Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua bán luận văn ths luật - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ VĂN MINH

TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG MUA BÁN
Chuyên ngành: Luật dân sự
Mã số: 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHÙNG TRUNG TẬP

HÀ NỘI - 2013


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Lê Văn Minh


bán ................................................................................................... 20
1.3.

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH VỀ
CÁC HÌNH THỨC TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG
MUA BÁN ....................................................................................... 25

1.3.1. Giai đoạn từ trước năm 1991 ........................................................... 26
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1991 – 1995 ......................................................... 28


1.3.3. Giai đoạn từ năm 1995 – 2005 ......................................................... 30
1.3.4. Giai đoạn từ sau năm 2005 đến nay ................................................. 31
Chương 2: ĐIỀU KIỆN PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM DO VI
PHẠM HỢP ĐỒNG MUA BÁNVÀ TRÁCH NHIỆM DO
VI PHẠM HỢP ĐỒNG MUA BÁN .............................................. 33
2.1.

ĐIỀU KIỆN PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM
HỢP ĐỒNG MUA BÁN ................................................................. 33

2.1.1. Có Hành vi vi phạm hợp đồng mua bán ........................................... 33
2.1.2. Có lỗi của bên vi phạm hợp đồng mua bán ...................................... 36
2.1.3. Có thiệt hại xảy ra trong thực tế ...................................................... 40
2.1.4. Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và
thiệt hại thực tế ................................................................................ 41
2.2.

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG MUA BÁN ........ 43


3.2.5. Về căn cứ miễn trách nhiệm............................................................. 93
KẾT LUẬN CHUNG ................................................................................. 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 98


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hợp đồng là công cụ pháp lý không thể thiếu để xác lập quan hệ giao
lưu kinh tế,dân sự, khoa học…giữa các cá nhân và tổ chức với nhau. Trong
cuộc sống hàng ngày của chúng ta, mỗi con người, mỗi tổ chức sẽ có rất nhiều
nhu cầu mua bán trao đổi hàng hoá khác nhau để thực hiện những nhu cầu của
mình, họ phải thiết lập các hợp đồng, hợp đồng được thực hiện trong hầu hết
các quan hệ mua bán, trao đổi hàng hoá dịch vụ. Trong đó hợp đồng mua bán
là loại hợp đồng chủ yếu, hợp đồng mua bán là sự tự do, tự nguyện giao kết
của các chủ thể, thể hiện ý chí của các chủ thể khi giao kết, việc giao kết hợp
đồng mua bán phải tuân theo những nguyên tắc và quy định của pháp luật.
Sau khi hợp đồng mua bán được giao kết và có hiệu lực Pháp luật các bên có
nghĩa vụ phải thực hiện đúng đầy đủ các điều khoản của hợp đồng. Tuy nhiên,
không phải hợp đồng mua bán nào sau khi giao kết đều được các bên tự
nguyện thực hiện một cách ngay thẳng và trung thực sẽ có những trường hợp
vi phạm hợp đồng như không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không
đầy đủ nghĩa vụ ghi trong hợp đồng. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, nền
kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển nhanh và mạnh, chúng ta đã hội nhập
với nền kinh tế thế giới thì các quan hệ về dân sự - kinh tế diễn ra ngày càng
đa dạng và phức tạp, kéo theo là các tranh chấp dân sự kinh tế cũng nhiều hơn
đặc biệt là tranh chấp do vi phạm hợp đồng mua bán cũng đang là một xu
hướng. Khi có hành vi vi phạm hợp đồng mua bán xảy ra, chúng ta phải giải
quyết các tranh chấp và vi phạm đó, một trong những biện pháp mà chúng ta
áp dụng khi có chủ thể vi phạm hợp đồng mua bán đó là trách nhiệm pháp lý
do vi phạm hợp đồng mua bán, được ghi nhận tại Bộ luật Dân sự năm 2005.

Luận năm 2003;
- “Hợp đồng kinh doanh vô hiệu “tài liệu hội thảo về việc xử lý hợp đồng
vô hiệu diễn đàn doanh nghiệp và câu lạc bộ luật gia Việt – Đức, Hà Nội.

