B
TR
GIÁO D C VÀ ÀO T O
NG
I H C KINH T TP.HCM
NGUY N NG C MINH
LU N V N TH C S KINH T
TP. H Chí Minh – N m 2001
MỤC LỤC
Trang:
Lời mở đầu ...................................................................................................................... 01
Chương 1: Sự ra đời của ngành in ................................................................................. 04
1.1 Lòch sử hình thành và phát triển ngành in ....................................................... 04
1.1.1 Lòch sử hình thành và phát triển ngành in trên thế giới................................ 04
1.1.1.1 Giai đoạn trước 1440 ................................................................................. 04
1.1.1.2 Giai đoạn 1440-1850 ................................................................................. 04
1.1.1.3 Giai đoạn 1850-1900 ................................................................................. 05
1.1.2 Vài nét về sự phát triển ngành in Việt Nam ................................................ 05
1.1.2.1 Lòch sử sự phát triển ngành in Việt Nam .................................................. 05
1.1.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về ngành in ....................................... 07
1.2 Phân tích môi trường hoạt động ngành in ở nước ta ....................................... 08
1.2.1 Phân tích môi trường vó mô .......................................................................... 08
3.3 Dự báo phát triển ngành In đến năm 2010 ....................................................... 37
3.4 Vận dụng công cụ để hoạch đònh chiến lược phát triển của ngành in ........... 41
3.5 Đònh hướng chiến lược phát triển ngành in Thành phố Hồ Chí Minh ........... 43
3.5.1 Chiến lược tập trung phát triển sản phẩm ................................................... 43
3.5.2 Chiến lược phát triển thò trường ................................................................... 43
3.5.3 Chiến lược xâm nhập thò trường ................................................................... 44
3.5.4 Chiến lược sáp nhập, hợp nhất và cổ phần hóa ........................................... 45
3.5.5 Chiến lược chuyển đổi cơ cấu nâng tỷ trọng sản phẩm có giá trò cao ......... 45
3.5.6 Chiến lược đẩy mạnh tốc độ đổi mới thiết bò công nghệ và nâng cao trình
độ tay nghề ............................................................................................................ 46
3.6 Các giải pháp chủ yếu ....................................................................................... 46
3.6.1 Giải pháp tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp in ..................................... 46
3.6.2 Giải pháp đầu tư và huy động vốn đầu tư .................................................... 47
3.6.3 Giải pháp đa dạng hóa mặt hàng, sản phẩm ................................................ 48
3.6.4 Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực ............................................................... 49
3.6.4 Giải pháp xây dựng chính sách thuế ưu đãi cho ngành in ........................... 50
3.7 Các kiến nghò ....................................................................................................... 50
Kết luận .......................................................................................................................... 51
Trang: -19 -
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Kể từ khi công cuộc đổi mới được đẩy mạnh từ cuối thập kỷ 80, nền kinh tế nước ta
đã có những bước thay đổi đáng kể, sản xuất tăng nhanh, đời sống của nhân dân ngày
càng được cải thiện và nâng cao. Đặc biệt, trong 5 năm qua (1996 - 2000), chúng ta đã
đạt được những thành tựu to lớn: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân hàng
năm 6,94%. Công nghiệp giữ nhòp độ tăng giá trò sản xuất bình quân hàng năm 13,5%.
Những thành tựu trong năm năm qua góp phần tiếp tục tăng cường sức mạnh của đất
nhưng thực tế lại do quá nhiều cấp chi phối, từ cấp bộ, ngành đến cấp tỉnh, thành phố,
thậm chí cả cấp huyện nữa. Mỗi cấp tự hoạch đònh cho mình kế hoạch đầu tư phát triển
riêng, để rồi tất cả cùng chạy đua nhập khẩu ồ ạt máy in cũ, có chức năng tương đương
nhau, hầu hết là in những sản phẩm có chất lượng ở mức trung bình dẫn đến tình trạng
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp in ngày càng gay gắt và thường chỉ đơn giản bằng cách
hạ giá công in. Hơn nữa, sự ra đời ngày càng nhiều các doanh nghiệp in tư nhân nhưng
lại được quản lý không chặt chẽ gây đến tình trạng lộn xộn trong ngành in.
