PHẦN ĐẦU : KHÁI QUÁT
Có thể nói rằng vấn đề văn hoá nói chung và tín ngưỡng nói riêng, là một
vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân ta, đặc biệt là
của các dân tộc miền núi vùng sâu, vùng xa. Vì chưa được giác ngộ đầy đủ về tư
tưởng và cơ sở về kinh tế - xã hội còn yếu kém, vì vậy muốn nâng cao đời sống
tinh thần cũng như đời sống vật chất của nhân dân ta đặc biệt trong dân tộc
Mường ở một số nơi trong đất nước ta… thì cần đi sâu vào quan sát, nghiên cứu
đời sống tinh thần của dân tộc Mường một cách khoa học.
Với tính chất là bản báo cáo khoa học cấp Khoa - Trường, hơn nữa là sinh
viên năm thứ nhất cộng với tri thức khoa học còn chưa đầy đủ, vậy em mong các
thầy cô cho những ý kiến đóng góp để báo cáo khoa học được tốt hơn và làm
tiền đề cho giai đoạn sau này.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI .
Dân tộc Mường cũng như tất cả các dân tộc khác sống và tồn tại trên lãnh
thổ nước ta, ngoài những nhu cầu sống tất yếu (cơm, áo…) thì dân tộc Mường
còn luôn luôn tồn tại một vấn đề đó là : Làm thế nào để có một đời sống văn hoá
mang đậm bản sắc dân tộc mà không “bế quan toả cảng”. Đó là một vấn đề lớn
đang đặt ra cho dân tộc Mường trong giai đoạn phát triển hiện nay. Thời buổi
kinh tế thị trường thời buổi của vi tính và công nghệ sinh học.
- Tín ngưỡng là một phần nhỏ của Tôn giáo, nó như được nâng nui chăm
sóc qua tiến trình phát triển của lịch sử. Để hiểu được đời sống văn hoá nói
chung (văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần) thì cần hiểu rằng ngoài văn hoá
vật chất của dân tộc Mường thì còn tồn tại song song là văn hoá tinh thần (tôn
giáo, tín ngưỡng, thờ cúng…) do vấn đề tín ngưỡng là một vấn đề tinh thần mà
nó tồn tại ở trong mỗi con người. Mà tín ngưỡng thường là vấn đề xuất phát từ
xã hội với những hiện tượng tự nhiên.
- Mặt khác vấn đề tín ngưỡng là một vấn đề bức xúc của các dân tộc nước
ta nói chung và của dân tộc Mường nói riêng, cũng chính như Đảng và Nhà
nước ta đã nhận định rằng vấn đề dân tộc là một vấn đề cực kì quan trọng của
nước ta trong giai đoạn phát triển tiến lên xã hội chủ nghĩa.
chức này cho nhân dân ta chống phá nhà nước mà đặc biệt là đối với các dân tộc
thiểu số, do ít có hiểu biết,ít có cơ hội tiếp cận với các điều kiện kĩ thuật hiện
đại…. vì vậy chúng dùng nhiều chính sách làm ngu dân, dụ dỗ nhân dân ta
chống phá lại nhà nước ta. Đó là một chính sách cực kì nguy hiểm mà bọn phản
động dùng để chống phá nước ta, đó là một trong những mục tiêu mà báo cáo
khoa học này muốn tìm hướng giải quyết.
+ Do quá trình nhận thức chính trị của nhân dân ta còn yếu, lại cộng với
sự du nhập hàng loạt các loại văn hoá mới với hai chiều hướng (tích cực và tiêu
3
cực). Để tiếp tục gìn giữ bản sắc và phát huy hơn nữa các bản sắc dân tộc đã có
và tiếp thu các loại văn hoá có tính tích cực cho dân tộc mình. Mặt khác đó cũng
là quá trình nhận thức - tín ngưỡng trải qua quá trình phát triển của xã hội Việt
Nam nói riêng và xã hội thế giới nói chung thì nó đã phát huy được những gì ?,
vai trò của nó ra sao đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội, ý nghĩa của việc
đóng góp đó, các phương thức - loại hình tác động. Nhưng cũng phải hiểu rằng
nó cũng còn tồn tại những mặt chưa tốt, mà qua đây cần vạch ra, chỉ rõ để tìm
biện pháp khắc phục dần, đưa đến một kết quả tối ưu.
+Tìm hiểu về vấn đề này chính để làm sáng tỏ các nguồn gốc tín ngưỡng,
tại sao lại có loại tín ngưỡng ấy ? tín ngưỡng ấy nó được tiến hành như thế
nào… Nó có tác động gì đối với đời sống của các dân tộc thiểu số ở vùng sâu
vùng sa, cụ thể là dân tộc Mường.
