt Nam với những nét riêng của
lịch nước mình, đặc biệt là sự thành lập triều Nguyễn là dựa trên sự đàn áp một
phong trào nhân dân tương đối tiến bộ với sự giúp sức của tư bản Pháp chính vì
vậy mà ngay từ khi thành lập triều Nguyễn đã mang trong mình những mâu thuẫn
Trường THPT Chuyên Vĩnh Phúc
2
Chuyên đề trại hè Hùng Vương
Th.S Lê Đăng Thành
sâu sắc với nhân dân đặc biệt là nông dân chính vì vậy yêu cầu lịch sử đặt ra cho
triều Nguyễn còn là phải nhanh chóng điều hoà mâu thuẫn với nhân dân tạo nên
một khối thống nhất dân tộc đủ sức đương đầu với cuộc xâm lược của chủ nghĩa tư
bản phương Tây. đứng trước yêu cầu lịch sử đó triều Nguyễn đã làm gì và làm
được đến đâu để từ đó đánh giá vai trò trách nhiệm triều Nguyễn trong việc để mất
nước.
Sau khi đánh bại Tây Sơn các vua triều Nguyễn từ Gia Long, Minh Mạng
đến Thiệu Trị, Tự Đức kế tiếp phục hồi chế độ phong kiến đang trên con đường
suy vong và ra sức củng cố chế quân chủ chuyên chế nhằm bảo về quyền lợi giai
cấp và dòng họ.
Về chính trị: các vua triều Nguyễn đã xây dựng một bộ máy nhà nước mang
nặng tính bảo thủ chuyên chế. Một loạt các nhà nho yêu nước có tư tưởng canh tân
được Đà Nẵng và từ Đà Nẵng sẽ đe dọa triều đình Huế buộc vua Nguyễn ký các
điều ước đầu hàng.
Nhưng tại Đà Nẵng chúng đã vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của quân đội
triều đình có sự phối hợp của nhân dân do Nguyễn Tri Phương chỉ huy. Sau 5 tháng
bị cầm chân tại chỗ với những khó nhăn Pháp đã phải rút phần lớn khỏi Đà Nẵng
và mở mặt trận thứ hai ở Gia Định(02/1859) vậy là kế hoạch đánh nhanh thắng
nhanh của địch tại Đà Nẵng đã bị thất bại.
Tại mặt trận Gia Định, Pháp cũng gặp phải sự kháng cự quyết liệt của quân
dân do vậy đầu tháng 3 năm 1859 Pháp phải rút phần lớn quân khỏi nơi đây ứng
cứu cho lực lượng đang nguy khốn ở Đà Nẵng.
Tháng 4 năm 1860 Nguyễn Tri Phương được điều vào Gia Định chỉ huy mặt
trận Gia Định. Trong thời gian này Pháp tiến hành cuộc can thiệp vũ trang vào
Trung Quốc do vậy đã dốc phần lớn lực lượng cho cuộc can thiệp, chỉ để lại Gia
Định 1000 quân. Thế nhưng Nguyễn Tri Phương vẫn “án binh bất động”, trong khi
quân của Nguyễn Tri Phương có đến 12000 quân ông đã sai lầm khi tập trung quân
dân xây thành đắp luỹ nhằm thực hiện chiến lược phòng thủ.
Tháng 2 năm 1861 Pháp quay trở lại Việt Nam và tiến đánh Gia Định. Trước
hoả lực mạnh của địch quan quân triều đình đã phải rút về phía sau cố thủ. Từ Gia
Định Pháp lần lượt chiếm ba tỉnh miền Đông(Gia Định, Định Tường, Biên Hoà),
và một tỉnh miền Tây (Vĩnh Long). Trước sự mở xâm lược của Pháp phong trào
đấu tranh của nhân lên cao đúng lúc đó triều đình đã ký với Pháp điều ước Nhâm
Tuất (05/06/1862). Với điều ước này triều Nguyễn đã cắt hẳn ba tỉnh miền Đông
cho Pháp thu lại một tỉnh miền Tây. Chiếm xong ba tỉnh miền Đông, từ 20 đến 24
tháng 6 năm 1867 không tốn một viên đạt Pháp đã chiếm gọn ba tỉnh miền
Tây(Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên).
