Bi kịch gia đình trong tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn - Pdf 31

Bi kịch gia đình trong tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng

Mùa lá rụng trong vườn được Ma Văn Kháng viết xong tháng 12 năm 1982, xuất bản lần đầu năm 1985. Từ đó
đến nay tác phẩm được tái bản nhiều lần. Năm 2001, nhà biên kịch Đặng Minh Châu chuyển thể Mùa lá rụng trong
vườn và Đám cưới không giấy giá thúthành kịch bản văn học; đạo diễn Quốc Trọng dựng thành phim nhiều tập Mùa lá
rụng.

Với vai trò là một trong những cuốn sách "tiền trạm" của Đổi mới mà ở đó chứa đựng nhiều dự báo sáng suốt,
ngay khi vừa ra đời, Mùa lá rụng trong vườn đã được độc giả đón nhận một cách nhiệt tình. Chỉ trong hai năm 1985 và
1986 đã có hàng chục bài báo viết về tác phẩm này; báo Người Hà Nội đã tổ chức thảo luận bàn tròn về tiểu thuyết Mùa
lá rụng trong vườn; Hội Nhà văn Việt Nam trao giải B về văn xuôi cho Mùa lá rụng trong vườn. Đã hơn hai mươi năm
trôi qua, trong khi biết bao tác phẩm một thời được coi là tiếng nói của thời đại, là "sách gối đầu giường" đã vơi cạn sức
hút, Mùa lá rụng trong vườn vẫn còn được tìm đọc và còn gợi được nhiều suy nghĩ.
Mùa lá rụng trong vườn viết về đề tài gia đình, một đề tài không mới trong văn học Việt Nam hiện đại. Ngay từ
những năm ba mươi của thế kỷ XX, nhiều sáng tác của Tự lực văn đoàn đã khai thác đề tài này. Các tiểu thuyết Đoạn
tuyệt, Lạnh lùng (Nhất Linh);Nửa chừng xuân, Thừa tự, Gia đình, Thoát ly (Khái Hưng); Gánh hàng hoa (Nhất Linh –
Khái Hưng)… đã tập trung phản ánh cuộc đấu tranh giải phóng cá nhân, đấu tranh cho tự do hôn nhân, cho quyền sống
của người phụ nữ chống lại sự ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến trong đại gia đình phong kiến. GS. Trương
Chính đã đánh giá rất cao đóng góp của Tự lực văn đoàn trên vấn đề kêu gọi giải phóng phụ nữ và tự do hôn nhân (dĩ
nhiên là bằng văn học và theo kiểu của văn học). Ông viết: "Các nhà văn Tự lực văn đoànđã công kích nhiều mặt của chế
độ phong kiến, đặc biệt là luân lý phong kiến đối với phụ nữ. Họ chủ trương tự do hôn nhân, tự do yêu đương xây dựng
hạnh phúc gia đình trên tình yêu đôi lứa. Họ căm thù cảnh mẹ chồng nàng dâu, họ chủ trương đàn bà trẻ được tự do cải
giá, họ vạch bộ mặt giả dối, xảo quyệt của những người mẹ ghẻ. Họ đứng về phía những người chống lại lớp người cũ.
Họ đứng về phía cá nhân chống lại chế độ gia đình" [3, tr. 15]. Từ sau 1945, đất nước phải trải qua ba mươi năm chiến
tranh giải phóng dân tộc. Lúc này vận mệnh dân tộc được đặt lên hàng đầu. Vấn đề cá nhân, gia đình trở thành thứ yếu.
Theo GS. Nguyễn Đăng Mạnh, các nhà văn thời kỳ này “chủ yếu làm công việc đốt lửa nhiệt tình trong độc giả bằng
cách mô tả và ngợi ca những tấm gương chói lọi trong chiến đấu, hy sinh… Những tác phẩm viết về sản xuất hay những
đề tài khác cũng thế, vấn đề đặt ra chủ yếu cũng là vấn đề ý chí cách cách mạng, nhiệt tình cách mạng [4, tr. 460]. Mặt
khác, một thời do nhận thức rằng chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa không có bi kịch nên người ta nghĩ là có thể bỏ qua
việc nghiên cứu các quan hệ gia đình, cho rằng các quan hệ cha con, vợ chồng, anh em… hình như chẳng có gì phải bàn
bạc nữa. Mọi người đều đặt quyền lợi của tập thể, của dân tộc lên trên hết. Cả dân tộc phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng



