Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự theo quy định hiện hành của pháp luật việt nam luận văn ths luật - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

VŨ TIẾN VINH

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
THEO QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH CỦA
PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2006

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

1


VŨ TIẾN VINH

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
THEO QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH CỦA
PHÁP LUẬT VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ
MÃ SỐ: 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHÙNG TRUNG TẬP

3. Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, phương pháp nghiên
cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn ……………

4

4. Mục đích nghiên cứu của luận văn …………………

5

5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

6

……
6. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn ………

7

7. Kết cấu của luận văn ………………………………

7

Chương 1. Khái niệm về trách nhiệm dân sự và Trách
nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự
1.1. Trách nhiệm dân sự

9
9

4


27

2.1. Các điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự do vi
phạm hợp đồng ……………………………

28

2.1.1. Có hành vi vi phạm hợp đồng ………………

28

2.1.2. Có thiệt hại xảy ra ……………………

35

2.1.3. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm
hợp đồng và thiệt hại xảy ra …………………
2.1.4. Người vi phạm hợp đồng có lỗi …………

38
42

2.2. Nội dung của trách nhiệm dân sự do vi phạm
hợp

đồng

dân


3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện những quy định của
pháp luật dân sự về trách nhiệm dân sự do vi
phạm hợp đồng dân sự ……………………………

63

3.1.1. Những quan điểm chỉ đạo nhằm hoàn thiện
pháp luật dân sự ……………………………

64

3.1.2. Thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân các
cấp đối với các tranh chấp liên quan đến
trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng
dân sự ……………...

66

3.2. Đề xuất phương hướng hoàn thiện các quy định
liên quan và nâng cao hiệu quả xét xử của tòa án
các cấp đối với các tranh chấp liên quan đến
trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự

77

Kết luận ………………………

82

Tài liệu tham khảo ………………………………………


MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với sự ra đời của Nhà nước và Pháp luật, bên cạnh chế định quyền nhân
thân, quyền sở hữu, nghĩa vụ và hợp đồng dân sự, trách nhiệm dân sự được
xem là một trong những chế định pháp luật quan trọng. Xã hội loài người đã
trải qua nhiều kiểu nhà nước khác nhau, và ở mỗi kiểu Nhà nước lại có một
hình thái kinh tế - xã hội tương ứng nhưng bất kỳ kiểu nhà nước nào cũng đều
thông qua pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với thực tiễn
phát triển của kiểu nhà nước và pháp luật đó.
Hợp đồng dân sự là một hình thức thỏa thuận phổ biến trong xã hội có tư hữu.
Nghiên cứu về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự là một vấn đề
rất thiết thực, được nhiều người quan tâm tìm hiểu.
Dựa trên tinh thần của Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự (“BLDS”) năm
2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2006 là một bước phát triển mới trong
quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự của Việt Nam. Trách nhiệm
dân sự và Hợp đồng dân sự đã được pháp điển hóa trong Bộ luật Dân sự, bảo
vệ trực tiếp quyền lợi của các cá nhân, tổ chức khi tham gia các giao dịch dân
sự.
Trước yêu cầu đổi mới đất nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật là nhiệm vụ
quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa (“XHCN”) Việt Nam. Ngày 2 tháng 1 năm 2002, Bộ Chính trị
đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ/BCT “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công
tác tư pháp trong thời gian tới” và ngày 2 tháng 6 năm 2005 Bộ Chính trị ban
hành Nghị quyết số 49/NQ-TW “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020” đề ra mục tiêu “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ,
nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng

nhân dân trong việc bảo vệ công lý, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ

9


pháp chế xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Trách nhiệm dân
sự do vi phạm hợp đồng dân sự theo quy định hiện hành của pháp luật Việt
Nam”, mang tính cấp thiết, không những về lý luận, mà còn đáp ứng những
đòi hỏi của thực tiễn hiện nay.
2.

