Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lời mở đầu
******
Ngành CNĐT Việt Nam xuất hiện từ giữa những năm 60 của thế kỷ XX nhưng
chỉ thực sự hình thành vào cuối những năm 80 và dần hoàn thiện vào năm 2000 khi
luồng đầu tư nước ngoài vào ngành điện tử bắt đầu có hiệu ứng lan toả. Từ năm 1994
trở lại đây, ngành Điện tử trong nước bắt đầu có những bước tiến vượt bậc, tốc độ
tăng trưởng hàng năm đạt từ 20-30%. Từ chỗ hàng điện tử trong nước chưa có gì, đến
nay ngành Công nghiệp Điện tử Việt Nam đã xuất khẩu vào 35 nước, kim ngạch xuất
khẩu tăng từ 90 triệu USD năm 1996 lên 1,5 tỷ USD năm 2005 và 1,77tỷ USD năm
2006. Như vậy, trong vòng 10 năm kim ngạch xuất khẩu của hàng điện tử tăng lên 18
lần. Trong cơ cấu ngành điện tử thì ngành điện tử tiêu dùng (sản xuất radio, tivi, thiết
bị truyền thông) giữ vai trò chi phối, chiếm hơn 80% giá trị sản xuất công nghiệp. Tuy
nhiên, ngành CNĐT Việt Nam vẫn còn nhiều những khó khăn và hạn chế . Kinh
nghiệm của nhiều nước cho thấy, thông thường ngành điện tử của họ chỉ trải qua giai
đoạn lắp ráp từ 5 đến 10 năm sau đó mới đi vào sản xuất linh kiện, thiết kế và hoàn
thành sản phẩm. Trong khi đó, trải qua 30 năm mà ngành điện tử Việt Nam vẫn gần
như khai thác các sản phẩm cũ, lợi nhuận thấp, giá trị gia tăng ước tính đạt 5-10% và
đáng cảnh báo hơn là vẫn chưa có dấu hiệu gì chứng tỏ ngành CNĐT Việt Nam sắp
vượt qua thời kỳ “lắp ráp”. Bên cạnh đó, năng lực sản xuất của các doanh nghiệp
CNĐT Việt Nam còn lệ thuộc rất lớn vào khả năng sản xuất của các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước chưa có một chiến lược chủ
động hơn trong sản xuất, định hướng của ngành chưa được rõ nét. Năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp điện tử Việt Nam còn rất yếu ngay cả trên thị trường nội
địa, các doanh nghiệp trong nước quy mô đa phần là nhỏ, công nghệ ở mức trung
bình, có động lực nhưng chưa có chuyển biến về sự đổi mới công nghệ, phương thức
sản xuất và quản lý, chủ yếu dừng ở mức lắp ráp. Việc tổ chức sản xuất linh kiện
Nguyễn Thị Thu Huyền Lớp: Kinh tế phát triển B
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chưa phát triển mạnh, đơn lẻ, manh mún và chủ yếu phát triển ở các doanh nghiệp có
một ngành kinh tế mũi nhọn.
Phương pháp nghiên cứu: tác giả áp dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ
bản sau:
- Phương pháp thu thập thông tin, tài liệu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp chuyên gia, điều tra, khảo sát.
