B
TR
GIÁO D C VÀ ÀO T O
NG
I H C KINH T TP.HCM
NGUY N V N SÁNG
LU N V N TH C S KINH T
TP. H Chí Minh – N m 2001
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ
I. Thuế-công cụ điều tiết vó mô nền kinh tế
1. Nguồn gốc ra đời và bản chất của thuế
2. Các hình thức của thuế-Phân loại thuế
3. Phí và lệ phí
4. Vai trò của thuế trong nền kinh tế thò trường
II. Giới thiệu sơ lược về quá trình phát triển hệ thống thuế Việt nam
1. Khái niệm hệ thống thuế
2. Yêu cầu khách quan của hệ thống thuế hiệu quả
3. Hệ thống thuế Việt nam từ 1945 đến nay
III. Kinh nghiệm tổ chức hệ thống thuế ở một số nước trên thế giới
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ VÀ VAI TRÒ
chức lẫn nội dung và phương pháp hành thu . Theo đó hàng loạt các sắc
thuế hoàn chỉnh được ban hành, mà đáng nói nhất phải kể tới thuế
doanh thu, thuế lợi tức. Các sắc thuế này đã góp phần quan trọng trong
thời kỳ đầu trong công cuộc đổi mới, không những đưa đất nước thoát
khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội mà còn tạo ra được động lực tích cực
mang lại khởi sắc rực rỡ cho nền kinh tế. Tuy nhiên theo thời gian và sự
phát triển kinh tế- xã hội, thuế doanh thu, thuế lợi tức và một số nội
dung của các sắc thuế khác đã dần dần bộc lộ rõ nhiều nhược điểm,
nhiều dấu hiệu có nguy cơ đe dọa đến việc phát huy vai trò của thuế.
Các sắc thuế này trở nên lạc hậu, không còn phù hợp với giai đoạn đẩy
mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, đồng thời mở rộng quan
hệ hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đứng
trước tình hình đó, yêu cầu đổi mới hệ thống thuế đặt ra gay gắt và bức
bách hơn bao giờ hết. Và vì vậy cuộc cải cách thuế bước hai được tiến
hành gấp rút ngay từ đầu năm 1999. Nội dung cơ bản của cuộc cải cách
thuế lần này là xóa bỏ thuế doanh thu, thuế lợi tức, thay vào đó là thuế
GTGT và thuế TNDN cùng với việc bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện thuế tài
nguyên, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế xuất nhập khẩu và thuế
tiêu thụ đặc biệt.
Qua hơn hai năm thực hiện cuộc cải cách thuế bước hai, bên cạnh
những thành tựu to lớn đã đạt được, hệ thống thuế vẫn còn bộc lộ một
số vấn đề ảnh hưởng đến việc phát huy vai trò của thuế. Đó là các vấn
đề về thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế đối với hộ kinh doanh nhỏ,
thuế GTGT trong khâu nhập khẩu, vấn đề thanh tra-kiểm tra, về chỉ tiêu
giao kế hoạch và một số vấn đề khác về thuế. Với những lý do trên, tôi
quyết đònh chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai
trò của công cụ thuế trên đòa bàn tỉnh Bà Ròa-Vũng Tàu” cho luận
văn tốt nghiệp thạc só kinh tế.
Ngoài phương pháp thống kê toán, phương pháp nghiên cứu có
tính chất xuyên suốt và bao trùm toàn bộ đề tài là phương pháp biện
Khi xã hội loài người phát triển từ chế độ cộng sản nguyên thủy
sang chiếm hữu nô lệ, cũng là lúc xã hội chuyển từ trạng thái tự nhiên
sang sản xuất hàng hóa. Lúc này phân công lao động xuất hiện, sức
sản xuất được nâng lên, của cải xã hội làm ra nhiều hơn, trao đổi được
mở rộng, quan hệ hàng hóa tiền tệ ra đời… những điều kiện này đã làm
nảy sinh ra một lớp người giàu có, chiếm đoạt và tập trung ngày càng
nhiều nguồn lực của cải về tay mình. Họ từng bước củng cố thế lực, liên
kết lại với nhau, vượt lên mọi tầng lớp còn lại trong xã hội để hình thành
nên giai cấp thống trò. Từ đây, quyền lực tập trung chi phối xã hội của
giai cấp thống trò bắt đầu xuất hiện gắn liền với sự ra đời của nhà nước
do chính giai cấp đóù đẻ ra.