Tình hình nghiên cứu

Từ năm 1991 trở lại đây, pháp luật về hợp đồng dân sự của Việt Nam được
xây dựng và hoàn thiện phù hợp với các quan hệ xã hội theo định hướng
XHCN, theo đó quyền và lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân, tổ chức trong
quan hệ hợp đồng được pháp luật bảo.
Đã có nhiều đề tài và công trình nghiên cứu của các nhà luật học trong nước
viết về hợp đồng dân sự và trách nhiệm dân sự. Tuy nhiên, trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng dân sự chỉ được đề cập đến như là một phần của một công
trình nghiên cứu nào đó, hoặc chỉ là những nghiên cứu nhỏ lẻ, riêng rẽ. Tác
giả Ngô Văn Thâu có tác phẩm “Một số điều cần biết trong các quyền dân sự
của công dân” (Nxb. Pháp lý, 1987); Tác giả Đỗ Văn Đại với bài viết “Về
điều chỉnh nguy cơ không thực hiện hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt
Nam” (Tạp chí Nhà nước & Pháp luật, 1-2005).
Có thể thấy những nghiên cứu về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng dân sự là
những nghiên cứu có ý nghĩa nhưng đều được thực hiện trước khi có Bộ luật
Dân sự năm 2005. Trách nhiệm dân sự do vi phạm Hợp đồng dân sự là một
vấn đề phức tạp và chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập một cách
toàn diện, có hệ thống về chế định này. Tính đến thời điểm hiện nay thì chưa

 Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Luận văn nghiên cứu trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự theo
quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam.
4.

Mục đích nghiên cứu của luận văn
 Mục đích của luận văn

11


Mục đích của luận văn là nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về trách
nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn xét
xử các tranh chấp liên quan đến trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân
sự, nêu ra những giải pháp mang tính hệ thống để hoàn thiện quy định của
pháp luật về trách nhiệm dân sự trong hợp đồng, nâng cao hiệu quả xét xử của
tòa án, góp phần ổn định các quan hệ xã hội về trách nhiệm dân sự trong hợp
đồng.
 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết các nhiệm
vụ sau:
-

Phân tích khái niệm trách nhiệm dân sự và trách nhiệm dân sự do
vi phạm hợp đồng dân sự;

-

Phân tích điều kiện phát sinh và nội dung của trách nhiệm dân sự
do vi phạm hợp đồng dân sự để thấy được những tồn tại trong việc

dân sự hiện hành của Việt Nam.

-

Giúp người đọc nắm rõ và đầy đủ về các điều kiện phát sinh và nội
dung của trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự; nhận
định đúng về tầm quan trọng của việc ký kết và thực hiện hợp
đồng dân sự, từ đó tránh được các vi phạm hợp đồng dân sự.

-

Đề xuất hệ thống giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện những
quy định của pháp luật về phân định trách nhiệm dân sự do vi
phạm hợp đồng dân sự.

6.

ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống về trách nhiệm dân sự
do vi phạm hợp đồng dân sự theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận văn có ý nghĩa quan trọng
đối với việc hoàn thiện những quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự
do vi phạm hợp đồng dân sự và nâng cao hiệu quả xét xử các tranh chấp có
liên quan đến trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự tại các cấp tòa
án ở Việt Nam. Thông qua kết quả nghiên cứu và các kiến nghị, tác giả mong
muốn góp phần nghiên cứu khiêm tốn của mình vào hệ thống lý luận luật dân
sự, cũng như ổn định các quan hệ xã hội về trách nhiệm dân sự do vi phạm
hợp đồng dân sự có tính thiết thực và phức tạp này.




Chƣơng 1
KHÁI NIỆM VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ VÀ
TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
1.1.

Trách nhiệm dân sự

Trách nhiệm dân sự là một phạm trù rộng bao hàm những công việc phải làm
(phần trách nhiệm) của một cá nhân, một tổ chức đối với các công việc trong
lĩnh vực dân sự. Nội hàm của trách nhiệm dân sự cho ta thấy mọi cá nhân, tổ
chức là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự đều phải tự mình chịu trách
nhiệm đối với những công việc mà họ đã cam kết thực hiện. Đặc trưng cơ bản
của quan hệ pháp luật nói chung là nội dung của quan hệ pháp luật được cấu
thành bởi các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà việc thực hiện được đảm bảo
bằng sự cưỡng chế nhà nước. Cũng như vậy, ở quan hệ pháp luật dân sự nói
riêng, tổng hợp các quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên tham gia vào quan
hệ pháp luật dân sự tạo thành nội dung của quan hệ đó, các bên vừa có quyền
đồng thời vừa có nghĩa vụ với nhau. Nghĩa vụ dân sự trong quan hệ pháp luật
dân sự là một bộ phân không thể tách rời của nội dung quan hệ đó. Khái niệm
nghĩa vụ dân sự được quy định tại Điều 258 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm
2005 như sau: “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo quy định của pháp luật thì
một hoặc nhiều chủ thể (gọi là người có nghĩa vụ) phải làm một công việc
hoặc không được làm một công việc vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể
khác (gọi là người có quyền)” [2].
Trách nhiệm dân sự ràng buộc các cá nhân, tổ chức khi tham gia vào các giao
dịch dân sự phải thực hiện đúng các nghĩa vụ đã cam kết. Nếu họ không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm
dân sự bằng việc bồi thường thiệt hại do có hành vi vi phạm hợp đồng. Việc