2


- “Vấn đề cải cách hợp đồng” của Phó giáo sư tiến sĩ Phạm Hữu Nghị,
tạp chí Nhà nước và Pháp luật Viện khoa học xã hội Việt Nam;
- “Bối cảnh hợp đồng” tác giả thạc sỹ Trần Thanh Tùng và thạc sỹ Cao
Hà Giang,
- Tác giả Đỗ Văn Đại với bài viết “Về điều chỉnh nguy cơ không thực
hiện hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam” (Tạp chí Nhà Nước và Pháp
luật, 1-2005)
. Các công trình nghiên cứu khoa học trước đây là nguồn tài liệu quý
giá có giá trị tham khảo. Những công trình khoa học đã công bố liên quan đến
hợp đồng hoặc hành vi vi phạm hợp đồng rất nhiều nhưng những công trình
đó chỉ tập trung giải quyết những hành vi vi phạm cụ thể hoặc ở một diện
rộng mà không đề cập đến các hình thức trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp
đồng mua bán một cách sâu sắc, toàn diện. Đây là đề tài khoa học lần đầu tiên
được nghiên cứu ở Việt Nam, luận văn này không có sự trùng lập với bất kỳ
một công trình khoa học nào đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục đích:
+ Luận văn đặt mục đích nghiên cứu là những vấn đề lý luận về hợp
đồng, những quy định của Pháp luật về hành vi vi phạm hợp đồng và trách
nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua bán. Trên cơ sở các quy định về
hành vi vi phạm hợp đồng và trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua
bán gây ra của Bộ luật Dân sự năm 2005, luận văn sẽ chỉ ra những vướng
mắc, khó khăn trong thực tế áp dụng các hình thức trách nhiệm. Từ đó, đề

đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của
Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật,
quan điểm chung về nhà nước và pháp luật, Bộ luật Dân sự hiện hành của
Việt Nam, pháp luật dân sự của một số nước trên thế giới, các cơ sở khoa học

4


về lịch sử pháp luật, xã hội học pháp luật. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các
văn bản pháp luật có liên quan, các công trình nghiên cứu, các sách chuyên
khảo và các bài viết đăng trên các bài báo và tạp chí.
Trong khi thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên
cứu hệ thống, phân tích, so sánh, tổng hợp, lịch sử, khảo sát thực tiễn, logic để
phân tích, tổng hợp các chi thức khoa học luật dân sự về trách nhiệm dân sự
và hợp đồng mua bán.
6. Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn
Luận văn có một số đóng góp mới về lý luận và thực tiễn như sau:
- Luận văn đi sâu phân tích những quy định của Pháp luật về trách
nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua bán, từ đó chỉ ra những thiếu sót,
bất cập của Pháp luật hiện hành đối với trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp
đồng mua bán.
- Trên cơ sở đó luận văn đề xuất một số giải pháp trong việc xây
dựng hoàn thiện Pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng
mua bán gây ra.
- Việc tổng hợp, phân tích những vấn đề lý luận xoay quanh trách
nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua bán ở chương 1 và chương 2,
đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp ở chương 3 đã góp phần cung cấp
những luận cứ khoa học để thấy rõ vai trò và tầm quan trọng của trách

và phân công lao động xã hội càng cao thì việc trao đổi các thành quả của lao
động giữa các chủ thể ngày một phát triển. Các quan hệ về tài sản giữa các
chủ thể thuộc các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu thông qua quan hệ
hợp đồng ngày một phát triển. Bên cạnh đó, các quan hệ dịch vụ cũng ngày
một phát triển đa dạng, phong phú. Quan hệ hợp đồng giữa các bên chủ thể
nhằm xác lập quyền sở hữu, quyền sử dụng và các hợp đồng dịch vụ khác
nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ của chủ thể cũng
không ngừng được tăng lên theo sự tăng trưởng về của cải vật chất trong xã
hội và nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người cũng ngày càng được
đáp ứng kịp thời thông qua quan hệ hợp đồng. Theo C.Mác thì: “Tự chúng,
hàng hóa không thể đi đến thị trường và trao đổi với nhau thì những người
giữ chúng phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật
đó”[6]. Hợp đồng là một loại giao dịch dân sự, thể hiện ý chí của các bên chủ
thể nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Nhưng
trong quan hệ giao dịch đó nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí mà không có sự
thể hiện ý chí của bên kia hoặc không được bên kia chấp nhận thì cũng không
hình thành một quan hệ hợp đồng hợp pháp. Như vậy, chỉ khi nào trong quan
hệ đó có sự thể hiện ý chí một cách đầy đủ của tất cả các bên thì quan hệ trao
đổi lợi ích vật chất đó mới hình thành. Sự thể hiện ý của các bên trong giao
dịch phải phù hợp với pháp luật. Nếu sự thể hiện ý chí của các bên trong giao