trường đã ảnh hưởng đến mọi gia đình Việt Nam. Ma Văn Kháng đã dùng hình ảnh ẩn dụ mùa lá rụng để nói lên qui luật
đó. Mọi loài cây trong vườn vào mùa thay lá đều biến đổi. Chúng trút bỏ những chiếc lá vàng cũ kỹ, thay vào đó là
những chiếc lá non tơ mơn mởn. Nhưng những chiếc lá mới ấy cũng mọc lên từ những cành mà trước đó không lâu nó
đã rũ bỏ không thương tiếc những chiếc lá cũ. Bởi thế, Mùa lá rụng trong vườn không chỉ đề cập vấn đề "thời kỳ quá độ
đôi khi cuốn hút chúng ta vào những mục tiêu kinh tế, cơ sở vật chất, kỹ thuật… mà xem nhẹ việc xây dựng con người,
xây dựng cá nhân, xây dựng cá tính…"[4. tr. 280] hay “lối sống ích kỷ, buông thả theo những dục vọng thấp hèn, coi
đồng tiền là trên hết, bất chấp những nguyên tắc luật lệ của đạo đức xã hội đang có nguy cơ xâm nhập vào từng gia đình,
làm đảo lộn những gì trước đây cho là thiêng liêng, cao cả” [1, tr. 46] mà còn nêu lên yêu cầu đổi mới gia đình truyền
thống cho phù hợp với xã hội mới. Truyền thống văn hoá dân tộc và truyền thống gia đình Việt Nam cùng sự đổi mới và
thích ứng của nó trong thời đại mới là những vấn đề cơ bản mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm. Khăng khăng giữ lại tất cả
những gì của ngày xưa không phải là chuyện hợp thời, nhưng thoát ly truyền thống, phá vỡ mọi nề nếp nhất định sẽ dẫn
tới bi kịch.
Mùa lá rụng trong vườn trước hết là hồi chuông cảnh tỉnh những người có tư tưởng thủ cựu, cố duy trì, níu kéo
kiểu gia đình truyền thống. Trong tác phẩm, ông Bằng là người đại diện cho lớp người đó. Ông cố gắng duy trì cái nề
nếp cổ xưa, với hàng trăm điều nhỏ nhặt nhằm xây dựng gia đình hoà thuận, trên kính dưới nhường, trọng nghĩa khinh
tài, hướng về sự phát triển đạo đức tinh thần. Đối với ông danh dự gia đình là trên hết. Ông luôn khuyên dạy các con
mình phải giữ gìn danh dự: " Phải giữ gìn các con ạ. Giữ gìn từ những cái nho nhỏ vì từ những cái nho nhỏ cộng lại, hợp
thành văn hoá, nền tảng đạo lý đấy". Vì danh dự gia đình mà ông đánh Cừ – người con trai mới mười ba tuổi – một trận
đòn "thiếu sống thừa chết", rồi thẳng thừng đuổi con ra khỏi nhà, mặc dầu không biết đích xác Cừ có phải là người lấy
cắp đồng hồ của khách hay không. Ông muốn dựa vào một nền tảng tinh thần vững bền để chống lại tất cả cái xấu đang
tàn phá cuộc sống. Trong những dịp chuyện trò với con cái hay dịp cúng gia tiên vào cuối năm, ông luôn nhắc đến những
kỷ niệm đẹp, những đứa con ngoan, thành đạt mà cố lảng tránh Cừ – người con trai bất trị đã bỏ cơ quan trốn đi biệt tích
– nhưng lòng ông luôn nổi sóng. Ông chống chọi với hoàn cảnh, với sự thật phũ phàng, thực ra là ông tự dối lòng mình.
Trong con người ông luôn có cuộc đấu tranh nội tâm dữ dội. Ông dùng lý trí để khước từ Cừ nhưng tình cha con trong
ông không bao giờ phai nhạt. Hình ảnh Cừ luôn in đậm trong trái tim ông. Bởi vậy, khi nghe Đông nói: "Theo con, ba
nên có một động tác: làm một cái đơn đưa tới uỷ ban khước từ nó, không chịu trách nhiệm về nó", ông đã bị tăng huyết
áp, mặt tối sầm lại. Hoặc khi cầm bức thư Cừ từ nước ngoài gửi về tay ông run rẩy và không dám mở ra xem. Khi biết
Cừ vỡ mộng về "miền đất hứa" và dùng cái chết để sữa chữa lỗi lầm, ông đã ngã gục. Ông Bằng ngã gục không hoàn

