Hoàn thiện bảo hiểm y tế tại việt nam - Pdf 31

B

TR

GIÁO D C VÀ ÀO T O

NG

I H C KINH T TP.HCM

NGUY N H U NG C

LU N V N TH C S KINH T

TP. H Chí Minh – N m 2001


B

TR

GIÁO D C VÀ ÀO T O

NG

I H C KINH T TP.HCM

NGUY N H U NG C

LU N V N TH C S KINH T



2

2.2- Tình hình thực hiện bảo hiểm y tế tại điểm khảo sát ........................................... 56
2.2.1 - Tình hình thực hiện bảo hiểm y tế tại thành phố Hồ Chí Minh ................... 56
2.2.2- Đối chiếu tìmh hình thực hiện bảo hiểm y tế tại Cần thơ ............................. 82
2.2.3- Bảo hiểm y tế Hải Phòng............................................................................... 85
2.2.3- Bảo hiểm y tế Bình phước.............................................................................. 97
2.3- Đánh giá chung tình hình thực hiện bảo hiểm y tế, thành tựu và những vấn
đề đặt ra trên phạm vi cả nước .......................................................................... 89
2.3.1- Thành tựu đạt được ........................................................................................ 89
2.3.2- Những vấn đề đặt ra hiện nay ....................................................................... 95
Chương 3: GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN BHYT TẠI VIỆT NAM ................. 105
3.1- Phương hướng hoàn thiện bảo hiểm y tế ở Việt nam ......................................... 105
3.1.1- Mục tiêu ........................................................................................................ 105
3.1.2- Hoàn thiện bảo hiểm y tế ............................................................................ 107
3.2- Các giải pháp cơ bản ......................................................................................... 113
3.2.1- Giải pháp đa dạng hóa các loại hình và xã hội hóa BHYT .......................... 113
3.2.2- Giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng quỹ BHYT ................... 116
3.2.3- Giải pháp hoàn thiện cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý của BHYT ............. 127
3.2.4- Giải pháp bồi dưỡng, đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực BHYT ........... 134
3.2.5- Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của bảo hiểm y tế ................... 135
3.2.6- Giải pháp tăng nguồn lực cho phát triển bảo hiểm y tế ............................... 148
Ü Kiến nghò ............................................................................................................... 152
Ü Kết luận ................................................................................................................ 155
Ü Danh mục tài liệu tham khảo ............................................................................... 158
Ü Phụ lục


3

Bảng 2.15: Phân tích chi phí khám chữa bệnh nội trú ................................................. 74
Bảng 2.16: Hoạt động khám chữa bệnh bảo hiểm y tế Cần thơ.................................. 88
Bảng 2.17: Hoạt động khai thác bảo hiểm y tế Cần thơ.............................................. 88
Bảng 2.18: Hoạt động của bảo hiểm y tế Hải phòng .................................................. 91
Bảng 2.19: Hoạt động phát thẻ bảo hiểm y tế Bình phước năm 1997 ........................ 92
Bảng 2.20: Hoạt động chi trả khám chữa bệnh Bình phước năm 1997 ...................... 93
Bảng 2.21: Hoạt động của bảo hiểm y tế Việt nam ................................................... 94
Bảng 2.22: Phân tích công tác thu và phát hành thẻ năm 1999: ................................. 95
Bảng 2.23: Phân tích công tác KCB cho người có thẻ BHYT (năm 1999) ................. 96
Bảng 3.1: Các phương án dự kiến .............................................................................. 152
Bảng 3.2: Đối chiếu giữa BHYT và Bảo việt (phẫu thuật và nằm viện) ................. 156

B- DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Tổn thất do tiêu dùng quá mức ................................................................... 14
Hình 1.2 : Xác suất đồng nhất của chi phí y tế (mức chi phí sức khỏe
mong đợi) .................................................................................................. 29
Hình 2.1: Đồ thò mức độ sử dụng thẻ bảo hiểm y tế .................................................. 81
Hình 2.2: Đồ thò các tần số (Histogramme) tương ứng với số lần khám ..................... 83
Hình 3.1: Sơ đồ phân tích hành vi tiêu hao quỹ bảo hiểm y tế ................................ 127
Hình 3.2: Sơ đồ mối quan hệ gia tăng mức đóng và suy giảm sức lao động ............ 132
Hình 3.3: Sơ đồ mối quan hệ ở cơ quan kinh doanh bảo hiểm ................................ 135
Hình 3.4: Sơ đồ mối quan hệ trong hệ thống bảo hiểm y tế ..................................... 136
Hình 3.5 : Sơ đồ các tác nhân trong hoạt động bảo hiểm y tế .................................. 142


5

BẢNG CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT:

BHYT

hiểm nhân thọ và phi nhân thọ bảo hiểm xã hội tách khỏi ngân sách Nhà nước.
Việc bảo hiểm sức khoẻ và y tế cho người dân, nhất là những đối tượng
người nghèo và diện chính sách, là một trong những mối quan tâm lớn của chính
phủ. Bảo hiểm y tế lần đầu tiên được thực hiện tại Việt nam từ năm 1992, là một
chính sách xã hội. Là một chương trình mới, nên bảo hiểm y tế còn nhiều vấn đề
cần xem xét như: đònh hướng chưa rõ rệt, cơ cấu chưa ổn đònh, cơ chế quản lí còn
lỏng lẻo.
Trong quá trình hình thành và tổ chức thực hiện, tác động của bảo hiểm y
tế đã tạo nên những thay đổi trên nhiều mặt của đời sống tâm lý xã hội, cũng
như đặt ra vấn đề vai trò quản lý Nhà nước đối với BHYT.
Bên cạnh đó, BHYT thực chất là một biện pháp tài chính y tế, nên cần có
sự xác đònh rõ ràng vai trò của BHYT trong kinh phí hoạt động của ngành y nói
chung và trong sự phát triển bảo hiểm sức khỏe con người trong xã hội nói riêng.
Đó chính là lý do của cuộc khảo sát và cũng là mục tiêu nghiên cứu
của luận án này và chúng tôi chọn vấn đề “Hoàn thiện bảo hiểm y tế tại
Việt nam” làm đề tài nghiên cứu và thực hiện luận án Tiến só chuyên ngành.


7

2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI BHYT là một lãnh vực mới có tại Việt nam từ năm 1992 nên chưa có
nhiều tài liệu nghiên cứu ở Việt nam. Luận văn thạc só lần đầu tiên về BHYT
Việt nam được thực hiện tại đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh và cho
đến nay cũng chỉ mới có 5 luận văn sau đại học nghiên cứu về vấn đề này: 2
luận văn thạc só kinh tế (Những phương hướng cơ bản trong hoàn thiện công tác
bảo hiểm y tế tại Việt nam và Cải tiến quản trò bảo hiểm y tế ở Thành phố Hồ
Chí Minh) và 3 luận văn bác só chuyên khoa 1 y tế cộng đồng (như: Đánh giá
thực hiện bảo hiểm y tế trong năm đầu thực hiện, Khảo sát bảo hiểm y tế Thành
phố Cần thơ…). Nếu kể cả các công trình tìm hiểu của bản thân cơ quan bảo
hiểm y tế Việt nam mang tính nội bộ đem đối chiếu với mức độ tác động của


Cơ quan BHYT,

-

Cơ sở khám chữa bệnh cho bệnh nhân BHYT,

-

Các đơn vò sử dụng người lao động,

-

Người có thẻ BHYT.

