giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh hàng dệt may Việt Nam - Pdf 31

Lời mở đầu
Từ hơn một thập kỷ nay, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá trở
thành một xu thế khách quan và diễn ra nhanh chóng, vừa tạo cơ hội cho các nền
kinh tế vừa tăng sức ép cạnh tranh. Cạnh tranh là một trong những quy luật kinh tế cơ
bản của kinh tế thị trờng, là công cụ để thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo dựng nên
những doanh nghiệp thành đạt đủ sức cạnh tranh trên thị trờng trong nớc và quốc tế.
Vì thế doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải có khả năng cạnh tranh
cao. Đặc biệt đối với ngành sản xuất dệt may là ngành có tốc độ phát triển nhanh
chóng sản phẩm dệt may luôn chiếm tỷ trọng lớn và đứng vị trí thứ hai sau dầu thô
của nớc ta, có khả năng thâm nhập không chỉ những thị trờng quy định hạn ngạch mà
cả những thị trờng không có hạn ngạch.
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 2003 đạt 3,6 tỷ USD, tăng thêm 30%
so với năm 2002 là một mốc son mới của ngành dệt may, trong vòng 3 năm kim
ngạch xuất khẩu tăng gần hai lần.
Do có đặc điểm là không đòi hỏi vốn lớn, lại thu hồi vốn nhanh và sử dụng
nhiều lao động, là ngành hầu hết các nớc đang phát triển tham gia nên mức độ cạnh
tranh càng cao.
Từ năm 1995 đến nay, với những lợi thế so sánh về lao động, chi phí, hàng dệt may
Việt Nam đã từng bớc chiếm lĩnh đợc thị trờng quốc tế, trong đó có ba thị trờng lớn:
thị trờng EU, thị trờng Nhật Bản và thị ttrờng Mỹ. Nhng chỉ còn cha đầy chín tháng
nữa Hiệp định hàng dệt may trong khuôn khổ WTO sẽ đợc thực hiện hoàn toàn. Th-
ơng mại thế giới bớc vào giai đoạn mới - giai đoạn tự do hoá thơng mại hàng dệt
may. Khi hàng dệt may thế giới( ATC) chấm dứt, chuyển từ chế độ bảo hộ bằng hạn
ngạch sang cạnh tranh thực sự giữa các nớc xuất khẩu dệt may trong tổ chức thơng
mại thế giới thì cạnh tranh quốc tế sẽ ngày càng gay gắt. Hơn thế nữa sức cạnh tranh
của phần lớn sản phẩm dệt may của Việt Nam còn yếu cả về chất lợng và giá cả.
Cánh cửa duy nhất đảm bảo thành công là nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may
1
Việt Nam trên thị trờng quốc tế vì đó là vấn đề sống còn của các doanh nghiệp dệt
may Việt Nam hiện nay.
Để thực hiện đợc mục tiêu hàng dệt may Việt Nam giành thắng lợi trong cạnh

nghiệp chỉ cần xét đến tiềm năng sản xuất một hàng hoá hay dịch vụ ở một mức giá
ngang bằng hay thấp hơn mức giá phổ biến mà không phải có trợ cấp.
Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống Mỹ sử dụng định
nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia nh sau:
Cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó dới các điều kiện thị trờng tự do
và công bằng , có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng đợc các đòi hỏi của
các thị trờng quốc tế , đồng thời duy trì và mở rộng đợc thu nhập thực tế của nhân
dân nớc đó.
Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là:
Khả năng của nớc đó đạt đợc những thành quả nhanh và bền vững về mức sống
nghĩa là đạt đợc các tỉ lệ tăng trởng kinh tế kinh tế cao đợc xác định bằng sự thay đổi
của tổng sản phẩm quốc nội(GDP) trên đầu ngời theo thời gian.
3
Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức Hợp tác và phát triển
kinh tế (OECD) đã chọn định nghĩa về cạnh tranh, cố gắng kết hợp các doanh nghiệp
, ngành và quốc gia nh sau :
Khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc
làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.
Định nghĩa trên phù hợp vì nó phản ánh khả năng cạnh tranh quốc gia nằm
trong mối liên hệ trực tiếp với hoạt động cạnh tranh của các doanh nghiệp và lợi thế
cạnh tranh trở thành một nhân tố quan trọng trong hoạt động kinh tế .
2. Khả năng cạnh tranh là gì ?
Thuật ngữ khả năng cạnh tranh đợc sử dụng rộng rãi trong các phơng tiện
thông tin đại chúng, trong sách báo chuyên môn, trong giao tiếp hàng ngày của các
chuyên gia kinh tế, các nhà kinh doanh Nhng cho đến nay vẫn cha có một sự nhất
trí cao trong các học giả và giới chuyên môn về khái niệm khả năng cạnh tranh ở cả
cấp quốc gia lẫn cấp ngành, công ty, xí nghiệp. Lý do cơ bản là ở chỗ có nhiều cách
hiểu khác nhau về khả năng cạnh tranh.
Đối với một số ngời, khả năng cạnh tranh chỉ có ý nghĩa rất hẹp, đợc thể hiện
qua các chỉ số về tỷ giá thực và trong mối quan hệ thơng mại.Trong khi đó, đối với

Khả năng cạnh tranh của sản phẩm đợc đo bằng thị phần của sản phẩm đó trên
thị trờng .
Giữa ba cấp độ khả năng cạnh tranh có mối quan hệ qua lại mật thiết với
nhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định và phụ thuộc lẫn nhau. Một nền kinh tế có
khả năng cạnh tranh cao phải có nhiều doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh. Ngựơc
lại để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh, môi trờng kinh doanh
của nền kinh tế phải thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ mô phải rõ ràng, có thể dự
báo đợc, nền kinh tế phải ổn định, bộ máy nhà nớc phải trong sạch, hoạt động có
hiệu quả, có tính chuyên nghiệp.
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đợc thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp đợc đo thông qua lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp, thể hiện qua
chiến lợc kinh doanh của doanh nghiệp. Là tế bào của nền kinh tế , khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp tạo cơ sở cho khả năng cạnh tranh quốc gia.
Đồng thời khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện qua khả năng
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status