Để duy trì hoạt động và củng cố bộ máy của mình, nhà nước sử
dụng sức mạnh quyền lực buộc mọi người dân phải chuyển một phần
công sức và thu nhập vào tay mình mà không được quyền phản kháng.
Những khoản đóng góp mà người dân buộc phải nộp cho nhà nước đó
chính là thuế.
Lúc đầu sức sản xuất còn thấp, thu nhập xã hội và chi tiêu của
nhà nước không nhiều nên thuế rất đơn giản, rời rạc và thường được thể
hiện dưới hình thức ngày công và hiện vật, tức những sản phẩm do
người dân trực tiếp làm ra. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất xã hội, sự phát triển ngày càng cao của kinh tế
hàng hóa, tiền tệ, sự gia tăng mạnh mẽ của các chức năng và quyền lực
của nhà nước đã phát sinh ra những yêu cầu chi tiêu to lớn, đa dạng và
phức tạp làm nảy sinh những biến đổi lớn lao về thuế. các hình thức thu
nộp bằng hiện vật và ngày công không còn phù hợp nữa, thay vào đó
các quan hệ về thuế dưới hình thức giá trò được hình thành và ngày càng
phát triển có tính chất hệ thống, các thứ thuế khác nhau lần lượt ra đời
-4-
nhà nước điều hành quản lý kinh tế- xã hội một cách năng động hiệu
quả.
Nói tới khái niệm của thuế là nói đến các dấu hiệu cơ bản nhất,
phân biệt với các loại hình động viên khác của nhà nước và luôn đúng
với mọi kiểu nhà nước. Các dấu hiệu đó theo tôi là nguồn thu, cách thu
và mục đích thu. Trên cơ sở đó, tôi xin nêu một đònh nghóa về thuế
”Thuế là hình thức động viên bắt buộc theo luật đònh một phần thu nhập
-5-
của mỗi tổ chức, cá nhân trong xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu và
thực hiện các chức năng của nhà nước”.
Khái niệm này đã làm rõ được 3 dấu hiệu của thuế đã nêu trên.
- Về nguồn thu: Đó là một phần thu nhập của mỗi thành viên trong
xã hội (tổ chức, cá nhân). Có thu nhập mới có tiền để nộp thuế, nhưng
chỉ một phần thôi, phải có phần còn lại để tái sản xuất giản đơn và tái
sản xuất mở rộng trong chu kỳ sản xuất tiếp theo. Nếu triệt tiêu sản xuất
thì không có thu nhập để đóng thuế. Cơ sở của thuế chính là thu nhập
xã hội. Thu nhập xã hội càng cao tất yếu thuế sẽ thu được càng nhiều.
Đó cũng là nội dung kinh tế cơ bản của thuế.
- Về phương thức thu thuế: Khác với các loại hình động viên khác
của nhà nước như công trái, vay, quyên góp, . . . dựa trên cơ sở tự
nguyện, thuế dựa trên sự cưỡng bách bằng quyền lực và ý chí của nhà
nước để buộc các thành viên trong xã hội đóng góp một phần thu nhập.
Ở nước ta, điều 80 hiến pháp năm 1992 quy đònh: ”Công dân có
nghóa vụ đóng thuế theo quy đònh của pháp luật” hay như tại điều 84 của
hiến pháp 1992 đã ghi “ Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn: Làm luật
và sửa đổi luật, quyết đònh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh thuế;
Quốc hội quy đònh, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế”.
Bản chất này quy đònh rõ sự vận động phát triển của thuế, thể
hiện ở nguồn gốc của thuế, tức đối tượng thu thuế : nguồn thu nhập xã
hội – cơ sở kinh tế của thuế; phương thức vận động của thuế : các quan
hệ phân phối bắt buộc; xu hướng vận động được quy đònh ở mục đích
của thuế : đáp ứng nhu cầu của nhà nước.
Rõ ràng là bản chất trên có tính chất bao trùm và khái quát nhất
trên cả ba mặt kinh tế, giai cấp và xã hội.