• Phạm vi nghiên cứu:
- Khảo sát hoạt động BHYT trên các mặt khai thác, phân bố sử dụng quỹ
BHYT, quản lý nhà nước, quản trò kinh doanh.
- Không gian: lấy hoạt động BHYT thành phố Hồ Chí Minh có đối chiếu với
BHYT ở một số tỉnh đại diện vùng làm đối tượng khảo sát chủ yếu.
- Thời gian: từ khi thực hiện chính sách BHYT đến năm 2000.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án bao gồm:


9

o Phương pháp duy vật biện chứng trong nghiên cứu, hệ thống hóa lí luận;
o Các phương pháp kinh tế học trong phân tích và tổng hợp các dữ kiện, bao
gồm:
(i) Chọn mẫu khảo sát thống kê rồi từ đó suy ra kết luận:



10

d. Đề xuất phương hướng và các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện BHYT tại
Việt nam, xây dựng mô hình toán học, tạo cơ sở cho kế hoạch phát triển
BHYT (bắt buộc và tự nguyện).
7. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận
án có 3 chương, gồm 157 trang, 31 bảng và 9 hình.
Chương 1: Sự cần thiết của bảo hiểm y tế tại Việt nam.
Chương 2: Thực trạng của Bảo hiểm y tếtại Việt nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện bảo hiểm y tế tại Việt nam.


11

CHƯƠNG I:
SỰ CẦN THIẾT CỦA BẢO HIỂM Y TẾ
TẠI VIỆT NAM

1.1-

BẢN CHẤT, VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM Y TẾ -

1.1.1- NGUỒN GỐC CỦA BẢO HIỂM Từ khi con người hợp thành các bộ tộc, thì cũng hình thành sự giúp đỡ
đùm bọc lẫn nhau để đối phó với thú dữ và kẻ thù. Nhu cầu về bảo hiểm đã xuất
hiện ngay từ thời cổ đại thể hiện ở việc con người tụ họp nhau lại để giúp đỡ
cho những người bò tai nạn.
Trong xã hội công xã nguyên thủy, do chưa có tư hữu về tư liệu sản xuất,
sản phẩm thu được từ hái lượm săn bắn được phân phối đồng đều và các khó

thực hiện thỏa đáng cho cả hai bên thay vì người chủ phải trả một lúc những
khoản tiền lớn cho người lao động khi bò tai nạn (điều này sẽ có ảnh hưởng đến
công việc sản xuất kinh doanh gây thiệt hại cho cả chủ lẫn thợ) thì họ sẽ chỉ trả
những khoản tiền nhỏ trải rộng trong một thời gian dài (hàng năm). Điều này sẽ
khiến công việc sản xuất kinh doanh của họ không bò ảnh hưởng trực tiếp . Đó
chính là vai trò của công ty bảo hiểm xã hội và quỹ bảo hiểm xã hội. Với sự
tham gia của chính phủ, bảo hiểm xã hội đã được nâng tầm lên góp phần đảm
bảo an toàn cuộc sống người lao động khi gặp những rủi ro (tai nạn lao động
hoặc thất nghiệp) làm giảm hoặc mất khả năng lao động và điều này cũng góp
phần đảm bảo an toàn cho cộng đồng và xã hội.


13

Trên thế giới, từ năm 1894 đến 1899, các nước Đức – Anh – Pháp đã
thành lập Ủy ban thường trực an toàn xã hội quốc tế ( CPIAS ), Từ năm 1927 –
1947, các nước đã thành lập 2 tổ chức có liên quan đến việc bảo đảm quyền lợi
của người lao động:
o Hiệp hội an toàn xã hội quốc tế ( ISSA ) là một tổ chức không chính phủ có
tổ chức thành viên của 114 nước. Năm 1993, 123 nước có đại diện tại ISSA.
Văn phòng ISSA đặt tại Geneve và văn phòng đại diện các châu lục khu vực
Châu Á – Thái bình dương đặt ở Newdeli.
o Tổ chức lao động quốc tế ( ILO ) là tổ chức của chính phủ các nước. ILO là
thành viên của Liên hợp quốc.
Và cho đến hiện nay bảo hiểm y tế cùng bảo hiểm xã hội đã xuất hiện ở
hầu hết các quốc gia trên thế giới.
• Bảo hiểm y tế được hình thành như là một phần của bảo hiểm xã hội và cũng
đã có lòch sử hàng trăm năm nay.Từ năm 1890, tại Pháp đã có một tổ chức dưới
dạng một cơ quan xã hội có chức năng gần giống BHYT [63].
Như vậy, xét về nguồn gốc, bảo hiểm xuất phát từ thực tế là con người