pháp luật dân sự luôn có thể xác định trước được trách nhiệm dân sự khi tham

16


gia các quan hệ pháp luật dân sự vì bản chất của trách nhiệm dân sự là tồn tại
không phụ thuộc vào hậu quả của sự việc.
Có thể đưa ra định nghĩa về trách nhiệm dân sự như sau: “Trách nhiệm dân sự
được hiểu là một loại trách nhiệm về tài sản của chủ thể trong một quan hệ
pháp luật dân sự nhất định, buộc phải thực hiện một việc, kiềm chế không
được thực hiện một việc, phải bồi thường một thiệt hại hoặc phải gánh chịu
các chế tài dân sự khác, do đã có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội
xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác”.
Như vậy, có thể nói trách nhiệm dân sự là việc chủ thể của quan hệ pháp luật
phải chịu trách nhiệm bồi thường bằng vật chất trong trường hợp gây ra thiệt
hại cho một chủ thể khác. Quan hệ trách nhiệm dân sự có hai chủ thể: một chủ
thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và một chủ thể có nghĩa vụ bồi
thường thiệt hại. Ngay cả trong trường hợp người gây thiệt hại mong muốn
bồi thường cho người bị thiệt hại, thì sự mong muốn đó cũng không phải là
nguồn của nghĩa vụ bồi thường. Nghĩa vụ bồi thường do luật quy định, còn
người có nghĩa vụ chỉ thực hiện một nghĩa vụ mà ý chí của mình không tạo
ra.
Pháp luật dân sự không xác định hoặc xác định không đầy đủ trách nhiệm dân
sự trong các quan hệ dân sự sẽ dẫn tới tình trạng các chủ thể không có ý thức
tự nguyện thực hiện các cam kết dân sự hoặc thực hiện nửa vời. Từ đó, tính
nghiêm minh và hiệu lực thực thi của pháp luật sẽ bị giảm sút. Xác định rõ và
chi tiết hoá trách nhiệm dân sự sẽ góp phần tăng cường tính thực thi của pháp
luật dân sự, giúp pháp luật dân sự ngày một hoàn thiện và dễ áp dụng hơn.
1.2.


hợp đồng là trách nhiệm phát sinh từ sự vi phạm một quy tắc xử sự. Đó là sự
vi phạm nghĩa vụ dân sự (trách nhiệm dân sự trong hợp đồng). Đồng thời,
theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành, trách nhiệm dân sự

18


trong hợp đồng chịu sự chi phối, trên nguyên tắc, của các quy định chung về
điều kiện trình tự thực hiện nghĩa vụ được các bên xác lập theo thỏa thuận.
Hợp đồng dân sự được coi là căn cứ để xem xét trách nhiệm dân sự do vi
phạm hợp đồng dân sự. Hợp đồng là công cụ chủ yếu để xác lập quan hệ giữa
các cá nhân và pháp nhân với nhau liên quan đến tài sản trong một xã hội có
tổ chức. Hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ dân sự theo một cơ chế chung là
các bên giao kết thống nhất về ý chí và bị ràng buộc trong một mối quan hệ
nhất định nhằm đáp ứng yêu cầu của bên kia. Theo nguyên tắc chung của
pháp luật dân sự thì mọi hợp đồng dân sự đều được thực hiện dưới hình thức
thoả thuận dù là hợp đồng miệng hoặc bằng văn bản. Thông qua hợp đồng
dân sự, các bên thỏa thuận các quyền và nghĩa vụ phải thực hiện. Trách nhiệm
dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự chính là việc một hoặc hai bên phải chịu
trách nhiệm dân sự khi có hành vi vi phạm các cam kết. Việc vi phạm hợp
đồng dân sự làm phát sinh trách nhiệm dân sự của một trong hai bên tham gia
vào hợp đồng đã không thực hiện hoặc thực hiện không đẩy đủ các nghĩa vụ
mà hai bên đã cam kết trong hợp đồng.
Căn cứ xác định trách nhiệm dân sự là việc vi phạm nghĩa vụ phát sinh theo
hợp đồng. Nghĩa vụ bị vi phạm có thể là nghĩa vụ chính (nghĩa vụ đặc thù)
tương ứng với chủ thể của hợp đồng, hoặc là một nghĩa vụ phụ phát sinh từ
hợp đồng. Hợp đồng là một sự kiện pháp lý, và nghĩa vụ là hệ quả của sự kiện
đó. Ví dụ, nghĩa vụ bảo đảm an toàn cho hành khách trong hợp đồng vận
chuyển hành khách.
Qua những phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa về trách nhiệm dân sự do