- Về kinh tế: Kinh tế là cơ sở của thuế. Thuế gắn chặt với sản
xuất, kinh doanh và kiểm soát thu nhập của mọi tổ chức, cá nhân để
động viên và điều hòa thu nhập, điều tiết kinh tế (điều tiết sản xuất và
tiêu dùng). Nguồn thu từ thuế cho ngân sách nhà nước chỉ có thể tăng
nhiều, nhanh trên cơ sở kinh tế phát triển và đạt hiệu quả cao. Ngược
lại, qua thu thuế phải góp phần kích thích sản xuất kinh doanh phát
triển; thúc đẩy thực hành tiết kiệm về mọi mặt trong sản xuất và tiêu
dùng một cách hợp lý để tạo nguồn thu thuế ngày càng lớn hơn. Chính
vì vậy, nếu nhà nước tăng mức động viên thuế quá cao chỉ nhằm mục
đích đơn thuần tăng thu ngân sách đáp ứng yêu cầu chi của nhà nước
mà bỏ qua yêu cầu tăng trưởng về kinh tế thì thường gặp thất bại, dễ
dẫn tới hậu quả xấu về nhiều mặt cả về kinh tế – chính trò. Mức động
viên thuế hợp lý sẽ có tác dụng tăng thu ngân sách và kích thích sản
xuất kinh doanh phát triển.
- Về tính giai cấp của thuế: Thuế được hình thành là do sự ra đời
của nhà nước. Nhà nước mang tính giai cấp nên thuế cũng mang tính
giai cấp. Cùng một hiện tượng nhà nước thu thuế của dân, nhưng với
những nhà nước khác nhau thì bản chất giai cấp của thuế cũng khác
nhau. Điều đó được ẩn chứa bên trong những nội dung chủ yếu là thuế
thu vào ai? Thu như thế nào? Và thu để làm gì? Nhà nước nào cũng
phải thu thuế vào dân nhưng các nhà nước bóc lột thường đặt ra nhiều
loại thuế hà khắc, bất công, nặng nề vô lý để vơ vét, chi tiêu phè phỡn
(Nhà nước phong kiến); để chia bớt gánh nặng chi phí chiến tranh xâm
đỉnh cao là sự xuất hiện và phát triển của tiền tệ, thuế được thu bằng
tiền là chủ yếu. Với hình thức giá trò, các quan hệ về thuế ngày càng
phát triển có tính hệ thống, các loại thuế khác nhau lần lượt ra đời làm
cho thuế ngày càng đa dạng, phong phú. Nhưng để sử dụng tốt công cụ
thuế, cần phải phân loại các hình thức thuế, để hiểu rõ bản chất từng
loại thuế. Từ đó, xác đònh đúng đối tượng và phương pháp thu nộp thích
hợp, hiệu quả.
Có một số cách phân loại hình thức của thuế như sau :
* Căn cứ theo góc độ của người nộp thuế và người chòu thuế, người
ta thường chia làm hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu.
+ Thuế trực thu là loại thuế mà người nộp đồng thời cũng là người
chòu thuế. đây người nộp thuế tự tính và trích một phần thu nhập của
-8-
mình trực tiếp nộp cho nhà nước, tức là thuế thu trực tiếp vào thu nhập
của người nộp thuế. Ưu điểm của thuế trực thu là động viên trực tiếp vào
thu nhập của từng tổ chức, cá nhân có thu nhập nên bảo đảm được tính
công bằng xã hội: người có thu nhập nhiều thì nộp nhiều, người có thu
nhập ít thì nộp ít, không có thu nhập, thu nhập thấp thì không phải nộp
thuế. Thuế trực thu còn cho phép tính đến những yếu tố độc lập với thu
nhập của người nộp thuế như: Hoàn cảnh bản thân (bệnh tật), tình trạng
hôn nhân, hoàn cảnh gia đình (số người phải nuôi dưỡng), . . . Tuy vậy,
thuế trực thu cũng có những mặt hạn chế là: việc tính toán thuế phức
tạp, việc xác đònh đúng thu nhập rất khó khăn và thường diễn ra rất
chậm. Nhiều trường hợp phải đến kỳ quyết toán mới thu được đủ thuế;
Có trường hợp thu thiếu thì phải nộp thêm, thu thừa thì phải hoàn trả.
Một trở ngại khác là thuế thu trực diện vào thu nhập của người nộp thuế
nên về tâm lý dễ bò phản ứng. Mặt khác nếu chỉ thu thuế trực thu thì
diện quản lý thu thuế sẽ rất rộng (đất nước có bao nhiêu người thì có
thu đánh như nhau trên cùng một loại sản phẩm nên người giàu và
người nghèo nếu tiêu dùng cùng một loại sản phẩm hàng hóa và số
lượng như nhau thì chòu thuế như nhau. Nhưng thực chất tỷ lệ động viên
thuế gián thu so với thu nhập thì người giàu chòu thuế thấp hơn người
nghèo. Người có mức thu nhập càng cao thì tỷ lệ nộp thuế gián thu trên
thu nhập càng thấp.