trao sổ tiết kiệm ba ngàn đồng cho Phượng chứ không phải cho chị, mặc dù chị là cô dâu trưởng và từ trước đến nay mọi
việc lớn nhỏ trong nhà đều do bàn tay chị xếp đặt. Thêm nữa, Luận vốn là người hiểu và kính phục chị, luôn ca ngợi chị
tài giỏi, tháo vát, chân tình… nhưng bây giờ công khai lên án chị gay gắt, gọi chị là "quỷ sa tăng". Niềm tin cậy, chỗ
bám víu của chị trong gia đình không còn. Chị trở nên cô độc, trơ trọi. Gia đình giờ đây đâu còn là nơi an lạc của chị!
Mọi người trong nhà giờ đâu còn chở che, nâng đỡ, vỗ về, an ủi chị! Bao nhiêu bực dọc, bao nhiêu cay đắng, bao nhiêu
ấm ức bấy lâu chất chứa trong lòng chị tuôn ra. Chị như kẻ cùng đường, xù lông xù cánh chống trả: "Đối đáp bốp chát,
ăn miếng trả miếng, chửi vỗ mặt nhau đanh đá hàng tôm hàng cá, thơn thớt dựng chuyện, vu khống đê tiện một cách
nanh ác". Những nét thô kệch, phàm tục do thiếu văn hoá căn bản trong Lý bộc phát ra hết, vì thế lúc này con người chị
chỉ rặt những nét trâng tráo, vô liêm sĩ, bản năng và hoang dã.
Lý cùng đường. Mọi sợi dây ràng buộc chị với chồng và các thành viên trong gia đình đứt tung. Chị buông thả theo
lối sống phóng túng, sa đoạ, trác táng với tay trưởng phòng vật tư thoái hoá biến chất. Sự hư hỏng của Lý diễn ra dần dần
theo một quá trình buông thả mà không được sự hướng dẫn, giáo dục của tập thể, người thân. Chị vừa thiếu một nền


tảng, căn cốt văn hoá vừa thiếu một người tri kỷ, định hướng nâng đỡ về tinh thần, lại chịu tác động mạnh mẽ những mặt
trái của kinh tế thị trường, khiến chị không cưỡng lại được sự cám dỗ vật chất, lối sống vị kỷ, thực dụng, bản năng. Nhà
văn luôn dõi theo những bước chân của Lý. Ông sung sướng, hả hê khi Lý là một nàng dâu xinh đẹp, đảm đang; một
viên chức mẫn cán. Ông hóa thân vào ông Bằng ca ngợi Lý hiếu thảo; hóa thân vào Luận khen Lý tài giỏi, chân tình;
mượn lời Phượng, lời ông thiếu tá khen Lý trẻ đẹp hay lời ông giám đốc xí nghiệp đánh giá Lý năng nổ, tháo vát. Ngược
lại khi Lý sa ngã, hư hỏng, ông đau đớn, xót xa. Nỗi đau xót có khi nhà văn âm thầm nuốt vào lòng nhưng phần nhiều
được bột phát thành những lời phê phán khá quyết liệt. Giận Lý, trách Lý chủ yếu là để trách cứ những thành viên trong
gia đình đã không nâng đỡ, che chở và định hướng cho Lý; là trách tập thể, xã hội không giáo dục, uốn nắn kịp thời
những sai phạm của chị mà lại bỏ mặc và cuối cùng bỏ rơi chị. Chính vì thế, nhà văn đã chọn giải pháp để chị hối hận,
nhận ra sai lầm và xin trở lại mái nhà xưa. Mọi người trong gia đình cũng nhận thức được trách nhiệm của mình về sự sa
ngã của chị và mở rộng cánh cửa đón chị trở về.
Một năm trôi qua, gia đình ông Bằng xẩy ra biết bao chuyện. Có ai ngờ ngôi nhà bề ngoài tưởng là êm ấm, thuận
hoà ở đầu cái phố đẹp, ẩn mình dưới vườn cây yên tĩnh lại là một vùng chứa nhiều sóng gió đến thế. Một số thành viên
trong gia đình có người phải từ giã cõi đời, có kẻ phải tìm đến cái chết, có kẻ thương tích đầy mình, nhưng tất cả đã
nhận ra chân lý: gia đình dù chỉ là giọt nước của biển cả, song nếu thiếu những giọt nước nhỏ bé ấy thì làm sao có được
đại dương bao la! Chúng ta, những độc giả củaMùa lá rụng trong vườn không phải không có lúc băn khoăn về những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status