Trường THPT Chuyên Vĩnh Phúc
4
Sau trận Cầu Giấy đến giữa tháng 7 năm 1883, đô đốc Cuốcbê đã cùng
Hắcmăng và các tướng lĩnh đã họp ở Hải Phòng bàn kế hoạch đánh chiếm Huế.
Trường THPT Chuyên Vĩnh Phúc
5
Chuyên đề trại hè Hùng Vương
Th.S Lê Đăng Thành
Ngày 18 tháng 7 năm 1883 lợi dụng thời cơ Tự Đức mất(17/07/1883)- triều
đình Huế rơi vào tình trạng chia rẽ lục đục, Pháp đã đánh chiếm vào cửa biển
Thuận An. Quân ta đã kháng cự quyết liệt nhưng do sức yếu nên đến chiều ngày 20
tháng 08 năm 1883 quân ta thất thủ.
Nghe tin mất Thuận An thêm đó do triều đình có ý đầu hàng nên Hắcmăng
đã ép triều đình Huế ký điều ước do y soạn sẵn ( điều ước Hắcmăng).
Điều ước Hắcmăng là sự phản bội tệ hại nhất đối với nhân dân nên bị nhân
cả nước chống đối.
Trên đà thắng thế chính phủ Pháp cử Patơnốt đến Huế ép triều đình ký điều
ước mới ngày 6 tháng 6 năm 1884.
Điều ước Patơnốt đã xác lập quyền đô hộ lâu dài của Pháp ở Việt Nam. Đến
đây nhà nước phong kiến Nguyễn đã hoàn toàn đầu hàng thực dân Pháp.
3. Trách nhiệm của triều Nguyễn trong việc để mất nước ta vào tay thực dân
Pháp cuối thế kỷ XIX
Qua quá trình chiến đấu của quan quân triều đình Huế chống thực dân Pháp
xâm lược(1858- 1884), ta nhận thấy triều Nguyễn ngay từ phút đầu đã đứng lên
chống Pháp, vừa đánh Pháp vừa đầu hàng từng bước và phải một phần tư thế kỷ
sau mới đầu hàng hoàn toàn. Trong quá trình chiến đấu có những trận ta thắng
thoát bế tắc cho Pháp tạo điều kiện thuận lợi cho Pháp mở rộng xâm lược. Với trận
Cầu Giấy hai, quân dân cả nước vô cùng phấn khởi sẵn sàng xông lên tiêu diệt địch
thậm chí bất chấp lệnh của triều đình Huế. Song triều đình Huế lại tự hãm mình
trong thế bị động thương thuyết.
Thái độ và hành động của triều đình Huế thể hiện sự suy yếu, mất lòng dân
và luôn đặt quyền lợi của dòng họ, giai cấp lên trên tất cả. Có điều là sợ Pháp thì
nhà nước Nguyễn bắt tay hoà hoãn với Pháp đi đến đầu hàng phản bội quyền lợi
dân tộc, quyền lợi nhân dân. Còn sợ dân thì nhà nước Nguyễn Chống lại dân thậm
chí phá hoại phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân.
* Kết luận chung:
Trước hết ta cần khẳng định ngay rằng: Trách nhiệm để mất nước hoàn toàn
thuộc về triều đình nhà Nguyễn xong cần đánh giá trách nhiệm đó đến mức nào là
một việc làm cần thiết.
Triều đình nhà Nguyễn khi tiến hành kháng chiến chống xâm lược đã phải
chống lại một kẻ thù mạnh. Pháp là một nước tư bản phát triển, hơn nữa lại hơn ta
một phương thức sản xuất, do vậy cuộc kháng chiến này tất yếu gặp phải những
khó khăn lớn. Tuy nhiên từ những khó khăn lớn đến mất nước mất nước là một
khoảng cách khá xa, chính vì vậy đây là một nhân tố không giữ vai trò quyết định
Trường THPT Chuyên Vĩnh Phúc
7
Chuyên đề trại hè Hùng Vương
Th.S Lê Đăng Thành
trong sự thất bại của triều đình nhà Nguyễn trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp
8
Chuyên đề trại hè Hùng Vương
Th.S Lê Đăng Thành
Ngay trong nội bộ triều đình cũng không có sự thống nhất, luôn có sự mâu
thuẫn giữa phe chủ chiến và phe chủ hoà.