- Phương pháp hệ thống hóa và dự báo…
Kết cấu đề tài gồm ba phần:
Chương I. Một số luận cứ cơ bản về năng lực cạnh tranh ngành và liên kết sản
xuất công nghiệp
Chương II. Thực trạng về năng lực cạnh tranh của ngành CNĐT Việt Nam và
vấn đề LKSX quốc tế trong ngành
Chương III. Giải pháp tăng cường liên kết sản xuất quốc tế nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh của ngành CNĐT Việt Nam
Qua đây, tôi cũng chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của giáo viên
hướng dẫn ThS. Vũ Cương, cùng sự giúp đỡ của Chánh Văn Phòng TS.Vũ Ngọc
Thanh, Trưởng phòng Quản lý khoa học và Hợp tác Quốc tế ThS.Hồ Lê Nghĩa thuộc
Viện Nghiên cứu Chiến lược Chính sách Công nghiệp, Bộ Công Thương đã tạo điều
kiện cho tôi hoàn thành chuyên đề thực tập này. Do khả năng và trình độ hiểu biết còn
hạn chế nên trong quá trình hoàn thành chuyên đề không tránh khỏi những sai sót,
nhiều phân tích chưa sâu, số liệu thực tế không nhiều. Chính vì vậy rất mong được sự
đánh giá và góp ý tận tình của độc giả. Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 24 tháng 04 năm 2009
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Huyền
Nguyễn Thị Thu Huyền Lớp: Kinh tế phát triển B
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chương I. Một số luận cứ cơ bản về năng lực cạnh tranh ngành và liên kết
sản xuất công nghiệp
1.1.2. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh ngành
Dựa vào quan điểm tổng hợp, kết hợp với quan điểm quản trị chiến lược của
M.Porter và quan điểm tân cổ điển và kinh tế học về tổ chức công nghiệp, có thể giúp
chúng ta đo lường được NLCT đồng thời cũng chỉ ra được những nhân tố thúc đẩy
hay cản trở NLCT. Dưới đây là một số tiêu chí phản ánh NLCT ngành:
1.1.2.1. Năng suất
Năng suất là khả năng sản xuất một khối lượng sản phẩm trong một đơn vị
thời gian. Năng suất ảnh hưởng rất lớn tới chi phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
Năng suất cao sẽ làm cho giá thành sản phẩm hạ và giá cả hàng hoá giảm. Điều này
chứng tỏ khả năng thâm nhập thị trường cũng như sức cạnh tranh sản phẩm ngành
làm ra được. Còn nếu năng suất lao động thấp thì giá thành sản phẩm sẽ cao, giá cả
trong nước của các hàng hoá cũng sẽ cao, từ đó sẽ làm cho mức độ tiêu thụ kém, hàng
hoá bị ứ đọng, hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngành sẽ không cao. Khi tới một
chừng mực nhất định nào đó, ngành hàng sẽ không chịu được sức ép.
1.1.2.2. Công nghệ
Bao gồm các chi phí cho hoạt động nghiên cứu triển khai, cấp độ sử dụng và
khả năng, phương hướng thay đổi công nghệ nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh nội
bộ ngành.
1.1.2.3. Sản phẩm
Bao gồm chất lượng sản phẩm, tính độc đáo, khác biệt của sản phẩm. Đây là
hệ thống những đặc tính nội tại của sản phẩm được xác định bằng thông số có thể đo
được và so sánh được, phù hợp với điều kiện kinh tế và thỏa mãn được nhu cầu nhất
định nào đó của xã hội. Chất lượng sản phẩm đang là vấn đề sống còn của ngành, nó
giúp ngành mở rộng thị phần tiêu thụ sản phẩm hàng hóa và đạt lợi nhuận cao.
1.1.2.4. Đầu vào và chi phí sản xuất
Nguyễn Thị Thu Huyền Lớp: Kinh tế phát triển B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Phân tích dựa trên cơ sở giá cả đầu vào chủ yếu và hệ số chi phí các nguồn lực
phục vụ quá trình sản xuất sản phẩm.
Đây là một tiêu chí thể hiện vị thế của người cung ứng với nhau hoặc là vị thế
của người cung ứng với người mua đối với một loại sản phẩm hay mặt hàng nhất
định.
1.1.2.8. Thị phần
Thị phần là tiêu chí dùng để đánh giá năng lực cạnh tranh của các sản phẩm
mà ngành sản xuất ra, nó cho biết khả năng chấp nhận của thị trường đối với sản
phẩm mà ngành cung cấp. Thông qua thị phần chúng ta còn biết được sản phẩm của
ngành có tính cạnh tranh quốc tế không hay đơn thuần chỉ là cạnh tranh nội địa. Ngoài
ra, thị phần còn phản ánh mức độ tập trung trong sản xuất kinh doanh đối với loại sản
phẩm hàng hóa của ngành với vị thế cảu người mua đối với loại sản phẩm hay hàng
hóa nhất định, biểu hiện uy tín của ngành, sự tin cậy của người mua trong việc cung
ứng, thanh toán, giá cả, chất lượng dịch vụ sau bán hàng của hàng hóa đó trên thị
trường.