Trách nhiệm dân sự luôn thể hiện hình thức cưỡng chế của Nhà nước. Nhà
nước quy định trách nhiệm nhằm buộc các bên tham gia giao dịch dân sự nếu
vi phạm các cam kết sẽ phải gánh chịu các chế tài theo quy định của pháp
luật. Tính cưỡng chế trong pháp luật dân sự được thể hiện thông qua việc cơ
quan có thẩm quyền dựa trên cam kết và thoả thuận của hai bên trong hợp

20


đồng, sẽ xem bên nào phải chịu trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng.
Quyết định mang tính chế tài của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ buộc
bên vi phạm chịu trách nhiệm đền bù thiệt hại cho bên bị vi phạm.
Không giống với các chế tài pháp lý khác như chế tài hình sự, hành chính, đặc
điểm của chế tài dân sự hoàn toàn mang tính chất tài sản thông qua việc bồi
thường thiệt hại (vật chất, tinh thần…) cho chủ thể bị vi phạm. Nhà nước quy
định tính chế tài cho trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng nhằm đảm bảo
sự ổn định và lành mạnh trong các quan hệ hợp đồng dân sự, một trong những
quy định quan trọng của pháp luật dân sự và ở trong bất kỳ giai đoạn nào.
Việc đưa ra các biện pháp chế tài nhằm ổn định các quan hệ hợp đồng dân sự
sẽ giúp nền kinh tế vận động một cách có hiệu quả hơn, an toàn hơn với mọi
chủ thể. Từ đó tạo được động lực để các chủ thể tham gia nhiều hơn, tích cực
và yên tâm hơn vào các quan hệ hợp đồng dân sự.
Đặc điểm 2:

áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật.

Trách nhiệm pháp lý là áp dụng với các chủ thể vi phạm pháp luật thì một đặc
điểm khác của trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự là áp dụng đối
với các chủ thể vi phạm các cam kết liên quan đến hợp đồng dân sự hay nói
cách khác là vi phạm các quy định của pháp luật dân sự liên quan đến hợp

các cam kết trong hợp đồng dân sự phải chịu trách nhiệm dân sự và việc phán
quyết sẽ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đảm trách.
Trong một vụ án dân sự, việc thụ lý quy kết trách nhiệm dân sự cho các bên
tham gia vào giao dịch dân sự sẽ do Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền
quyết định (Tòa án nhân dân cấp quận, huyện; Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương). Sau khi có quyết định cuối cùng của tòa
án, việc yêu cầu các bên đương sự thực hiện đúng trách nhiệm dân sự của
mình sẽ do cơ quan thi hành án cấp tương đương thực hiện theo quy định.
Khác với các quyết định hình sự do cơ quan công an thực hiện hình phạt, các
quyết định dân sự thường phụ thuộc nhiều vào các cơ quan thi hành án và
thường không mang tính cưỡng chế cao. Việc quy định chỉ có cơ quan Nhà

22


nước có thẩm quyền mới có thẩm quyền phán quyết và đưa ra các biện pháp
áp dụng có liên quan đối với trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự
cho thấy tính chất tối cao và nghiêm khắc của các quy định pháp luật dân sự
về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự.
Đặc điểm 4:

Sử dụng một số biện pháp chế tài nhất định do luật
định để buộc ngƣời vi phạm phải chịu hậu quả bất lợi.