Đến đây chúng ta có thể rút ra kết luận:
Thứ nhất mất nước có thể tránh được(không tất yếu) nhưng nó đã trở thành
tất yếu đó là trách nhiệm của triều Nguyễn.
Mất nước là do một bộ phận nhà nước phong kiến đầu hàng phản bội dân
tộc.
Trường THPT Chuyên Vĩnh Phúc
9
Chuyên đề trại hè Hùng Vương
Th.S Lê Đăng Thành
II Sự lựa chọn con đường cứu nước và phát triển xã hội của lịch sử dân tộc
cuối thế kỷ XIX - Đầu thế kỷ XX
A. Khái quát:
Sự lựa chọn con đường cứu nước và phát triển xã hội là vấn đề quyết định
tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc. Trên thực tế, cuối thế kỷ XIX lịch sử dân
tộc đã có sự lựa chọn và sự lựa chọn đó kết thúc vào năm 1930. Trải qua ba con
Th.S Lê Đăng Thành
sĩ phu văn thân đứng lên giúp vua cứu nước. Pháp cho quân bao vây và tấn công
căn cứ Tân Sở. Tháng 11/1888 Hàm Nghi bị bắt.
b. Phong trào văn thân sĩ phu yêu nước chống Pháp ( 1885-1896).
Hưởng ứng chiếu Cần Vương, sĩ phu văn thân đã sôi nổi đứng dậy chống
Pháp, măc dù không được kêu gọi nhưng cứu nước là nguyện vọng của nhân dân
cho nên nhân dân đã đứng dậy chống Pháp. Phong trào được chia làm hai giai
đoạn:
+ Từ 1885 đến trước 11/1888: phong trào diễn ra sôi nổi ở miền Bắc, miền
Trung đúng nghĩa với phong trào Cần Vương.
+ Từ 1888 đến 1896: Theo quy luật khi bộ tham mưu bị bắt thì phong trào
thất bại nhưng phong trào Cần Vương vẫn tiếp tục song bắt đầu một nội dung mới
đó là giúp dân cứu nước. Có thể nói đây là thời điểm phong trào bắt đầu chuyển
sang phong trào tư sản và sự lựa chọn bắt đầu từ đây.
c. Phong trào nhân dân tự động kháng chiến chống Pháp.
Tiêu biểu của phong trào này là phong trào nông dân Yên Thế, bên cạnh đó
là phong trào yêu nước hưởng ứng chiếu Cần Vương. Mặc dù diễn ra sôi nổi kéo
dài song cuối cùng các phong trào này đều thất bại (chứng minh bằng những phong
trào cụ thể)
Sự thất bại của các phong trào này và các phong trào khác trước đó nó đã
chứng minh sự bất lực của ngọn cờ phong kiến, chỉ rõ yêu cầu bức thiết của phong
trào yêu nước Việt Nam lúc bấy giờ đó là thoát khỏi sự bế tắc để vươn lên.
2. Bỏ qua con đường cứu nước và phát triển xã hội phong kiến của chính
lịch sử dân tộc.
Sự thất bại của khởi nghĩa Hương Khê (1896) đánh dấu lịch sử dân tộc
chính thức từ bỏ con đường cứu nước và phát triển xã hội phong kiến. Có điều lịch
sử đã muốn từ bỏ con đường phong kiến ngay từ 1884, nhưng vào thời điển đó
chưa có con đường khác để lựa chọn điều đó lý giải tại sao lịch sử dân tộc không từ
bỏ nó ngay từ 1884.
Lí do thứ hai khiến lịch sử dân tộc từ bỏ con đường cứu nước và phát triển xã
hội phong kiến đó là sự tác động của con đường cứu nước mới- sự xuất hiện của
khuynh hướng cứu nước dân chủ tư sản.