7


dịch không phù hợp với ý chí của nhà nước, phù hợp với quy định của pháp
luật, lợi ích của xã hội thì giao dịch đó sẽ vô hiệu.
Khi nghiên cứu về khái niệm hợp đồng mua bán, trước tiên chúng ta
cần phải tìm hiểu về khái niệm hợp đồng dân sự vì hợp đồng mua bán là một
dạng của hợp đồng dân sự. Khái niệm hợp đồng dân sự được hiểu dưới nhiều
góc độ khác nhau.

hình thành từ sự thỏa thuận của các bên để thỏa mãn nhu cầu giao lưu dân sự.
Còn pháp luật về hợp đồng dân sự là sự thừa nhận, là yêu cầu của nhà nước
đối với các giao dịch dân sự đó.
Hợp đồng dân sự còn được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự về tài
sản, do vậy quan hệ hợp đồng có đầy đủ các yếu tố của một quan hệ pháp luật
dân sự về chủ thể, khách thể và nội dung. Chủ thể của hợp đồng dân sự là cá
nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và nhà nước. Cá nhân tham gia hợp
đồng mua bán phải có năng lực hành vi dân sự.
Quan hệ hợp đồng dân sự là quan hệ trái quyền, do vậy khách thể của
hợp đồng được thể hiện ở những hành vi thực hiện hợp đồng. Vì lợi ích của
một bên hợp đồng chỉ có thể đáp ứng được thông qua hành vi của bên kia, bên
có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng. Nghĩa vụ của một bên phải chuyển giao một
tài sản, phải thực hiện một việc hoặc không được thực hiện một việc vì lợi ích
của bên có quyền.
Nội dung thực hiện hợp đồng thể hiện mối liên hệ của bên có quyền và
bên có nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng được xác lập theo thoả thuận của các
bên tham gia hợp đồng.
Mua bán tài sản là hợp hợp đồng thông dụng và phổ biến nhất trong các
giao dịch dân sự. Nó là công cụ pháp lý không thể thiếu để các chủ thể đạt
được lợi ích của mình thông qua việc thỏa thuận về việc chuyển quyền sở hữu
tài sản và chuyển giao tiền. Mối quan hệ hàng- tiền được thể hiện rõ nét trong
quan hệ mua bán.

9


Điều 428, BLDS năm 2005 đưa ra khái niệm về hợp đồng mua bán tài
sản như sau: “ Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giũa các bên, theo
đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua
có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán”

tài sản có đăngký quyền sở hữu.
Đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có
giá, quyền tài sản.
Điều 163, BLDS 2005 quy định tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có
giá, quyền tài sản.
Vật bao gồm vật hiện có và vật sẽ hình thành trong tương lai như nhà
sẽ xây, tàu sẽ đóng… cũng là đối tượng của hợp đồng mua bán. Khi giao kết
hợp đồng mua bán loại tài sản này thì bên bán phải tìm được các chứng cứ để
chứng minh chắc chắn tài sản đó sẽ hình thành trong tương lai và chắc chắn sẽ
xác lập quyền sở hữu cho bên bán đến thời điểm phải chuyển giao cho bên
mua.
Tiền bao gồm tiền đồng Việt Nam và ngoại tệ. Nếu các bên chọn tiền
làm đối tượng của mua bán thì quan hệ đó được chuyển sang hợp đồng trao
đổi tài sản, đổi tiền.
Giấy tờ có giá như cổ phiếu, trái phiếu… là đối tượng của hợp đồng
mua bán khi đó là giấy tờ có giá không ghi danh được phép mua bán tự do
trên thị trường như một loại hàng hóa. Nếu là giấy tờ có giá có ghi danh hay
đòi hỏi các điều kiện khác thì các bên phải tuân thủ các quy định của pháp
luật có liên quan đến loại giấy tờ có giá đó và pháp luật về công ty, điều lệ
của công ty phát hành chúng.
Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao
trong giao lưu dân sự như quyền sở hữu trí tuệ, quyền đòi nợ, quyền sử dụng
đất và các quyền yêu cầu khác phát sinh từ hợp đồng cũng là đối tượng của
hợp đồng mua bán.