Bản chất của pháp luật là mọi chủ thể khi thực hiện các hành vi mà pháp luật
nghiêm cấm sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật và
sẽ bị pháp luật áp dụng một số chế tài nhất định buộc chủ thể có hành vi vi
phạm phải chịu hậu quả bất lợi do hành vi vi phạm pháp luật của mình.
Nguyên tắc của pháp luật là chỉ có những người chịu trách nhiệm dân sự do vi
phạm hợp đồng dân sự mới bị pháp luật áp dụng các biện pháp chế tài theo

luật dân sự, phải chịu trách nhiệm dân sự, các chủ thể pháp luật dân sự sẽ ít
tham gia hơn hoặc tham gia hạn chế hơn các hợp đồng dân sự. Hậu quả là các
giao dịch dân sự sẽ bị giảm đi về quy mô, thiếu tính tự do và đa dạng dẫn đến
việc kìm hãm các quan hệ dân sự, thương mại trong xã hội. Đảm bảo được
tính nghiêm khắc của các biện pháp chế tài nhưng cũng phải đảm bảo được
mức độ cưỡng chế đủ mạnh phù hợp để kích thích số lượng và tính đa dạng
của các giao dịch dân sự là yêu cầu cần thiết trong quá trình thiết lập và áp
dụng chế tài của pháp luật dân sự.
Đặc điểm 5:

Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự
mang tính chất tài sản.

Về bản chất, các quan hệ pháp luật dân sự chủ yếu là các quan hệ mang tính
tài sản và quan hệ nhân thân có liên quan đến tài sản. Ví dụ, quan hệ hợp
đồng mua bán, cho tặng, v.v. Tính chất tài sản trong trách nhiệm dân sự do vi
phạm hợp đồng dân sự thể hiện ở việc khi chủ thể vi phạm pháp luật gây hậu

24


quả xấu cho người khác thì Tòa án buộc bên vi phạm phải bồi thường bằng
chính tài sản của mình cho bên bị vi phạm. Nguyên tắc của trách nhiệm dân
sự do vi phạm hợp đồng dân sự là nguyên tắc chịu trách nhiệm bằng tài sản
mà không có hình thức thay thế.
Tính chất tài sản trong trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự thể
hiện qua việc các chủ thể, bằng tài sản của mình, bồi thường tương ứng về giá
trị thiệt hại do hành vi của chủ thể đó gây ra. Trách nhiệm bồi thường bằng tài
sản (tiền, động sản, bất động sản) hoặc giá trị vật chất là bắt buộc và là một
đặc điểm của pháp luật dân sự. Đặc điểm này bảo đảm trách nhiệm dân sự do

thể thấy trách nhiệm dân sự đồng nhất với việc thực hiện nghĩa vụ dân sự
trong trật tự cưỡng chế. Do đó, có thể kết luận: “Trách nhiệm dân sự do vi
phạm nghĩa vụ dân sự là sự cưỡng chế của nhà nước buộc bên vi phạm phải
tiếp tục thực hiện đúng những nghĩa vụ hoặc phải bồi thường thiệt hại do
hành vi vi phạm nghĩa vụ của mình gây ra cho phía bên kia” [24]. Trách
nhiệm dân sự không những chỉ nhằm đền bù tổn thất đã gây ra mà còn bảo vệ
các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự
không bị xâm phạm bởi các hành vi trái pháp luật.
Các quyền dân sự của công dân Việt Nam cũng như nhiều quyền quan trọng
khác có cơ sở kinh tế là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Đây là cơ sở và chỗ dựa vững chắc để bảo đảm các quyền dân sự được
thực hiện và phát triển. Do vậy, Nhà nước Việt Nam đã không ngừng hoàn
thiện pháp luật dân sự nói riêng và toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung để
phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, chính trị trong khu vực và trên thế
giới, và điều không kém phần quan trọng là dùng các biện pháp có hiệu lực
pháp luật cao để bảo hộ và bảo vệ quyền dân sự của các tổ chức và các cá
nhân khi những quyền ấy bị vi phạm. Một nguyên tắc để bảo vệ quyền dân sự
của các tổ chức và các cá nhân là trách nhiệm phải thi hành đầy đủ, đúng đắn
những điều đã thỏa thuận và cam kết trong hợp đồng dân sự, và phải bồi
thường nếu vi phạm các điều khoản và điều kiện của hợp đồng dân sự mà gây
thiệt hại cho bên kia.

26


Trích đoạn Có hành vi vi phạm hợp đồng Có thiệt hại xảy ra Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra Nội dung của trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự Trách nhiệm phải tiếp tục thực hiện hợp đồng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status