Như vậy, tiếng súng ở Vũ Quang –Hương Khê đánh dấu lịch sử dân tộc đã
chính thức từ bỏ con đường cứu nước và phát triển xã hội phong kiến , tuy nhiên sự
lựa chọn này không gay gắt mà thực chất nó là một sự chuyển giao.
2. Lựa chọn giữa hai con đường cứu nước và phát triển xã hội theo
khuynh hướng tư sản và vô sản đầu thế kỉ XX.
a. Cứu nước và phát triển xã hội theo khuynh hướng tư sản.
Trường THPT Chuyên Vĩnh Phúc
12
Chuyên đề trại hè Hùng Vương
Th.S Lê Đăng Thành
a1.Bối cảnh thế giới và Việt nam đầu thế kỉ XX.
*Thế giới:Cuối thế kỉ XIX đầu XX trên thế giới và khu vực đã diễn ra và thắng
lợi nhiều cuộc cách mạng tư sản và nhiều cuộc cải cách duy tân mang tính chất
cách mạng tư sản:
+Cách mạng tư sản Pháp (1789):Lật đổ tận gốc chế độ phong kiến Pháp ,
thiết lập nền cộng hoà,khai sinh và nêu cao khẩu hiệu Tự do, Bình đẳng, Bắc ái.
+ Minh Trị duy tân(1868):Với cuộc cải cách này đã Nhật Bản từ một nước
phong kiến tiến lên trở thành một nước tư bản phát triển, giúp Nhật bản thoát khỏi
số phận một nước thuộc địa, phụ thuộc. Nhật Bản là một nước đồng chủng đồng
văn với ta nên sự kiện này có ảnh hưởng lớn đối với Việt Nam.
+ Cuộc vận động duy tân ở Trung Quốc(1898) với hai gương mặt tiêu
biểu:Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu.
a2. Cứu nước và phát triển xã hội theo khuynh hướng tư sản.
+ Kẻ thù: đế quốc xâm lược và phong kiến tay sai.
+ Nhiệm vụ: chống đế quốc phong kiến
+ Mục tiêu: giành độc lập dân tộc, tự do dân chủ giành chính quyền
+ Lãnh đạo: sỹ phu yêu nước tiến bộ, trí thức phong kiến tư sản hoá
+ Lực lượng: tiểu tư sản tư sản dân tộc nông dân
+ Phương pháp đấu tranh: kết hợp vũ trang,chính trị, kinh tế, văn hoá tư
tưởng, ngoại giao. Kết hợp hình thức đấu tranh bí mật bất hợp pháp với hình thức
đấu tranh công khai hợp pháp.
+ Phương hướng:xây dựng xã hội tư bản, nhà nước tư sản
+ Quy mô :toàn quốc
Với những đặc trưng của lịch sử dân tộc, trong khuynh hướng cứu nước tư
sản Việt Nam có sự phân hoá thành hai xu hướng: Bạo động và cải cách. Xu hướng
bạo động với đại diện tiêu biểu Phan Bội Châu, xu hướng cải cách do Phan Châu
Trinh đề xướng và đại diện.
*Phan Bội Châu chủ trương chống đế quốc, giành độc lập dân tộc bằng phương
pháp bạo động, Để tiến hành đấu tranh ông chủ trương dựa vào dân trong nước
nhưng lại dựa vào Nhật, cầu viện Nhật chống Pháp. Ông chưa chủ trương chống
phong kiến chưa giành tự do dân chủ. Nói chung chủ trương cứu nước mà chưa
cứu dân.Tuy nhiên chủ trương cứu nước và hành động cứu nước của ông có tác
dụng khơi dậy tinh thần yêu nước vốn là truyền thống của dân tộc làm bùng lên
Phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp .
*Phan Châu Trinh: Chủ trương chống chế độ phong kiến, giành tự do dân chủ
bằng phương pháp ôn hoà, bằng cuộc vận động cải cách duy tân đất nước.Ông chủ
trương dựa vào dân trong nước, dựa vào Pháp chống phong kiến mà chưa chủ
Trường THPT Chuyên Vĩnh Phúc
14
kết cách mạng thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc. Sự ra đời của bản
Luận cương của Lê Nin đã đóng vai trò chỉ đạo các đảng cộng sản phong trào cách
mạng thế giới.