11


Đối tượng của hợp đồng mua bán phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Là tài sản được phép giao dịch: tại thời điểm giao kết hợp đồng mua

đươc hiểu nhu một tư tưởng chỉ đạo, buộc các bên tham gia quan hệ hợp đồng
phải tuân theo. Nếu bên nào vi phạm những điều đã cam kết trong hợp đồng
thì bị coi là vi phạm pháp luật, theo đó phải chịu các chế tài dân sự do có hành
vi vi phạm hợp đồng. Những thoả thuận hợp pháp trong hợp đồng có giá trị
bắt buộc phải thực hiện đối với các bên.
Nguyên tắc thực hiện hợp đồng mua bán cũng chính là nguyên tắc thực
hiện hợp đồng dân sự được qui định tại Điều 412 Bộ luật dân sự năm 2005.
a) Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng,
chủng loại, thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nguyên tắc này nhằm bảo đảm cho
nội dung của hợp đồng được thực hiện một cách đầy đủ, chính xác, buộc các
bên khi đã giao kết hợp đồng thì phải tuân thủ theo đúng hợp đồng, trong quá
trình thực hiện hợp đồng, nếu các bên không vi phạm nguyên tắc này thì cũng
sẽ không vi phạm hợp đồng.
b) Thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất
cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau.
Các bên phải thực hiện nghĩa vụ một cách trung thực, không được lừa
dối nhau, nghĩa vụ như thế nào thì các bên phải thực hiện như vậy, các bên
phải nó rõ cho nhau biết về tình trạng và đặc tính của đối tượng trong hợp
đồng, không được che dấu các khuyết tật của đối tượng hợp đồng, hợp đồng
thoả thuận như thế nào thì thực hiện đúng như vậy.Phải thực hiện hợp đồng
theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho nhau.Trong quá trình thực hiện hợp
đồng các bên phải luôn luôn quan tâm đến nhau, tạo điều kiện giúp đỡ nhau,
có thiện chí trong việc khắc phục các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong
quá trình thực hiện hợp đồng, phải cùng nhau bàn bạc, tìm cách giải quyết các
khó khăn, vướng mắc, không được thờ ơ, bàng quan, gây khó dễ cho bên có

13




trong hợp đồng đó là hiện tượng vi phạm hợp đồng mua bán và bên vi phạm
hợp đồng phải chịu trách nhiệm hợp đồng (hay còn gọi là trách nhiệm dân sự
theo hợp đồng) với bên có quyền. Là trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp
đồng, trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng mua bán là một dạng cụ thể
của trách nhiệm dân sự nói chung. Vì vậy, muốn tìm hiểu khái niệm trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán trước hết phải bắt đầu bằng việc làm
làm sáng tỏ khái niệm trách nhiệm dân sự.
1.2.1.1. Khái niệm trách nhiệm dân sự
Trách nhiệm dân sự là một phạm trù rộng bao hàm những công việc
phải làm (phần trách nhiệm) của một cá nhân, một tổ chức đối với các công
việc trong lĩnh vực dân sự. Nội hàm của Trách nhiệm dân sự cho ta thấy mọi
cá nhân, tổ chức là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự đều phải tự mình
chịu trách nhiệm đối với những công việc mà họ đã cam kết thực hiện. Đặc
trưng cơ bản của quan hệ pháp luật nói chung là nội dung của quan hệ pháp
luật được cấu tạo thành bởi các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà việc thực hiện
được đảm bảo bằng sự cưỡng chế nhà nước. Cũng như vậy, ở quan hệ pháp
luật dân sự nói riêng, tổng hợp các quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên
tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự tạo thành nội dung của quan hệ đó, các
bên vừa có quyền đồng thời vừa có nghĩa vụ với nhau. Nghĩa vụ dân sự trong
quan hệ pháp luật dân sự là một bộ phận không thể tách rời của nội dung quan
hệ đó. Khái niệm nghĩa vụ dân sự được quy định tại Điều 280 Bộ luật dân sự
năm 2005 như sau: “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ
thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao
quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực
hiện một công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau
đây gọi chung là bên có quyền”[20]. Trách nhiệm dân sự ràng buộc các cá
nhân, tổ chức khi tham gia vào các giao dịch dân sự phải thực hiện đúng các