* Căn cứ theo đối tượng đánh thuế, có các loại sau :
− Thuế đánh vào sản phẩm hàng hóa như : thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế
xuất nhập khẩu.
− Thuế đánh vào giá trò tăng thêm như thuế GTGT.
− Thuế đánh vào thu nhập như thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân đối
với người có thu nhập cao.
− Thuế đánh vào tài sản như : thuế nhà đất, thuế chuyển quyền sử
dụng đất.
− Thuế đánh vào việc khai thác sử dụng tài nguyên như thuế tài
nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Ngày nay, cùng với đà phát triển về kinh tế, xã hội kéo theo vai trò
quản lý của Nhà nước ngày càng mở rộng, thì hầu hết các quốc gia điều
có xu hướng chuyển hóa chế độ thuế từ vài loại thuế đơn lẻ sang một hệ
thống đa sắc thuế bao quát hơn mọi mặt đời sống kinh tế xã hội .
3. Phí – Lệ phí :
3.1. Khái niệm phí và lệ phí (gọi chung là lệ phí) :
Lệ phí được đề cập ở đây là các loại lệ phí do nhà nước quy đònh
gắn liền với các hoạt động quản lý hành chính của các cơ quan hành
chính nhà nước. Về loại này, trong thực tế hiện nay có loại gọi là lệ phí
như lệ phí trước bạ, lệ phí chứng thu, lệ phí công chứng, lệ phí bay qua
công bằng là thuế do toàn dân đóng góp, nhưng dòch vụ công cộng do
nhà nước cung cấp thì thường có một số người được hưởng nhiều hơn.
Chính vì vậy, việc thu lệ phí sẽ có hai điều lợi là : Đảm bảo cung cấp
dòch vụ công cộng có hiệu quả, nâng cao được hiệu lực quản lý hành
chính nhà nước, đồng thời tránh được việc tăng thuế gây ảnh hưởng
không tốt.
3.2. Phân biệt thuế với lệ phí :
Thuế, phí và lệ phí đều giống nhau về tạo nguồn thu cho ngân
sách nhà nước, đều là một phần thu nhập của các tổ chức, cá nhân
đóng góp cho nhà nước để phục vụ nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Tuy
nhiên giữa chúng có sự khác biệt rõ rệt ở ba khía cạnh sau :
-Về đẳng cấp pháp lý: Thuế có đẳng cấp cao hơn phí và lệ phí.
Thuế được ban hành chủ yếu dưới dạng luật hoặc pháp lệnh do Quốc
hội hoặc Ủy ban Thường trực Quốc hội thông qua, còn phí và lệ phí
được ban hành chủ yếu dưới dạng nghò đònh, quyết đònh của chính phủ,
thậm chí có loại do chính quyền đòa phương ban hành (theo sự phân cấp
của nhà nước). Thủ tục và trình tư ban hành lệ phí không phức tạp,
không chặt chẽ như thuế.
- 11 -
- Về tính chất : Thuế vừa mang tính trực thu, vừa mang tính gián
thu còn lệ phí chỉ đơn thuần mang tính trực thu.
- Về mặt kinh tế : Thuế đóng 3 vai trò lớn : Tạo nguồn thu chủ yếu
cho ngân sách, điều chỉnh vó mô nền kinh tế và điều tiết thu nhập, góp
phần thực hiện công bằng xã hội. Trong khi phí và lệ phí chỉ có tác dụng
tạo nguồn thu cho ngân sách. Mặc khác, số thu từ thuế được tập trung
vào ngân sách sau đó phân phối sử dụng theo các mục tiêu khác nhau,
không quy đònh gắn với một mục đích chi nhất đònh và không có tính
- 12 -
một cách hiệu quả không ai khác hơn, chính nhà nước phải nhảy vào
cuộc.
Như vậy, chính sự phát triển của nền sản xuất xã hội đã đặt ra
yêu cầu khách quan đòi hỏi nhà nước ngày càng mở rộng chức năng
quản lý điều hành kinh tế xã hội của mình, và để thực hiện tốt các chức
năng này, đòi hỏi nhà nước phải có nguồn kinh phí lớn hơn, công cụ
quản lý hữu hiệu hơn để tác động vào nền kinh tế. Trên hết và trước hết
thuế là công cụ sắc bén được nhà nước nhận thức và sử dụng một cách
tất yếu đầy hiệu lực can thiệp vào các quá trình kinh tế- xã hội. Từ đây
thuế đảm nhận thêm hai vai trò nữa : Quản lý điều tiết vó mô nền kinh tế
và điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội. Đến đây ta có thể rút
ra một kết luận quan trọng : việc mở rộng vai trò của thuế luôn gắn liền
với sự mở rộng chức năng quản lý kinh tế – xã hội của nhà nước, và suy
cho cùng nó gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Từ vai
trò đầu tiên thuần túy tạo nguồn thu cho ngân sách, cho tới nay thuế đã
mở rộng thêm vai trò điều tiết vó mô nền kinh tế và điều tiết thu nhập
thực hiện công bằng xã hội. Chúng ta sẽ nghiên cứu từng vai trò cụ thể
dưới đây.
