CÂU 1: CÔNG NGHIỆP HÓA TRƯỚC ĐỔI MỚI
*, ĐĂC ĐIỂM CƠ BẢN:
1. Chủ trương của Đảng
a. Mục tiêu và phương hướng của công nghiệp hóa XHCN
- Được hình thành từ Đại hội III của Đảng(tháng 9/1960).
- 25 năm tiến hành CNH qua 2 giai đoạn:
+ 1960-1975 : ở miền Bắc
• Từ 1 nền kinh tế lạc hậu tiến thăng lên CNXH
• Đảng khẳng định tính tất yếu của CNH đối với công cuộc xây dựng CNXH ở nước
ta
• Đại hội cũng chi rõ, để thực hiện được mục tiêu trên thì vấn đề quan trọng có tính
chất quyết định là thực hiện trang bị kỹ thuật cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thực
hiện cơ giới hóa sản xuất, từ đó nâng cao năng suất lao động.
• Công nghiệp hóa XHCN là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH
ở nước ta.
• Mục tiêu cơ bản: xây dựng một nền kinh tế XHCN cân đối và hiện đại; bước đầu
xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của CNXH
• Phương hướng chỉ đạo xây dựng và phát triển Công nghiệp (Hội nghị TW lần thứ
7(khóa III))
* Ưu tiên phát triển công nghiêp nặng 1 cách hợp lý
* kết hợp chặt chẽ phát triển CN với NN
* Ra sức phát triển Công nghiệp nhẹ song song với việc ưu tiên phát triển Công
nghiệp nặng
* Ra sức phát triển công nghiệp TW, đồng thời đẩy mạng phát triển Công
nghiệp địa phương.
+ 1975-1885: trên phạm vi cả nước
• Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, cả nước độc lập, thống nhất và quá độ lên
CNXH
• Đại hội IV của Đảng(12/1976) “Đẩy mạnh Công nghiệp hóa XHCN, xây dựng cơ sở
vật chất – kỹ thuật của CNXH, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất
lớn XHCN. Ưu tiên phát triển công nghiêp nặng 1 cách hợp lý trên cở sở phát triển
- Giáo dục: Có hàng chục trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề
đào tạo được đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật xấp xỉ 43 vạn người, tăng 19 lần so với năm
1960
có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo cơ sở ban đầu để nước ta phát triển nhanh hơn trong
các giai đoạn tiếp theo
CÂU 2:HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN:
- Hạn chế
+ Cơ sở vật chất kỹ thuật hết sức lạc hậu. Những ngành công nghiệp then chốt còn hết sức
nhỏ bé và chưa được xây dựng đồng bộ, chưa đủ sức làm nền tảng vững chắc cho nền kinh
tế quốc dân.
+ Lực lượng sản xuất trong nông nghiệp chỉ mới bước đầu phát triển, NN chưa đáp ứng
được nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho xã hội. Đất nước vẫn còn trong tình trạng
nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển, rơi vào khủng hoảng kinh tế- xã hội.
2
- Nguyên nhân:
+ khách quan: tiến hành công nghiệp hóa từ một nền kinh tế lạc hậu, nghèo nàn và trong
điều kiện chiến tranh kéo dài, vừa bị tàn phá nặng nề, vừa không thể tập trung sức người,
sức của cho công nghiệp hóa.
+ chủ quan: chúng ta đã mắc những sai lầm nghiêm trọng trong việc xác định mục tiêu,
bước đi về cơ sở vật chất, kỹ thuật, bố trí cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư,..v..v
Đó là những sai lầm xuất phát từ chủ quan duy ý chí
CÂU 3: .MỤC TIÊU, Ý NGHĨA CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA
3.1. Mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ
cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, ph hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất, mức sống vật chất v tinh thần cao, quốc phịng - an ninh vững chắc, dn giu, nước
mạnh, x hội cơng bằng, văn minh.
- Để thực hiện mục tiêu trên, ở mỗi thời kỳ phải đạt được những mục tiêu cụ thể. Đại hội X
xác định mục tiêu đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức để sớm đưa
nước ta ra khỏi tình trạng km pht triển, tạo nền tảng đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở
- Thời kỳ đổi mới CHH, HĐH tiến hành trong nền KTTT ĐH XHCN, nhiều thành phần.