(%)
MP
P
MS
+
=
Trong đó:
MS: Thị phần của ngành trên thị trường trong nước
P : Sản lượng của ngành (được tính bằng hiện vật hoặc doanh thu)
M : Sản lượng nhập khẩu mặt hàng đang xét hoặc giá trị hàng nhập khẩu
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của ngành
Theo M.Porter, sự thành công của một ngành chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố
sau:
- Điều kiện về nhân tố nguồn lực
- Điều kiện về nhu cầu
Nguyễn Thị Thu Huyền Lớp: Kinh tế phát triển B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
càng nhiều thì ngành càng có nhiều cơ hội để phát triển nhưng cũng đồng nghĩa với
việc phải cạnh tranh với nhiều loại sản phẩm hơn, với nhiều đối thủ hơn. Nếu không
biết dựa vào những nguồn lực của mình để tạo ra những sản phẩm khác biệt, có ưu
thế hơn hẳn thì dù thị trường tiêu thụ có lớn đến đâu, có tiềm năng đến mấy thì các
sản phẩm trong ngành cũng khó mà cạnh tranh được. Từ đó sẽ làm giảm NLCT của
toàn ngành.
1.1.3.5. Công nghiệp phụ trợ
Công nghiệp phụ trợ liên quan đến hầu hết các ngành công nghiệp chế tạo như
ôtô, xe máy, cơ khí…Công nghiệp phụ trợ phát triển, ngành sẽ không phải đi nhập
khẩu hay mua linh kiện từ các doanh nghiệp, quốc gia khác trong ngành, điều này sẽ
tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất của các doanh nghiệp trong ngành.
1.1.3.6. Thương hiệu
Đây là nhân tố có vai trò quyết định đến sự phát triển, sống còn của doanh
nghiệp. Thương hiệu mang lại các giá trị to lớn sau: tạo nên sự khác biệt trong suốt
quá trình phát triển sản phẩm, đưa sản phẩm khắc sâu vào tâm trí khách hàng, tạo nên
định hướng và ý nghĩa cho sản phẩm…
1.1.4. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp điện
tử Việt Nam
1.1.4.1.Định nghĩa và phân loại ngành Điện tử
CNĐT là ngành sản xuất thiết bị điện tử (điện tử dân dụng, điện tử công
nghiệp, điện tử chuyên dụng, công nghệ thông tin, viễn thông), sản xuất vật liệu, linh
phụ kiện điện tử, các sản phẩm phần mềm, các dịch vụ (tin học, điện tử công nghiệp
và chuyên dụng, viễn thông).
Có rất nhiều cách phân loại ngành Điện tử nhưng trong phạm vi đề tài, tác giả
phân loại các sản phẩm điện tử như sau:
* Thiết bị tự thiết kế chế tạo
Nguyễn Thị Thu Huyền Lớp: Kinh tế phát triển B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phát triển cũng đang quan tâm đầu tư nghiên cứu thiết kế, chế tạo nhằm tạo thế chủ
động của nước mình ở mọi phương diện trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu.
* Chế tạo linh kiện điện tử
Trong hai thập kỷ vừa qua, các nước công nghiệp phát triển đã chuyển sản
xuất phụ tùng linh kiện điện tử có độ tích hợp thấp và trung bình sang các nước đang
phát triển thông qua đầu tư nước ngoài để lập cơ sở sản xuất. Các nước công nghiệp
phát triển tập trung thiết kế và sản xuất các loại phụ tùng linh kiện điện tử độ tích hợp
và hàm lượng chất xám cao với hai xu hướng cơ bản:
- Đầu tư để tạo ra các loại phụ tùng linh kiện cho các hệ thống thiết bị điện tử có mức
độ tự động hóa cao.
- Đầu tư để tạo ra các loại phụ tùng linh kiện nhằm giảm công suất tiêu thụ và tăng
khả năng tác động nhanh cho các thiêt bị và hệ thống thiết bị điện.