+ Mặt khác tìm hiểu về vấn đề này để khẳng định vị trí của dân tộc
Mường so với các dân tộc khác, thông qua hình thức so sánh là “Tín ngưỡng dân
gian”.
+ Mục đích cuối cùng của báo cáo khoa học là để nâng cao đời sống tinh
thần cho đồng bào dân tộc miền núi và từ đó củng cố đời sống tinh thần, đưa con
người đi đúng quỹ đạo của mình và làm sao để mình - cá nhân mỗi con người có
thể đóng góp vai trò của mình trong sự nghiệp tiến lên chủ nghĩa xã hội của
nước ta.
Đó là một số mục tiêu mà báo cáo khoa học này sẽ giải quyết, tuy nó
niềm tin của quần chúng nhân dân vào một loại tôn giáo nào đó. Từ đó mà nó
hình thành lên một câu hỏi : Vậy thì tín ngưỡng là gi? Theo từ điển tiếng Việt thì
tín ngưỡng là “tin theo một tôn giáo nào đó”
*
. Như vậy tín ngưỡng chỉ là một
niềm tin tôn giáo. Mỗi tín đồ của một tôn giáo nào thì đều có niềm tin riêng của
mình, khác với niềm tin của các tôn giáo khác. Hiện nay do quá trình du nhập
nhiều loại tín ngưỡng khác nhau vào đất nước ta, nên đã hình thành một số tư
tưởng hiểu chưa đúng về thuật ngữ này, thường coi tín ngưỡng cũng là một tôn
giáo (tín ngưỡng dân gian là tín ngưỡng sơ khai). Tín ngưỡng không có ý chí là
một tôn giáo, mà chỉ là một niềm tin có tính chất tôn giáo. Hiến pháp nước ta có
ghi rằng : “Mọi công dân đều có quyền tự do tín ngưỡng”, điều đó nói lên rằng
mỗt công dân có thể tự mình chọn cho mình một tôn giáo riêng mà không phải
phụ thuộc vào ai, và h tộc gì. Tức là mỗi người có một niềm tin tôn giáo riêng
*
Nguyễn Minh San : Ng y xuân và ới tục hái lộc vay tiền b Chúa kho - tà ạp chí VHNT.H à
Nội, số 6/1993.
*
Viện Ngôn ngữ học: Từ điển tiếng Việt - NXB Đ Nà ẵng-Trung tâm từ điển học H Nà ội-
Đ Nà ẵng 1997-tr 960
6
nào đó. Nói cách khác nhà nước ta không cấm mọi người tin theo một niềm tin
tôn giáo nào đó. Đại đa số các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đều tin theo tôn giáo
sơ khai mà như ngành dân tộc học gọi là “đa thần giáo” xuất phát từ quan niệm
“vạn vật hữu hình” - mọi vật sinh ra đều phải có linh hồn. Mặt khác cũng với
một số nhà khoa học thì các dân tộc thiểu số cho rằng mọi sự vật và hiện tượng
xung quanh ta và cả bản thân con người đều có sự sống (người Angonkin - Bắc
Mỹ gọi là “Anima”- sức sống). Nhưng ở các nước Đông Nam Á thì lại cho đó là
hồn, vía. Những “sức sống” đó đều mang tính chất hai mặt (có mặt có lợi, có
mặt có hại) cho con người gia súc và cây trồng… Vì thế, mà các dân tộc thiểu số
phản ánh trong tín ngưỡng của người nguyên thuỷ còn có nhiều hạn chế. Sự hạn
chế ấy không phải vì chỉ số thông minh của người hiện đại, mà đơn giản như đã
nói, chỉ là do họ chưa có quá trình tích luỹ các nhận thức của mình. Những nhận
thức của họ mới chỉ là những cảm giác, tri giác ban đầu về các hiện thực. Những
cảm giác tri giác ấy chỉ là những cảm giác, tri giác đơn lẻ, chưa phản ánh được
sự liên hệ mật thiết giữa sự việc và hiện tượng của thế giới khách quan. Chúng
(cảm giác và tri giác) chưa đủ sức để giúp họ (người tiền sử) khám phá về những
quy luật của tự nhiêncũng như của xã hội. Người tiền sử không thể hiểu nổi vì
sao trời nắng, vì sao trời mưa, vì sao trời có gió, có bão, vì sao lại có đất, vì sao
con người lại mất (chết)… Họ càng ngạc nhiên, hoảng sợ hơn khi thấy trong
giấc mơ lúc ngủ, hình ảnh, dáng nói, ý nghĩa, tình cảm của người đã chết hiện về
với họ (trong ý thức - giấc mơ), từ đó đưa họ đến cảm giác trong bất cứ sinh vật,
sự vật nàocũng có một cái gì đó không nhìn thấy. Thế giới xung quanh họ “gồm
vô số những thực thể sinh động khác nhau, có cái hữu hình, có cái vô hình,
nhưng tất thảy đều có một phần tinh thần, một phần vật chất, hai phần đó kết
hợp với nhau một cách bí mật”
*
. Chính sự hoạt động của cái vô hình đó, mà họ
thường gọi đó là cái vô hình, cái linh hồn, hồn linh hay thần linh làm người
cười, vui, khóc, đau khổ… ở nhiều trạng thái khác nhau.