Do đó CNH, HĐH không chỉ là việc của Nhà nước mà là sự nghiệp của toàn dân, của mọi
thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo.
Thời kỳ trước đổi mới phân bố nguồn lực để CNh được thực hiện bằng cơ chế kế hoạch
hóa tập trung của Nhà nước. Thời kỳ đổi mới thì vic phn bố nguồn lực chủ yếu bằng cơ chế
thị trường.
+ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế ở nước ta hiện nay diễn ra trong bối cảnh toàn
cầu hóa kinh tế -> đây là xu hướng kháchquan tất yếu -> phải hội nhập và mở rộng quan hệ
kinh tế quốc tế.
- Hội nhập KT quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm: thu hút vố đầu tư nước
ngoài, thu hút công nghệ hiện đại, học tập kinh nghiệm quản lý tin tiến của Thế giới ->
sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng km ph triển.
- Hội nhập kinh tế quốc tế cịn nhằm khai thc thị trường Thế giới để tiêu thụ những sản
phẩm mà nước ta có nhiều lợi thế, có sức cạnh tranh cao.
Ba là, lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền
vững
- Để tăng trưởng kinh tế cần 5 yếu tố chủ yếu: vốn, khoa học công nghệ, con người, thể chế
chính trị v quản lý nh nước, cơ cấu kinh tế thì yếu tố con người là yếu tố quyết định.
Con người là quan trọng nhất vì con người có khả năng sáng tạo ra các nhân tố khác, và sử
dụng các nhân tố đó.
- Muốn công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì phải đầy tư nhân tố con người => coi giáo dục là
quốc sách hàng đầu
Phải tạo ra nguồn lực phù hợp, phải đông đảo và đồng bộ.
Bốn là, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Khoa học cơng nghệ cĩ vai trị quyết định đến tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản
xuất, nâng cao lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung.
- Muốn đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH gắn với phát triển Kinh tế tri thức thì pht triển
khoa học cơng nghệ l yếu cầu tất yếu v bức xc.
Phải đẩy mạnh việc chọn lọc nhập công nghệ, mua sáng chế kết hợp với phát triển công
- Trong nền kinh tế tri thức, tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là vốn quý nhất,
là nguồn lực quan trọng hàng đầu, quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
- Trong nền kinh tế tri thức, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động kinh tế có những
biến đổi sâu sắc, nhanh chóng; trong đó các các ngành kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào các
thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ ngày càng tăng và chiếm đa số.
- Trong nền kinh tế tri thức, công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh
vực và thiết lập được các mạng thông tin đa phương diện được phủ khắp nước, nối với hầu
hết các tổ chức, các gia đình. Thông tin trở thành tài nguyên quan trọng nhất của nền kinh
tế.
- Trong nền kinh tế tri thức, nhuồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hóa; sự sáng tạo,
đổi mới, học tập trở thành yêu cầu thường xuyên đối với mọi người và phát triển cong
người trở thành nhiệm vụ trung tâm của xã hội.
- Trong nền kinh tế tri thức, mọi hoạt động đều có liên quan đến vấn đề toàn cầu hóa kinh
tế, có tác động tích cực hoặc tiêu cực sâu rộng tới nhiều mặt của đời sống xã hội trong mỗi
quốc gia và trên toàn thế giới.
* Yêu cầu đối với Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
- Nhất thiết phải tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn
những thành tựu công nghệ hiện đại và tri thức mới;
- Kết hợp quá trình phát tuần tự với đi tắt đón đầu.
- CNH, HĐH gắn với kinh tế trí thức
- Kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân
loại
- Từng bước phát triển kinh tế tri thức, để vừa phát triển kinh tế - xã hội nhanh bền vững
vừa rút ngắn được khoảng cách với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Câu 5 : những hiểu biết của bạn vể cơ chế bao cấp
6
thời bao cấp là tên gọi được sử dụng tại Việt Nam để chỉ một giai đoạn mà hầu hết sinh
hoạt kinh tế diễn ra dưới nền kinh tế kế hoạch hóa, một đặc điểm của nền kinh tế theo chủ
nghĩa cộng sản. Hàng hóa được nhà nước phân phối theo chế độ tem phiếu, hàng hóa
không được mua bán tự do trên thị trường, không được phép vận chuyển tự do hàng hoá từ
luật.