Xuất phát từ mục đích trên, nhiệm vụ của bảo hiểm chủ yếu là giúp nhau
chia sẻ gánh nặng về chi phí do tai nạn rủi ro xảy đến, do đó xét về bản chất bảo
hiểm là một phương thức tài chánh giúp cho người bò các tai nạn rủi ro có thể
vượt qua cơn khó khăn trở lại cuộc sống bình thường và tiếp tục tham gia vào các
mặt kinh tế xã hội của đời sống. Xét trên phương diện nhà nước, bảo hiểm là một
hình thức tài chánh nảy sinh trong việc giải quyết những rủi ro có thể xảy ra cho
cá nhân con người trong sản xuất và đời sống xã hội, góp phần vào việc ổn đònh
an sinh xã hội. Từ đó, tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế cho phép, vào thể
chế kinh tế xã hội và mức độ xáo trộn xã hội có thể xảy ra nhiều hay ít mà mỗi


15

nước qui đònh loại hình bảo hiểm là bắt buộc hay tự nguyện, là dòch vụ công cộng
hay dòch vụ kinh doanh thương mại.
Bên cạnh đó, cơ chế hoạt động của bảo hiểm dựïa trên sự đóng góp của số
đông vào sự bất hạnh của số ít, nhằm phân tán hậu quả tài chánh của tổn thất.
Như vậy, bảo hiểm về thực chất là tổng thể mối quan hệ giữa những người được
bảo hiểm trong một cộng đồng bảo hiểm, là một hệ thống các quan hệ kinh tế
trong việc hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm dưới hình thái tiền tệ nhằm, đảm
bảo cho quá trình tái sản xuất được thường xuyên và liên tục.
1.1.2.2 - Bản chất của bảo hiểm y tế:
Bảo hiểm y tế là một dạng của bảo hiểm với đặc điểm là phải đảm bảo 2
mục tiêu:
-

Người dân được hưởng chăm sóc sức khỏe thông qua BHYT,

-


chánh sự nghiệp có thu do BHYT không được cấp vốn từ ngân sách nhà nước.
(ii)

Hai là, diện BHYT tự nguyện bao gồm các đối tượng không thuộc các

diện nêu trên. Và ngay cả ở trường hợp này, BHYT tự nguyện cũng vẫn là một
hình thức thực hiện chính sách xã hội áp dụng rộng rãi trong các tầng lớp dân
chúng. Điều này đã được tái xác nhận trong luật kinh doanh bảo hiểm trong đó
không chi phối loại hình BHYT tự nguyện. Quỹ BHYT chỉ là một quỹ trợ giúp
vào quỹ an sinh xã hội của chính phủ với mục tiêu là tiếp cận được các dòch vụ
CSSK càng nhiều càng tốt cho người dân. Các đối tượng BHYT tự nguyện này
sẽ là cơ sở để hình thành thò trường CSSK tại Việt nam dù là dựa trên một
chính sách xã hội mà trên nguyên tác sẽ không thể hình thành được một thò
trường có liên quan với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước về lâu dài.
Chúng tôi cho rằng BHYT toàn dân, BHYT cho mọi người là một hướng phát
triển đúng đắn và việc xác lập bản chất của loại hình BHYT tự nguyện này là
cần thiết để tạo một hành lang cho sự phát triển của BHYT trong thò trường
bảo hiểm phù hợp với thò trường CSSK tại Việt nam.