15

16


đích và hậu quả của hành động theo phán quyết của tòa án mới quyết định đến
trách nhiệm hình sự của chủ thể phạm tội, các chủ thể tham gia vào các quan
hệ pháp luật dân sự luôn có thể xác định trước được trách niệm dân sự khi
tham gia các quan hệ pháp luật dân sự vì bản chất của trách nhiệm dân sự là
tồn tại không phụ thuộc vào hậu quả của sự việc.
Có thể đưa ra định nghĩa về Trách nhiệm dân sự như sau: “Trách nhiệm
dân sự được hiểu là một loại trách nhiệm về tài sản của chủ thể trong một
quan hệ pháp luật dân sự nhất định, buộc phải thực hiện một việc, kiềm chế
không được thực hiện một việc, phải bồi thường một thiệt hại hoặc phải gánh
chịu các chế tài dân sự khác, do đã có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã
hội xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác”. Hiện nay khái
niệm về trách nhiệm dân sự còn có những cách hiểu khác nhau chưa có sự
thống nhất. Theo giáo trình luật dân sự, của trường đại học luật Hà Nội cho
rằng: “trách nhiệm dân sự là sự cưỡng chế của nhà nước buộc bên vi phạm
nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ hoặc phải bồi thường thiệt hại
do hành vi vi phạm nghĩa vụ của mình gây ra”[17]. Một số khác lại cho rằng:
“trách nhiệm dân sự bao gồm toàn bộ các chế tài dân sự mà pháp luật quy
định cho phép áp dụng đối với bên vi phạm nghĩa vụ” [31]. Mỗi một khái
niệm, đều có những ưu điểm hạn chế của nó.
Như vậy, có thể nói trách nhiệm dân sự là việc chủ thể của quan hệ
pháp luật phải chịu trách nhiệm bồi thường bằng vật chất trong trường hợp
gây ra thiệt hại cho một chủ thể khác. Quan hệ Trách nhiệm dân sự có hai chủ
thể: một chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và một chủ thể có
nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Ngay cả trong trường hợp người gây thiệt hại
mong muốn bồi thường cho người bị thiệt hại, thì sự mong muốn đó cũng
không phải là nguồn của nghĩa vụ bồi thường. Nghĩa vụ bồi thường do luật
quy định, còn người có nghĩa vụ thực hiện một nghĩa vụ mà ý chí của mình

từ việc không thực hiện một nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Chủ thể không
thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết mà gây thiệt hại

18


cho chủ thể mang quyền, thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp
luật.
Trong Bộ luật Dân sự hiện hành, Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng
được chi phối bởi các nguyên tắc được thiết lập trong khuôn khổ xây dựng
chế độ pháp lý về hợp đồng. Tuy nhiên, có thể ghi nhận đặc điểm của Trách
nhiệm dân sự theo hợp đồng là trách nhiệm phát sinh từ sự vi phạm một quy
tắc xử sự. Đó là sự vi phạm nghĩa vụ dân sự (trách nhiệm dân sự trong hợp
đồng). Đồng thời, theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành,
Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng chịu sự chi phối, trên nguyên tắc của các
quy định chung về điều kiện trình tự thực hiện nghĩa vụ được các bên xác lập
theo thoả thuận.
Hợp đồng mua bán được coi là căn cứ để xem xét Trách nhiệm dân sự
do vi phạm hợp đồng mua bán. Hợp đồng là công cụ chủ yếu để xác lập quan
hệ giữa các cá nhân và pháp nhân với nhau liên quan đến tài sản trong một xã
hội có tổ chức. Hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ dân sự theo một cơ chế
chung là các bên giao kết thống nhất về ý chí và bị ràng buộc trong một mối
quan hệ nhất định nhằm đáp ứng yêu cầu của bên kia. Theo nguyên tắc chung
của pháp luật dân sự thì mọi hợp đồng mua bán đều được thực hiện dưới hình
thức thoả thuận dù là hợp đồng miệng hoặc bằng văn bản. Thông qua hợp
đồng mua bán, các bên thoả thuận các quyền và nghĩa vụ phải thực hiện.
Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng mua bán chính là việc một hoặc hai
bên phải chịu trách nhiệm dân sự của một trong hai bên tham gia vào hoạt
động đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ mà hai
bên đã cam kết trong hợp đồng.

vi phạm các cam kết sẽ phải gánh chịu các chế tài theo quy định của pháp
luật. Tính cưỡng chế trong pháp luật dân sự được thể hiện thông qua việc cơ
quan có thẩm quyền dựa trên cam kết và thỏa thuận của hai bên trong hợp
đồng, sẽ xem bên nào phải chịu trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng.
Quyết định mang tính chế tài của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ buộc

20


Trích đoạn Trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại Những trường hợp loại trừ trách nhiệm Sự cần thiết phải hoàn thiện những quy định của pháp luật dân Thực trạng áp dụng Pháp luật Về vị trí pháp lý của trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status