Qua hơn 25 năm đổi mới, tư duy về kinh tế thị trường của Đảng ta ngày càng hoàn thiện
hơn. Nếu ở Đại hội VI, Đảng ta mới khẳng định sự cần thiết phải sử dụng quan hệ hàng
hóa - tiền tệ dưới chủ nghĩa xã hội thì đến Đại hội VII và Đại hội VIII Đảng đã khẳng định
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội
IX tiếp tục đánh dấu thêm một bước phát triển mới trong đổi mới tư duy lý luận kinh tế của
Đảng, đã xác định: Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô
hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đại hội X
làm sáng tỏ thêm nội dung cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam, đó là nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường, nâng
cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự
vận hành các loại hình thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh, phát triển
mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh. Nền kinh tế
không chỉ độc tôn bàn tay kế hoạch của Nhà nước, mà phải được vận hành bởi hai bàn tay:
thị trường và Nhà nước. Thực hiện cơ chế thị trường đã khuyến khích sự làm giàu hợp
pháp, tháo gỡ sự kìm hãm sản xuất và lưu thông. Cơ chế thị trường cũng đã góp phần phát
huy lợi thế so sánh giữa các vùng, các khu vực trong nước, giữa thành thị và nông thôn,
góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi, cải thiện đời sống nhân dân.
Sự phá bỏ độc quyền, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo điều kiện cho các thành
phần kinh tế, các doanh nghiệp phát huy tính năng động, sáng tạo trong hoạt động sản xuất
kinh doanh.
Quá trình đổi mới tư duy về hội nhập kinh tế quốc tế thật sự bắt đầu cùng với sự nghiệp đổi
mới được Đại hội VI của Đảng khởi xướng. Đến Đại hội VII, chủ trương hội nhập kinh tế
quốc tế được khẳng định là chủ trương lớn, chủ đạo của đường lối đổi mới của nước ta. Đại
đội IX của Đảng đã khẳng định chủ trương: Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ
nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh có hiệu quả
và bền vững. Đổi mới tư duy kinh tế của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại thành
tựu to lớn cho đất nước. Đến nay Việt Nam đã có quan hệ hợp tác với nhiều tổ chức kinh
tế, tiền tệ thế giới như Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng
phát triển châu Á (ADB); gia nhập Hiệp hội các nước Đông - Nam Á (ASEAN) năm 1995
giao lưu, hợp tác giữa các quốc gia, trên cơ sở đó các quốc gia có thể tiếp thu những thành
tựu của văn minh nhân loại để phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội. Nó là quá trình vừa
hợp tác để phát triển, vừa đấu tranh rất phức tạp để tồn tại, đặc biệt là đấu tranh giữa các
nước đang phát triển để bảo vệ lợi ích của mình, trong đó có Việt Nam. Toàn cầu hóa tạo
điều kiện thuận lợi cho các quốc gia thực hiện công cuộc cải cách của mình, đồng thời
cũng là yêu cầu, sức ép đối với các quốc gia trong việc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh
tế, đặc biệt là các chính sách và phương thức quản lý vĩ mô. Toàn cầu hóa tạo dựng các
nhân tố mới và điều kiện mới cho sự phát triển của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế
trên cơ sở trình độ phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất, là điều kiện để khơi
thông các nguồn lực trong và ngoài nước, mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ và
các kinh nghiệm quản lý. Tuy nhiên toàn cầu hóa cũng tạo ra nhiều thách thức không nhỏ
đối với các quốc gia, nhất là những quốc gia đang phát triển. Do vậy, để khỏi bị gạt ra
ngoài lề phát triển của thế giới và hội nhập kinh tế quốc tế thành công thì chúng ta phải tiếp
tục đổi mới trong nhận thức, trong tư duy về kinh tế.