17

• Loại ý kiến thứ hai cho bảo hiểm y tế là dòch vụ kinh doanh, thương mại
với mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận, kèm theo là một hệ thống tổ chức dòch vụ
bảo hiểm phục vụ tận nơi đến tận từng cá thể đóng đủ các khoản phí dòch vụ theo
yêu cầu của công ty bảo hiểm đề ra. kiến này cho rằng trong cơ chế kế hoạch
hóa tập trung bao cấp trước đây đã thực hiện quá sớm “yếu tố cộng sản chủ
nghóa” trong lónh vực y tế vượt quá trình độ kinh tế cho phép. Trong quá trình
chuyễn đổi sang kinh tế thò trường, cần tiến hành “thương mại hóa” trong lónh
vực y tế do đó BHYT cũng là dòch vụ kinh doanh thương mại. Chúng tôi cho rằng

- Người này thụ hưởng không làm ảnh hưởng đến người khác.
Với nhận thức BHYT là dòch vụ công cộng có 2 tính chất nêu trên, thì dòch vụ
BHYT hiện nay tại VN chòu sự chi phối của các qui luật kinh tế với đầy đủ các
đặc điểm của loại hình này, trong đó nổi bật lên là lý thuyết về tổn thất phúc lợi
(xem Hình 1.1):
-

Với giá bán hàng hóa công (p) cao hơn chi phí cận biên MC ( Marginal cost)
thì sẽ xuất hiện tổn thất phúc lợi do sử dụng dưới khả năng Lw
(Welfare loss ) : p > MC å Lw.

Giá P
A
(D)

P

Lw
F

Le
MC

E

O

QE

B

-

Trả chi phí BHYT tương ứng MC: việc đồng chi trả x % là một cách thể
hiện trong đó bệnh nhân trả bổ xung chi phí ở đầu ra cũng đồng nghóa với hổ
trợ mức đóng BHYT ở đầu vào.
Tuy nhiên, mức đóng BHYTcộng thêm với hổ trợ mức đóng từ đồng chi

trả 20% như theo điều lệ BHYT 1998 qui đònh, nếu so với MC là cao hơn hay
thấp hơn thì chưa thể xác đònh được.Vì thế, trường hợp BHYT bắt buộc cần giới
hạn loại hình được hưởng quyền lợi BHYT.
b) Trường hợp bảo hiểm y tế kinh doanh (Bảo hiểm y tế tự nguyện) :
Do hiện nay chi phí y tế chỉ mới tính một phần (một phần viện phí), còn
chi phí thật sự thì chưa được tính đến nên không xác đònh được MC.


20

Ứng dụng thực tế, với mức đóng BHYT cao thì sẽ dễ dàng bảo toàn nguồn vốn
nhưng làm xuất hiện một rào cản tài chánh đối với việc tiếp cận các dòch vụ
CSSK. Do đó, trong trường hợp BHYT tự nguyện thì có thể đa dạng hóa được
các loại hình được bảo hiểm.
Bên cạnh đó, hàng hóa công BHYT cần thiết có sự can thiệp của chính
phủ để hạn chế các khuyết tật thò trường ( như giảm bớt các tác động ngoại vi
tiêu cực trên các mặt xã hội, giảm bớt bất bình đẳng trong phân phối thu nhập…)
và giúp điều hòa các lợi ích xã hội trong đó có chính sách BHYT.
1.2.- SỰ RA ĐỜI CỦA BẢO HIỂM Y TẾ Ở VIỆT NAM 1.2.1- TRONG THỜI KỲ PHÁP THUỘCDưới thời kỳ Pháp thuộc, theo chính sách đô hộ của Pháp, các chính sách
phúc lợi của Pháp không nhằm vào đối tượng đại đa số dân chúng mà chỉ nhắm
vào người Pháp và giới quan lại thân cận quanh họ. Tại Việt nam chính phủ
Pháp thực hiện chủ trương cho mở một số dưỡng đường tư chăm sóc cho những
người có nhiều tiền và lập các nhà thương công miễn phí dành cho người nghèo