4.1. Thuế tạo nguồn thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước.
Đây là vai trò cơ bản thể hiện chức năng vốn có của thuế. Trong
nền kinh tế thò trường vai trò này càng được nổi bật bởi hệ thống thuế
gần như bao quát tất cả các hoạt động kinh doanh, các nguồn thu nhập
trong xã hội, và do đặc điểm riêng của thuế nó đã trở thành nguồn thu
chủ yếu cho ngân sách nhà nước. Vì như đã biết, thu ngân sách bao
gồm 2 nguồn thu chủ yếu : một là thu từ thuế và các khoản có tính chất
thuế (phí, lệ phí) hai là thu ngoài thuế như là công trái, vay, viện trợ, thu
81,2%
80,8%
83,3%
83,22%
Tạo nguồn thu cho ngân sách là vai trò và chức năng vốn có của
thuế. Tuy nhiên để phát huy vai trò này cần phải đặt thuế trong mối
quan hệ tăng trưởng kinh tế. Bởi chính sự tăng trưởng kinh tế là cơ sở
tồn tại và phát triển của thuế. Nhà nước không vì nhu cầu cấp bách của
mình để tăng thu mà bỏ qua yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của
thuế. Mặt khác, ở vai trò này của thuế, cần xem xét vấn đề có tính
nguyên tắc : thuế phải có tác dụng nuôi dưỡng thuế, tránh gây ra tình
trạng thuế giết thuế (lạm thu thuế). Muốn thế “hãy hớt lông cừu, đừng lột
da nó” và một thành ngữ Anh nói một cách hình ảnh và cụ thể hơn
“Người ta không thể vừa ăn thòt vừa uống sữa của một con bò”. Xu thế
khai thác nguồn thu thuế tốt nhất theo các chuyên gia là “Đối với các
nước đang phát triển, bình quân chiếm khoảng 18% GDP, đất nước
càng giàu lên thì tỉ lệ thuế trong GDP càng tăng lên”.
4.2. Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vó mô nền kinh tế xã hội :
Do chính sách thuế ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, giá cả mà
sự thay đổi của các yếu tố này gây tác động mạnh đến quan hệ cung –
cầu, đầu tư, tiêu dùng… trong nền kinh tế, nên thuế có vò trí quan trọng
trong việc quản lý, hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, và
cũng là công cụ trực tiếp nhất, cơ bản nhất tác động đến lợi ích của toàn
dân. Nhận thức rõ vấn đề này, nhà nước đã sử dụng công cụ thuế một
cách triệt để, để quản lý điều tiết vó mô nền kinh tế.
quả chung của toàn thể cộng đồng người trong xã hội cùng góp sức tạo
nên. Trong nền kinh tế thò trường, nếu để bản thân thò trường tự điều
chỉnh việc phân phối của cải và thu nhập của các thành viên trong xã
hội thì kết quả sẽ dễ dàng dẫn đến sự phân cực đối lập nhau với khoảng
cách ngày càng lớn: một thiểu số người sẽ giàu lên nhanh chóng và số
còn lại (chiếm đa số) phải chòu một cuộc sống nghèo khó. Do vậy, nếu
không chia xẻ thành quả chung cho mọi người một cách hợp lý thì thật
là thiếu công bằng, dễ dẫn đến sự bất ổn trong xã hội và xung đột giai
cấp gay gắt. Vì thế một lần nữa nhà nước phải sử dụng công cụ thuế
can thiệp vào xã hội để giải quyết những bất ổn nêu trên.
Thực chất thuế không phải là công cụ duy nhất để nhà nước thực
hiện công bằng xã hội, nhưng sự can thiệp của thuế sẽ dễ dàng hơn, tế
nhò và hiệu quả hơn so với các công cụ khác, ở đây thuế đã trực tiếp
hay gián tiếp can thiệp để điều tiết lại thu nhập qua hai cách tác động :
Thuế gián thu và thuế trực thu.