*
Trích dẫn của Powý Jahn cowper - the mcating of culture - Will Durant Xuất bản năm
1974.
8
“Vũ trụ đầy thân linh”! đó là một thuyết, là một phạm trù của triết học
dùng để nói về tín ngưỡng. Mặt khác “vũ trụ thần linh” ! từ mỗi tinh cầu, của
mỗi phiến đá, phát ra một hiệu thế, ta hoang mang cảm thấy vô số năng lực gần
như là thần lực, mạnh có, yếu có, lớn có, nhỏ có, hết thảy đều vận chuyển trong
khoảng trời - đất, tới mục tiêu lú mật của chúng”
*
1974.
(3)
Trích dẫn của Nguyễn Huy Dinh, trang 14
(1)
Xem S.Freud- trang 126
(2)
Trích W.Wundt - trang 127.
9
người chết và người sống, thì Wundt lại viết : “Trong số các hành động mà
huyền thoại của mọi dân tộc gán buộc cho quy thần, thì số hành động tác hại
vượt hơn hẳng những hành động tác phúc, đến mức đã trở thành hiển nhiên
trong tín ngưỡng của các dân tộc, quỷ thần độc ác là cổ xưa hơn quỷ thần tốt
lành”
(4)
còn đối với Westermark trong tác phẩm “Nguồn gốc và sự phát triển
của ý niệm luân lý” của mình thì đã phát biểu như sau : Những sự kiện tôi có
trong tay cho phép tôi đi đến kết luận chung rằng, những người chết thường lại
coi là kẻ thù hơn bạn hữu, và rằng Jevons và Grant Allen đã lầm khi hai ông
khẳng định ngày xưa người ta tin rằng tính tàn ác của người chết hướng vào
ngoài là chính, khi ấy họ lại trải mở lòng ân cần bề trên đối với con cháu họ và
thành viên trong thị tộc họ”
(5)
.
-Tất cả những giải thích như trên thì chúng mới lý giải được một mặt của
thái độ sợ sệt - một phần nền tảng để hình thành tín ngưỡng dân gian chứ chưa
lý giải được sự sùng kính của người nguyên thuỷ trước cái chết. Cũng chính như
S. Freud chỉ bằng những lý giải của mình trong phân tâm học cho rằng : bản
chất của thái độ đối với người chết là một cảm thức hai mặt và được tiến hành
bằng một cơ chế tâm thần đặc biệt, trong phân tâm học quen gọi là ngoại phóng.
Ông viết : “chúng tôi dám chắc những cảm thức có tính chất ấy, tức vừa âu yếm
Âm điệu cầu xin của bàiví này của dân tộc Mường ở Phú Thọ làm cho
giọng cầu xin trở thành những điệu xướng ca vừa trữ tình, lại vừa trang nghiêm,
các động tác cầu xin tương ứng cũng không phàm tục như những động tác sinh
hoạt hàng ngày, mà chúng đã cách điệu hoá thành các chuỗi động tác nhảy
múa… Tất cả những hình thức biểu hiện như vậy đều có trong các lễ hội cổ
truyền, mà ngày nay khi quan sát chúng ta luôn nhận thấy được một cái gì đó ở
các lễ hội này, đồng nghĩa với việc thờ cúng thì là hoạt động song song là tín
ngưỡng thờ các vị thần của dân tộc hay một vài vị thần linh nào đó. Có thể nói
rằng, nội dung chính của một lễ hội là thờ cúng các vị thần linh, nhưng mỗi vị
thần lại diễn tả một mong muống ước vọng rất riêng, biểu hiện nhận thức của
con người về một mánh hiện thực. Do vậy mới nói rằng, lễ hội là nơi thực hành
các tín ngưỡng nó được ra đời và hình thành để thực hiện một tín ngưỡng, nó có
nguồn gốc từ các tín ngưỡng.