Trường THPT Chuyên Vĩnh Phúc
15
Chuyên đề trại hè Hùng Vương
Th.S Lê Đăng Thành
Sau một quá trình bôn ba tìm đường cứu nước Nguyễn Ái Quốc đã đến được
với chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tìm thấy con đường cách mạng vô sản (1920). Đây là
bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác đồng thời là bước ngoặt
của lịch sử dân tộc. Từ đây Người không ngừng truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê Nin
về nước tạo sự chuyển biến trong phong trào yêu nước.
Từ năm 1919 đến 1929 Pháp đẩy mạnh chương trình khai thác thuộc địa lần
2 . Giai cấp công nhân đã có sự chuyển biến nhanh chóng: Từ tự phát lên tự giác
b. Cứu nước, phát triển xã hội theo khuynh hướng tư sản và vô sản.
b1. Phong trào yêu nước dân tộc dân chủ tư sản vẫn tiếp tục.
Phong trào dân tộc dân chủ tư sản mặc dù chưa thành công nhưng lịch sử vẫn
tiếp tục đi theo. Giờ đây hai xu hướng bạo động và cải cách đã hoà hợp với nhau
nhằm khắc phục những hạn chế trong bản thân từng xu hướng. Tuy nhiên nổi bật là
xu hướng cải cách. Giờ đây đội ngũ lãnh đạo đã có sự thay đổi đó là những trí thức
tiểu tư sản yêu nước đứng trên lập trường của giai cấp tư sản. Dưới tác động và ảnh
hưởng của tư tưởng vô sản phong trào yêu nước dân tộc dân chủ tư sản có sự
chuyển biến dần sang vô sản. Điều này thể hiện ở tư tưởng và tổ chức. Giờ đây
xuất hiện nhiều tổ chức yêu nước: Đó là hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Tân
Việt cách mạng đảng, Việt Nam quốc dân đảng.
Thứ hai, đảng cộng sản Việt Nam được thành lập 3/02/1930- sự kiện đánh dấu
lịch sử dân tộc chính thức lựa chọn con đường cách mạng vô sản.
Lịch sử dân tộc đã có thời gian đi theo con đường tư sản, giờ đây lịch sử đã từ
bỏ nó, vậy ta đánh giá nó như thế nào.
Khởi nghĩa Yên Bái do Việt Nam Quốc Dân Đảng tổ chức lãnh đạo. Có thể
nói khởi nghĩa Yên Bái là thành quả đầu tiên của Việt Nam Quốc Dân Đảng- “ Trái
quả” đầu tiên. Đồng thời khởi nghĩa Yên Bái thất bại thì Việt Nam Quốc Dân Đảng
đã bị đánh tan, phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản cũng chấm dứt. Nó
báo hiệu cuộc đấu tranh giai cấp đã bị thủ tiêu một phía đồng thời nó cũng phản
ánh đặc điểm của khuynh hướng tư sản Việt Nam: non yếu, không đáp ứng được
yêu cầu lịch sử nên thất bại là không tránh khỏi.
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời 3/02/1930. Vừa ra đời đã lao ngay vào cuộc
đấu tranh trong khi phong trào 1930-1931 đang nổ ra đảng đã lãnh đạo ngay phong
trào biến phong trào từ tự phát trở thành tự giác và đưa phong trào phát triển đến
đỉnh cao: Xô Viết Nghệ Tĩnh. Có thể nói không có đảng vẫn có phong trào 19301931 nhưng không có đảng thì không có Xô Viết Nghệ Tĩnh. Xô Viết Nghệ Tĩnh là
“ Trái quả” đầu tiên của đảng. “ Trái quả” sau cũng bị rụng nhưng “ cây “ không
chết sau lại nảy thêm trái quả thứ hai(1936-1939), thứ ba (1939-1945), dẫn đến sự
thành công của cách mạng tháng tám năm1945. Cách mạng tháng tám thắng lợi,
sau này thắng lợi đó được cuộc kháng chiến chống Pháp(1945-1954) và cuộc
kháng chiến chống Mỹ(1954-1975), công cuộc đổi mới tiếp tục kế thừa và phát huy
và tạo nên thắng lợi lớn hơn. Những thành quả đã chứng tỏ con đường vô sản hoàn
toàn phù hợp với lịch sử dân tộc Việt Nam và thực tế lịch đã chứng minh chân lý
này.
c.Tại sao lịch sử lại từ bỏ con đường tư sản và lựa chọn con đường vô sản:
*Xét tính thời đại của luồng tư tưởng cách mạng tư sản và vô sản mà nó được
ta du nhập vao Việt Nam.