Qua tác động của thuế gián thu : với việc áp dụng các loại thuế, và
thuế suất phân biệt, trong đó ấn đònh các hàng hóa dòch vụ cao cấp xa
xỉ như xe ô tô, máy lạnh, bia, rượu, đua ngựa, đánh gold… phải chòu mức
thuế suất cao (thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu) nhằm điều tiết
một phần thu nhập của các tổ chức, cá nhân có thu nhập cao. Đồng thời
áp dụng mức thuế suất vừa phải, thậm chí thấp đối với các sản phẩm,
dòch vụ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng thiết yếu của đời sống nhân dân
lao động. Điều đó đã góp phần giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập
trong xã hội.
- 15 -
Qua tác động của thuế trực thu : Có hai loại thuế trực thu điển
hình: Thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập đối với người có
thu nhập cao. Thuế thu nhập doanh nghiệp bao hàm thuế thu nhập
có thể thực hiện được yêu cầu đề ra trong việc tạo nguồn thu hiệu quả,
trong việc điều tiết vó mô nền kinh tế – xã hội, cũng như yêu cầu đơn
giản, rõ ràng của từng sắc thuế, làm cho thuế dễ dàng được chấp nhận
hơn.
Cơ cấu một hệ thống chính sách thuế thường có ba loại thuế:
Thuế đánh vào thu nhập; Thuế đánh vào tiêu dùng; Thuế đánh vào vốn,
- 16 -
tài sản. Qua đó, nhà nước có thể kiểm soát đượ toàn bộ thu nhập xã hội
để bảo đảm số thu cho ngân sách và điều tiết vó mô đối với nền kinh tế.
2. Các yêu cầu khách quan của một hệ thống thuế hiệu quả :
Một hệ thống thuế hiệu quả phải đảm bảo được các yêu cầu sau :
2.1/ Hệ thống thuế phải bao quát hết nguồn thu để quản lý và thu vào
NSNN :
Tính tất yếu khách quan của yêu cầu này xuất phát từ yêu cầu
quản lý và về động viên.
Về mặt quản lý : Đối với thuế thì có quản lý mới thu thuế được và
ngược lại có thu mới dễ quản lý. Mà quản lý nhà nước là quản lý toàn
diện mọi đối tượng, mọi lónh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Do đó,
bao quát hết các nguồn thu là một đòi hỏi khách quan để thu thuế vào
ngân sách và thực hiện chức năng điều tiết. Có thể quản lý bằng nhiều
công cụ, biện pháp khác nhau, nhưng trong thực tế, quản lý bằng công
cụ thuế là sâu sắc hơn, thường xuyên hơn và có thế mạnh riêng của nó.
Về mặt động viên : Mọi công dân đều bình đẳng về nghóa vụ và
quyền lợi theo quy đònh của hiến pháp. Cho nên mỗi người đều có nghóa
vụ nộp thuế cho nhà nước. Nếu còn một số người không thực hiện nghóa
vụ nộp thuế thì không thể đảm bảo số thu cho ngân sách; Hoặc là gánh
nặng về thuế ấy phải dồn sang cho những người khác gánh chòu thêm
và như vậy là không công bằng. Vì vậy, một yêu cầu khách quan nữa là
nhiều hơn người có thu nhập thấp. Người không có thu nhập thì không
phải nộp thuế. Trên ý nghóa đó, thuế góp phần điều hòa thu nhập xã
hội. Bằng việc sử dụng đồng bộ các loại thuế, hệ thống thuế phải góp
phần thực hiện yêu cầu này.
2.4/ Hệ thống thuế phải quán triệt yêu cầu đơn giản, dễ hiểu, dễ làm,
dễ kiểm tra:
Tính khách quan của yêu cầu này thể hiện rõ ở tính xã hội rộng rãi
của thuế. Thuế thu vào toàn dân, thuế có liên quan đến mọi cá nhân, tổ
chức trong xã hội. Chính mọi người dân là người thực hiện các chính
sách do nhà nước ban hành. Chính sách thuế có đơn giản, dễ hiểu thì
người dân (ở mọi tầng lớp, mọi trình độ khác nhau) mới nhận thức và
thực hiện đúng. Như vậy thuế mới phát huy tác dụng.
Đơn giản có thể hiểu nôm na là không quá rườm rà, phức tạp. Cần
cân nhắc lựa chọn phương án đơn giản nhất trong điều kiện có thể
nhưng cần phải đảm bảo được yêu cầu về nội dung đề ra cho cả hệ
thống thuế và cho từng sắc thuế.