9
Ba là, năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm còn yếu. Một trong
những thách thức lớn nhất đối với Việt Nam hiện nay trong hội nhập kinh tế quốc tế là sức
cạnh tranh của các doanh nghiệp, sản phẩm và quốc gia còn yếu, sức cạnh tranh chủ yếu
dựa vào lợi thế lao động rẻ và tài nguyên. Theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới
(WEF) thì Việt Nam vẫn nằm trong số 60 nước có môi trường kinh doanh khó khăn nhất;
đánh giá của WEF, Ngân hàng thế giới và Công ty tài chính quốc tế về năng lực cạnh tranh
toàn cầu thì năm 2006, 2007 Việt Nam xếp hạng 77/125 quốc gia, tụt 3 bậc so với năm
2005. Nguyên nhân của tình trạng này là do chúng ta chậm đổi mới về tư duy kinh tế trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Sự đổi mới không theo kịp với xu hướng phát triển của
thời đại đã làm kìm hãm phát triển của doanh nghiệp và quốc gia. Thời gian qua, chúng ta
chỉ tập trung vào các nhân tố bên trong, dựa vào nội lực là chính, chưa thật sự đánh giá
đúng vai trò, cũng như sức ép từ các nhân tố bên ngoài trong phát triển kinh tế. Doanh
nghiệp chưa thật sự quan tâm đến hội nhập, chưa thật sự chủ động thay đổi tư duy, cách
thức tổ chức cho phù hợp với điều kiện mới của môi trường cạnh tranh quốc tế. Trong hơn
25 năm đổi mới, mặc dù chúng ta đã đạt được những thành tựu kinh tế hết sức ấn tượng,
cũng chỉ rõ những khuyết điểm, yếu kém: Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả
và sức cạnh tranh thấp; một số vấn đề văn hóa, xã hội bức xúc và gay gắt chậm được giải
quyết; cơ chế chính sách không đồng bộ và chưa tạo động lực mạnh để phát triển; tình
trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không
nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng.
Đại hội xác định mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam là phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội xác định động lực chủ yếu để phát triển đất nước là
đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do
Đảng lãnh đạo.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX gồm 150 ủy viên. Ban Chấp
hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 13 đồng chí; Ban Bí thư gồm 9 đồng chí. Đồng
chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày 18-4 đến
ngày 25-4-2006 tại Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội có 1176 đại biểu, đại diện cho trên 3,1 triệu
đảng viên.
Đồng chí Trần Đức Lương, Ủy viên Bộ Chính trị đọc Diễn văn khai mạc. Đồng chí Tổng
Bí thư Nông Đức Mạnh đọc Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX “Nâng
cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy
mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”.
Các Văn kiện trình Đại hội: Báo cáo Chính trị; Báo cáo về phương hướng phát triển kinh
tế-xã hội 5 năm 2006-2010; Báo cáo công tác xây dựng Đảng; Báo cáo về một số vấn đề
bổ sung sửa đổi Điều lệ Đảng và dự thảo Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi); Báo cáo về kết
quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII trên lĩnh vực đấu tranh phòng,
chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong nhiệm kỳ Đại hội IX và Báo cáo kiểm điểm
sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX.
Đại hội xác định mục tiêu và phương hướng tổng quát của 5 năm 2006- 2010 là: Nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh
toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hóa,
tác động tiêu cực của cơ chế thị trường.
Tác động đến thị trường chủ yếu thông qua cơ chế, chính sách và các công cụ kinh tế;
đồng thời sử dụng kịp thời có hiệu quả một số biện pháp cần thiết khi thị trường trong
nước hoạt động không có hiệu quả hoặc thị trường khu vực và thế giới có biến động lớn.
Thực hiện quản lý nhà nước bằng hệ thống pháp luật, giảm tối đa sự can thiệp hành
chính vào hoạt động của thị trường và doanh nghiệp. Tách chức năng quản lý hành chính
của Nhà nước khỏi chức năng quản lý kinh doanh của doanh nghiệp, xóa bỏ “chế độ chủ
quản”; phân biệt rõ ràng hệ thống cơ quan hành chính công và hệ thống cơ quan sự nghiệp
12
dịch vụ công cộng (giáo dục, khoa học và công nghệ, y tế, văn hóa, thể dục thể thao); phát
triển mạnh các dịch vụ công cộng.