Trường THPT Chuyên Vĩnh Phúc
18
hướng tư sản có thể nảy sinh nhưng không thể phát triển trên mảnh đất cằn
cỗi như ở Việt Nam chúng ta.
Cơ sở xã hội của khuynh hướng vô sản đó là phong trào yêu nước vô sản- phong
trào công nhân.
Trường THPT Chuyên Vĩnh Phúc
19
Chuyên đề trại hè Hùng Vương
Th.S Lê Đăng Thành
Giai cấp công nhân Việt Nam ngoài những đặc điểm của giai cấp công nhân thế
giới sống tập trung, đại diện cho một phương thức sản xuất tiên tiến nhất…
thì giai cấp công nhân Việt Nam còn mang đặc điểm riêng (ra đời trước giai
cấp tư sản, kế thừa truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc, có
quan hệ mật thiết với nông dân, thuần nhất về đội ngũ, vừa ra đời đã băt gặp
ngay chủ nghĩa Mác- Lê Nin), đã đưa giai cấp công nhân trở thành giai cấp
tiên tiến nhất ở nước ta, là giai cấp duy nhât có khả năng lãnh đạo cách
mạng.
Điều kiện chính trị: phong trào công nhân.
Phong trào công nhân nổ ra sớm ( cuối thế kỷ 19 đầu 20), phong trào công
nhân đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng vô sản nhất là sau cách mạng tháng
Mười. Giai cấp công nhân Việt Nam trưởng thành nhanh chóng từ tự phát đã vươn
lên tự giác. Đây là điều kiện chính trị vững- đây là mảnh đất màu mỡ hoàn toàn
phù hợp với hạt giống vô sản.
* Trung tâm thu hút, tấm gương soi( Pháp, Nhật, Trung Quốc, Liên Xô) đối
với những nhà yêu nước có còn hấp dẫn nữa không.
Các nhà yêu nước khi ra nước ngoài đều muốn tìm cho đất nước mình một
cho đến trước năm 1991.
* Luồng tư tưởng cách mạng tư sản, vô sản đã đáp ứng yêu cầu của lịch sử,
được hậu thuẫn của quần chúng như thế nào từ đó quyết định khả năng đương đầu
với kẻ thù đến đâu.
Như ta đã biết cả tư sản và vô sản đều là kẻ thù của đế quốc. Để đương đầu
với những cuộc tấn công đàn áp của địch, yếu tố quyết định là có được sự ủng hộ
hậu thuẫn của quần chúng hay không. Vấn đề đựơc đặt ra là làm thế nào để quần
chúng ủng hộ, điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào đường lối:
Việt Nam quốc dân đảng không nêu ra được khảu hiệu ruộng đất điều này
giải thích tại sao khởi nghĩa Yên Bái chỉ có những chiến sỹ Yên Bái tham gia mà
không thấy nông dân tham gia chính vì vậy mag khởi nghĩa Yên Bái nhanh chóng
bị thất bại.
Xô Viết Nghệ Tĩnh: Quần chúng tham gia cùng vô sản để chiến đấu bởi lẽ
trong chiến đấu họ đã nhìn thấy lợi ích xác thực của mình đó là ruộng đất. Điều
này lý giải mặc dù Xô Viết Nghệ Tĩnh bị đàn áp nhưng nhanh chóng được phục hồi
và khi được phục hồi thì phát triển mạnh mẽ.
Trường THPT Chuyên Vĩnh Phúc
21
Chuyên đề trại hè Hùng Vương
Trường THPT Chuyên Vĩnh Phúc
Th.S Lê Đăng Thành
22