Ở các nước đang phát triển, đặc biệt các nước trong khu vực, để tìm lối đi
riêng cho mình, hầu hết các doanh nghiệp điện tử đã lựa chọn con đường phát triển
công nghệ ASIC nhằm tạo ra các loại IC chuyên phục vụ cho sản xuất các thiết bị nội
địa hoàn chỉnh, chất lượng cao, giá thành rẻ, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và
chiếm lĩnh thị trường thế giới.
1.4.1.2. Đặc trưng của ngành CNĐT và ảnh hưởng của những đặc trưng tới năng lực
cạnh tranh ngành CNĐT
Mặc dù ra đời chậm hơn so với các ngành công nghiệp khác nhưng ngành
CNĐT là ngành phát triển nhanh và mạnh nhất trong hai thập kỷ qua. Ngành CNĐT
có những đặc trưng sau:
1.1.4.2.1. CNĐT là ngành có công nghệ cao, ứng dụng nhiều kết quả nghiên cứu khoa
học tiên tiến
Công nghiệp điện tử là ngành được xây dựng dựa trên những thành tựu tiên
tiến trong các lĩnh vực vật lý như quang học, công nghệ laser, vật lý bán dẫn…Điều
này thấy rõ hơn qua công nghệ chế tạo các mạch tích hợp lớn như bộ vi xử lý, một
Nguyễn Thị Thu Huyền Lớp: Kinh tế phát triển B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của ngành. Khoảng thời gian từ khi đưa sản phẩm ra thị trường cho đến ngày nay bị
thay thế bởi sản phẩm khác tốt hơn ngày càng rút ngắn. Sự phát triển như vũ bão của
công nghệ thông tin trong thời gian qua cũng là kết quả của các tiến bộ công nghệ
trong lĩnh vực điện tử. Chính vì vậy mà tốc độ phát triển nhanh chóng không chỉ về số
lượng mà cả về chất lượng đã trở thành tiêu chuẩn sống còn của ngành CNĐT.
1.1.4.2.3. CNĐT cần vốn đầu tư lớn, thu lợi nhuận cao, cạnh tranh gay gắt và độ rủi
ro cao
Để tạo ra các sản phẩm điện tử đòi hỏi sự đầu tư lớn về nghiên cứu và phát
triển sản phẩm, xây dựng nhà máy, đào tạo nhân lực…Vì vậy, vốn đầu tư cho ngành
CNĐT là rất lớn để xây dựng cơ sở vật chất ban đầu nhưng nếu chỉ trông chờ vào thị
trường trong nước thì rất khó thu hồi vốn, rủi ro cũng lớn vì không có thị trường tiêu
thụ và giá thành lại cao. Vì vậy, cần phải tính đến thị trường quốc tế và liên doanh,
liên kết với các công ty đa quốc gia để tranh thủ vốn, công nghệ, kỹ thuật và cả nguồn
nhân lực…Ngành CNĐT là ngành mang lại lợi nhuận khá là cao chính vì vậy mà khả
năng cạnh tranh rất gay gắt và độ rủi ro đầu tư cũng khá lớn.
1.1.4.2.4. CNĐT có xu hướng chuyển dịch công nghệ từ các nước phát triển sang các
nước đang phát triển nơi có nhân công rẻ hơn
Toàn cầu hoá kinh tế đang là xu hướng phát triển của thế giới. Theo xu hướng
toàn cầu hóa, để tăng khả năng cạnh tranh và có lợi nhuận cao, các nước có nền công
nghiệp điện tử phát triển sẽ dịch chuyển việc sản xuất sản phẩm có công nghệ thấp
sang các nước đang phát triển có nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ. Nhờ đó,
các nước đang phát triển có cơ hội tiếp thu công nghệ, thu hút đầu tư đào tạo nguồn
nhân lực nhằm phát triển sản phẩm có công nghệ cao hơn. Chính vì vậy mà những
quốc gia nào có nguồn nhân công dồi dào, giá rẻ có thể được coi là lợi thế cạnh tranh
so với các quốc gia khác trong việc thu hút đầu tư vào ngành CNĐT.
1.1.4.2.5. CNĐT có giá thành sản phẩm giảm nhanh và sản phẩm nhanh chóng lạc hậu
Nguyễn Thị Thu Huyền Lớp: Kinh tế phát triển B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sự phát triển không ngừng của công nghệ bán dẫn đã làm cho khả năng tích