Tiếp tục đổi mới chính sách tài chính, tiền tệ, điều tiết thu nhập. Bảo đảm tính ổn định
và sự phát triển bền vững của nền tài chính quốc gia.
Định rõ mối quan hệ giữa Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành, ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và
xã hội.
Phát triển thị trường hàng hóa và dịch vụ. Thu hẹp những lĩnh vực Nhà nước độc quyền
kinh doanh, xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp; tiếp tục đổi mới cơ chế kiểm soát giá cả. Phát
triển mạnh thương mại trong nước ở tất cả các vùng và tăng nhanh xuất khẩu, nhập khẩu.
Đẩy mạnh tự do hóa thương mại phù hợp các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế. Tạo
bước phát triển mới, nhanh và toàn diện thị trường dịch vụ, nhất là những dịch vụ cao cấp,
có hàm lượng trí tuệ cao, giá trị gia tăng lớn. Phấn đấu đưa tốc độ tăng trưởng của khu vực
dịch vụ cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP. Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng hoạt
động du lịch, đa dạng hóa các loại hình du lịch. Phát triển nhanh hơn các dịch vụ vận tải,
viễn thông, dịch vụ tài chính, ngân hàng, dịch vụ tư vấn.
Từng bước phát triển vững chắc thị trường tài chính, hoàn thiện thị trường tiền tệ; lành
mạnh hóa các hoạt động giao dịch vốn ngắn hạn và mua bán các giấy tờ có giá trên thị
trường. Phát triển mạnh thị trường vốn, thúc đẩy mạnh hơn hoạt động của thị trường chứng
khoán gắn với tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài, phát triển hình thức cổ phần và huy động các nguồn vốn trong xã hội cho đầu
thương hiệu uy tín, trong đó chủ lực là một số tập đoàn kinh tế lớn dựa trên hình thức cổ
phần. Nhà nước định hướng, tạo môi trường để phát triển có hiệu quả các doanh nghiệp
theo cơ chế thị trường; bồi dưỡng, đào tạo và biểu dương các doanh nhân có tài, có đức và
thành đạt.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách để các doanh nghiệp nhà nước thật sự hoạt động trong
môi trường cạnh tranh, công khai, minh bạch, nâng cao hiệu quả. Xóa bỏ độc quyền và đặc
quyền sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước có quyền
tài sản, thật sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh, cạnh tranh, chấp nhận rủi ro.
Gắn trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của người quản lý doanh nghiệp với kết quả hoạt
động của doanh nghiệp. Chăm lo đào tạo đội ngũ quản trị giỏi đáp ứng tốt yêu cầu quản lý
công ty theo chế độ hiện đại.
Tiếp tục đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước,
trọng tâm là cổ phần hóa. Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, tập trung chủ yếu vào một số
lĩnh vực kết cấu hạ tầng, sản xuất tư liệu sản xuất và dịch vụ quan trọng của nền kinh tế,
vào một số lĩnh vực công ích. Đẩy mạnh và mở rộng diện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà
nước, kể cả các tổng công ty nhà nước; đề phòng và khắc phục những lệch lạc, tiêu cực
trong quá trình cổ phần hóa. Giá trị doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa, kể cả giá trị
quyền sử dụng đất, phải theo cơ chế thị trường.
Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, tầm cỡ khu vực, có sự tham
gia cổ phần của Nhà nước, của tư nhân trong và ngoài nước, các công ty bảo hiểm, các quĩ
đầu tư..., trong đó Nhà nước giữ cổ phần chi phối.
Tổng kết thực tiễn để sớm có chính sách, cơ chế cụ thể khuyến khích phát triển mạnh
hơn các loại hình kinh tế tập thể đa dạng về hình thức sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất
kinh doanh, trước hết là các hợp tác xã kiểu mới, các hợp tác xã mà thành viên tham gia
gồm cả thể nhân và pháp nhân.
Khuyến khích huy động cổ phần và các nguồn vốn, không ngừng tăng thêm vốn đầu tư
phát triển, tăng tài sản và quĩ không chia. Các hợp tác xã cổ phần từng bước trở thành thực
thể chủ yếu của kinh tế tập thể.
14