(1)
Trích văn hoá dân gian Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam á - Đinh Khánh
11
-Có thể nói rằng, về thực chất, tín ngưỡng ấy là sự phản ánh những nhận
thức ban đầu của loài người về các hiện thực tự nhiên và xã hội ở buổi bình
minh của lịch sử (nên nó còn được các nhà nhân học, dân tộc học… gọi là tôn
giáo sơ khai, hoặc tự nhiên…). Một số người theo thuyết tiến hoá luận như :
Jfrazen, E.B Tylor, Ư.Wundt… thì cho rằng về bản chất thì tôn giáo và tín
ngưỡng không có gì khác nhau về bản chất vì chúng đều là những phương thức
nhận thức hiện thực tác động trở lại hiện thực được đặc định bởi sự từ bỏ tìm
kiếm thú vui và bởi sự lựa chọn đối tượng bên ngoài phụ thuộc vào những lề
thói và những yêu sách của hiện thực. Trước những lời giải thích như vậy thì
chúng ta có thể tiến hành mô hình hoá của những quan niệm về thế giới như
sau :
Quan niệm về sự phát triển của ý thức trong thế giới
Quan niệm về
thế giới.
-Khách thể hoá
-Cắm chốt con
dục vào cha mẹ
-Quy phó bản
thân cho chủ
thần
-Hệ thống nghi
thức, nghi lễ (tôn
giáo
(1)
(1)
Ông đã đưa ra một v i ví dà ụ để chứng minh cho những luận điểm trên : “Nếu tôi muốn
trời mưa tôi chỉ việc l m mà ộtcái gì đó giống như mưa hay nhắc nhở đêbns mưa, ởmotj
bước cao hơn của văn minh, người ta sẽ thay thế thủ tục ma thuật ấy bằng những đám
rước xung quanh một ngôi đền v bà ằng những thỉnh nghiệm những chư hầu cư trú tại đó
12
Quan biệm khoa
học
Lựa chọn đối
tượng bên ngoài
Không còn chỗ
cho tính toàn
năng tư tưởng
Thực nghiệm
khoa học
-Như vậy về bản chất tín ngưỡng cũng như tôn giáo (một lần đã nói ở
trên) là phương thức nhận thức và “cải tạo” hiện thực (ý thức) được thông qua
hệ não con người, qua trải nghiệm thực tiễn. Nhưng giữa chúng cũng có sự khác
nhau, nhưng chỉ là những đặc điểm mang tính cách lịch sử, với nguồn gốc ra đời
(nguyên nhân nào dẫn tới sự ra đời) đối tượng của chúng là gì? kỹ xảo, phương
thân khí quyển thì có thể gây nên mưa móc. Trích Freud- tr 168-169.
13
hình thành trên cơ sở trực
cảm cá thể (chưa có hệ thống
kinh)
đức về niềm tin có tình cảm
cộng đồng về niềm tin)
Phạm vi ảnh
hưởng và
khung cảnh
xã hội
-Hẹp
-Thường là các cộng động tộc
người
-ở các xã hội chưa có nhà
nước
- Rộng
-Cộng đồng tộc người, quốc
gia thế giới
-ở các xã hội nhà nước
Như vậy, các tín ngưỡng về bản chất là những hệ thống tri thức, chúng
không chỉ giải thích các hiện tượng riêng biệt, mà còn cho phép nhận thức thế
giới như một toàn thể, mà nói như Wundt thì chúng là “sự diễn đạt trí tuệ về
trạng thái tự nhiên của nhân loại”. Bằng phép loại suy, chúng ta có thể cho
rằng : Người ta nghĩ thế nào thì hành động thế ấy, tức là, tuỳ theo sự phát triển
của nhận thức mà con người có phương thức hành động tương ứng. (như ở bảng
trên thì tương ứng với ba trình độ nhận thức là hồn linh luận, tôn giáo, khoa học,
thì có ba phương thức tác động là ma thuật, lễ nghi tôn giáo và khoa học).
Đến đây chúng ta thấy rõ rằng : so sánh tín ngưỡng, tôn giáo với mê tín là
một việc làm thiếu tính phương pháp. Sở dĩ như vậy là vì người ta đã nhầm lẫn
thời kỳ sơ khai, khi mà cuộc sống của con người rất gần gũi với vạn vật của tự
nhiên, con người thường xuyên trực tiếp phải đối phó với thiên nhiên, vì vậy
thiên nhiên là đối tượng nhận thức của chính họ. Và mối quan hệ giữa con người
với tự nhiên, được coi là mối quan hệ thứ yếu, chi phối ảnh hưởng đến mọi quan
hệ xã hội khác. Khi dùng tên các loại động vật đặt tên cho các loài thị tộc cổ
xưa, cùng với sự thờ cúng các loại động - thực vật (tổ tiên) là yếu tố chi phối đời
sống có tính định hướng của môi trường tự nhiên. Với đời sống xã hội của người
cổ xưa.
Bước vào thời tiền sử, khi loài người chuyển từ săn bắn, hái lượm sang
chăn nuôi, trồng trọt thì môi trường tự nhiên vẫn là yếu tố quyết định, ảnh
15