Yêu cầu dễ hiểu được thể hiện qua cách trình bày một luật thuế
sao cho lôgic, mạch lạc, rõ ràng bằng các từ ngữ phổ thông để ai cũng
hiểu rõ và đúng như nhau. Trường hợp cần thiết sử dụng tiếng nước
ngoài thì phải ghi chú giải thích.
Một chính sách thuế đơn giản, dễ hiểu thì sẽ dễ làm và dễ kiểm
tra giám sát việc thực hiện trong thực tế.
3. Hệ thống Việt nam từ năm 1945 đến nay :
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, nước Việt nam dân chủ cộng
hòa thành lập, các loại thuế phản tiến bộ trong thời Pháp thuộc được
- 18 -
hủy bỏ hoàn toàn, nguồn thu của Chính phủ chủ yếu dựa vào hình thức
kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế. Hệ thống thuế giai đoạn này
bao gồm 10 sắc thuế và một số loại phí, lệ phí. Đó là thuế nông nghiệp,
thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế lợi tức, thuế xuất nhập khẩu,
thuế tài nguyên, thuế thu nhập cá nhân, thuế nhà đất, thuế chuyển
quyền sử dụng đất, thuế thu về sử dụng vốn ngân sách nhà nước. Các
- 19 -
loại lệ phí gồm: Lệ phí môn bài, lệ phí sát sinh, lệ phí trước bạ, công
chứng, . . . phí cầu phà, kiểm dòch, lưu kho, . . .
Thời kỳ 1999 đến nay : Đứng trước yêu cầu bức xúc của hội nhập
và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cuộc cải cách
thuế bước 2 được hình thành và triển khai ngay từ đầu năm 1999. Nội
dung cơ bản của cuộc cải cách thuế lần này là thay thế thuế doanh thu
bằng thuế giá trò gia tăng, thay thế thuế lợi tức bằng thuế thu nhập
doanh nghiệp. Các sắc thuế và phí, lệ phí khác đều dựa trên cơ sở của
hệ thống thuế thời kỳ năm 1990, có sửa đổi bổ sung cho phù hợp với
tình hình mới.
III. Kinh nghiệm tổ chức hệ thống thuế ở một số nước trên thế giới :
Hầu hết các nước đều áp dụng chính sách có nhiều sắc thuế. Tên
gọi của từng sắc thuế có thể khác nhau nhưng đều gồm ba loại thuế chủ
yếu là thuế đánh trực tiếp vào thu nhập, thuế đánh vào việc sử dụng thu
nhập và thuế đánh vào thu nhập đã chuyển thành tài sản. Số lượng các
sắc thuế trong hệ thống thuế của một số nước như sau :
TÊN NƯỚC
Số lượng các sắc thuế
Thái Lan
- 20 -
tiêu giống nhau cho các loại thuế khác nhau vì mỗi sắc thuế, mỗi loại
thuế có vai trò khác nhau trong cơ cấu hệ thống thuế.
- Hai là: Thuế trực thu và thuế gián thu được phối hợp chặt chẽ với
nhau trong việc động viên cho ngân sách và điều tiết vó mô nền kinh tế
– xã hội. Nhưng thông thường thì những biện pháp ưu đãi đầu tư thường
tập trung nhiều ở nội dung miễn, giảm thuế trực thu sẽ có hiệu quả thực
tế hơn là miễn, giảm thuế gián thu.
Đứng trước xu thế mở rộng hợp tác song phương và đa phương và
để bù đắp việc cắt giảm thuế nhập khẩu, cũng như giảm thuế trực thu
nhằm kích thích phát triển trong điều kiện cạnh tranh, các nước, nhất là
các nước phát triển đang có xu hướng tăng thuế gián thu. Năm 1998,
Nhật Bản đưa thuế suất thuế VAT từ 3% lên 5%; Thái Lan nâng thuế
suất VAT từ 7% lên 10%; Áo từ 16% lên 32% (1994); Đức từ 10% lên
15% (1994); Đan Mạch, Thụy Điển, Đài Loan cũng duy trì thuế suất thuế
VAT ở mức cao là 25%.