tai nạn rủi ro.
Hiện nay, theo nghò đònh 43/ CP ngày 22 tháng 6 năm 1993, nhà nước
thành lập Bảo hiểm xã hội Việt nam trực thuộc chính phủ để thực hiện bảo hiểm
xã hội cho mọi đối tượng xã hội.
1.2.3- SỰ RA ĐỜI CỦA BẢO HIỂM Y TẾ Ở VIỆT NAM 1.2.3.1- Bối cảnh kinh tế – Xã hội năm 1992 Từ năm 1986, nước ta chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa bao cấp sang cơ chế
thò trường, nền kinh tế Việt nam đã từng bước đi vào ổn đònh và tăng trưởng. Đặt
trong bối cảnh kinh tế xã hội năm 1992, là năm thứ hai mà Việt nam giữ vững


22

được mức độ tăng trưởng trên 8% /năm (xem phụ lục bảng 1.1 về tỷ lệ tăng
trưởng tổng sản phẩm trong nước và các ngành chủ yếu). Một số chỉ số đối chiếu
đối với tỷ lệ dân số trên bác só và y tá ở châu Á năm 1984, cho thấy Việt nam
có số nhân viên y tế vào hạng khá ở các nước khu vực chiếm tỷ lệ 1 BS / 2654
dân, thấp nhất là Indonesia 1BS/ 9460 dân và cao nhất là Trung quốc 1 BS /1000
dân (xem phụ lục bảng 1.2 về tỷ lệ dân số trên bác siõ và y tá ở châu Á). Cùng
với sự phát triển kinh tế, bộ mặt xã hội cũng có những thay đổi đáng kể. BHYT
Việt nam đã ra đời trong không gian và thời gian đó.
Nghò đònh 299/HĐBT ra đời ngày 15-8-1992 đã mở ra một thời kỳ mới
trong phương diện kinh tế tài chính của ngành y tế: đó là chính sách BHYT, một
chính sách kinh tế xã hội có tác dụng sâu sắc và rộng khắp đến đại bộ phận
người lao động [32]. Là một bộ phận của ngành bảo hiểm nói chung, mà bản
thân ngành bảo hiểm nhà nước cũng chỉ mới ra đời hơn 30 năm nay, theo nghò
đònh 179/CP ngày 4-1-1965 ( về việc thành lập Tổng công ty bảo hiểm Việt
nam, viết tắt là Bảo Việt ) [42], BHYT đã góp phần đáng kể vào vai trò quỹ dự
phòng và đã hỗ trợ cho kinh phí ngành y tế trong việc chăm sóc và bảo vệ sức
khỏe nhân dân.
1.2.3.2- Lý do ra đời của bảo hiểm y tế tại Việt nam Có 4 lý do cần thiết cho sự ra đời của bảo hiểm y tế tại Việt nam:
1. Lý do về sự phát triển của Xã hội:

2. Lý do kinh tế - tài chính:
Có 2 vấn đề nổi bật là ngân sách dành cho y tế và vấn đề kinh tế y tế hay
hiệu quả sử dụng kinh phí y tế.
Thứ nhất, ngân sách y tế: được xem xét ở 2 mặt: nguồn kinh phí và phân bố
kinh phí.
(i) Nguồn kinh phí y tế:
Trong thời kỳ bao cấp, ngân sách y tế có nguồn từ quỹ phúc lợi xã hội
[22]. Hiến pháp 1992 đã xác đònh hệ thống y tế Việt nam là một hệ thống y tế


Trích đoạn Bảo hiểm y tế Pháp Bảo hiểm y tế Hải Phịng Đánh giá chung tình hình thực hiện bảo hiểm y tế, thành tựu và những vấn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status