Ở các nước có nền kinh tế đang phát triển, tuy thu nhập còn thấp
nhưng thuế thu nhập cũng được đặt ở vò trí quan trọng. Ngay như Lào là
một nước có nền kinh tế chưa phát triển, với hơn 4 triệu dân, nhưng từ
năm 1990 đã ban hành thuế thu nhập cá nhân với mức khởi điểm chòu
thuế là 25.000 kip/tháng (tương đương 400.000 đồng Việt nam). Thông
thường, các nước đều sử dụng biện pháp không thu thuế, miễn thuế,
giảm thuế, thoái trả thuế hoặc thu thuế thấp đối với mặt hàng, dòch vụ
cần khuyến khích; Đánh thuế cao đối với các hàng hóa, dòch vụ không
khuyến khích hoặc cần hạn chế phát triển. Inđônêsia quy đònh không
thu thuế đối với điện, khí đốt, sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biến
nhằm kích thích tiêu dùng đối với những mặt hàng này; Ở Thụy Điển,
khắc phục nhằm không ngừng phát huy hiệu quả các vai trò của thuế.
- 22 -
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ VÀ
VAI TRÒ CỦA NÓ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH BR-VT
I/ VỊ TRÍ ĐỊA LÝVÀ THẾ MẠNH KINH TẾ-XÃ HỘI TỈNH BR-VT.
Bà Ròa – Vũng Tàu (BR -VT) là một tỉnh miền Đông Nam Bộ Việt
Nam. Trung tâm tỉnh cách Tp Hồ Chí Minh 125km. Phía Đông và phía
Nam tỉnh giáp biển Đông, phía Tây giáp Đồng Nai và phía Bắc giáp Bình
Thuận. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 81.968 ha. Tính đến ngày
01/01/2001, tỉnh BR–VT có số dân lên tới 812.286 người, mật độ dân số
bình quân : 4 người/ha được phân bố trên 7 đơn vò hành chính cấp huyện
và tương đương gồm : Thành phố Vũng Tàu, thò xã Bà Ròa, các huyện :
Xuyên Mộc, Long Đất, Châu Đức, Tân Thành và Côn Đảo. Tỉnh BR –
VT có nhiều trục đường bộ lớn, giao thông thuận lợi với các tỉnh khác,
cùng hệ thống đường thủy với nhiều cầu cảng đã và đang được xây
dựng hiện đại tạo cho BR–VT có vò trí chiến lược quan trọng. Chính vì
vậy mà chính phủ đã qui hoạch đòa bàn tỉnh BR–VT cùng với Đồng Nai,
Thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương thành vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam và của cả nước trong thời kỳ phát triển mới.
Là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, khu vực kinh tế
phát triển năng động nhất trong cả nước, đồng thời cũng là khu vực hấp
dẫn nhất đối với đầu tư nước ngoài, cho nên BR–VT có nhiều cơ hội và
thế mạnh để đẩy nhanh nhòp độ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà.
Thế mạnh đầu tiên và quan trọng nhất là hoạt động thăm dò, khai
thác dầu khí. Với trữ lượng tài nguyên thiên nhiên dầu khí lớn, sản lượng
vẫn chiếm ưu thế.
Với những thế mạnh như vậy, cho phép BR–VT có những điều
kiện cơ bản để khắc phục những điểm còn yếu, phát triển toàn diện các
mặt kinh tế - xã hội tỉnh nhà theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Tất nhiên, để phát huy khơi dậy những thế mạnh sẵn có đó đòi hỏi phải
có sự tác động đồng bộ của nhiều chính sách phù hợp cả ở tầm vi mô
và vó mô. Riêng ở tầm vó mô, công cụ thuế luôn chiếm vò trí quan trọng
hàng đầu, mà việc phát huy hơn nữa vai trò của nó suy cho cùng cũng
là nhằm khơi dậy những thế mạnh của nền kinh tế, tạo ra những nguồn
lực làm điều kiện thúc đẩy các lónh vực khác, tiến tới phát triển cân đối
hài hòa cả về kinh tế lẫn xã hội.
II/ KẾT QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ NĂM 1996 - 2000.
Để xem xét, đánh giá tổng quát hiện thực vai trò của thuế đối với
sự phát triển kinh tế xã hội trên đòa bàn tỉnh BR–VT, làm cơ sở đề xuất
các giải pháp thúc đẩy sự vận hành đi lên của nền kinh tế xã hội bằng
việc phát huy hơn nữa vai trò của thuế, chúng ta có thể khảo sát thực
tiễn công tác quản lý thu thuế trên tỉnh nhà qua kết quả thu thuế và
công tác thanh tra- kiểm tra một số năm gần đây.
1/ Kết quả giao, thực hiện chỉ tiêu kế hoạch :
Nhiệm vụ thu được các cấp có thẩm quyền giao cho ngành thuế
tỉnh thực hiện từ năm 1996 đến năm 2000 như sau :
- 24 -