Ngành in sẽ phát triển tốt hơn nếu có quy hoạch và đònh hướng phát triển thống
nhất. Việc xây dựng chiến lược phát triển ngành in Thành phố Hồ Chí Minh sẽ giúp
ngành in Thành phố tiếp tục là ngọn cờ đầu trong ngành in cả nước, đồng thời góp phần
thúc đẩy ngành in cả nước phát triển nhanh hơn.
2. Mục đích của luận văn:
Mục đích của luận văn là sử dụng các kiến thức đã học về quản trò kinh doanh để
phân tích và từ đó rút ra những nhận xét, tìm ra những ưu điểm cũng như tồn tại của
ngành in Thành phố trong thời gian qua. Trên cơ sở kết quả phân tích thực trạng, dự báo
môi trường kinh doanh, luận văn đưa ra một số đònh hướng chiến lược và các giải pháp
phát triển ngành in Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010. Cụ thể:
- Phân tích thực trạng môi trường vó mô, vi mô để tìm ra những cơ hội, đe dọa cũng
như điểm mạnh, điểm yếu của ngành in Thành phố.
- Lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp với tình hình, đặc điểm của ngành in
Thành phố.
- Đề xuất một số giải pháp và đưa ra một số kiến nghò để thực hiện chiến lược đã
lựa chọn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Ngành in trong mối quan hệ với môi trường, đặc biệt là ngành xuất
bản, phát hành sách.
- Phạm vi nghiên cứu: các doanh nghiệp in trên đòa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Trang: -21 -
bản bằng con dấu và bôi quét do nhu cầu to lớn đối với việc nhân bản và các văn bản
chuẩn hóa các văn bản Khổng giáo dùng cho việc thi cử tuyển dụng cũng như nhu cầu to
lớn về những văn bản Phật giáo không thể chép tay xuể. Đời Hán, người Trung Quốc đã
biết khắc chữ lên bàn đá, lên đất sét rồi nung thành sách. Đó là phương pháp ấn loát cổ
sơ đầu tiên trên thế giới.
Đến đời Tùy, Đường (thế kỷ thứ V- VII) thì nghề in đã tương đối hoàn thành, và
người ta đã biết khắc chữ trên các bản gỗ để in trên bàn đá và trên đất sét… Vào thời
điểm này ở Bắc Kinh tờ báo đầu tiên mang tên “Cố vấn của Nhà nước” (Kaiyuan
Zabao), đã được in bằng phương pháp khắc vào bảng gỗ. Bằng cách thoa mực lên bảng
và dùng sức ấn mạnh vào giấy (in tay).., phương pháp này gọi là “Xylographic”.
Vào năm 1041, Tất Thăng (đời nhà Tống) phát minh ra phương pháp ấn loát mới
gọi là “hoạt bản”, nghóa là dùng chữ rời sắp theo văn bản để in sách. Cách làm này cho
phép tiết kiệm được nhiều nhân lực và vật lực đồng thời tăng tốc độ in ấn, nâng cao chất
lượng sản phẩm.
Năm 1409, cuốn sách đầu tiên ra đời, được in ở Triều Tiên bằng cách sắp chữ kim
loại.
1.1.1.2 Giai đoạn 1440-1850:
Năm 1450, ông tổ của ngành in, Jean Guterberg (1397-1468, người Đức) đã sáng
chế ra cách in bằng kỹ thuật làm bản chữ bằng chì, đồng, kẽm. Tuy nhiên, máy in còn rất
thô sơ bằng gỗ, bản chữ không xê dòch. In chỉ một mặt, muốn in 2 mặt phải thay đổi mặt
in sau và in từng tờ một. Khi in dùng sức người để ấn cần trục. Năng suất chỉ đạt khoảng
Trang: -23 -
300 tờ/ngày với giấy khổ nhỏ 57x47cm, 56x76cm. Kỹ thuật in ấn này kéo dài khoảng
400 năm. Tất cả các máy in trong thời gian này đều được vận chuyển bằng sức người.
Những máy in này còn có những khuyết điểm như dễ mòn, hỏng khi sử dụng nhiều.
Vào năm 1780, máy in được cải tiến, bản chữ xê dòch được nên tăng năng suất lên
600tờ/ngày. Năm 1795, máy in bằng gỗ được thay thế bằng kim loại và năng suất tăng
lên 3.000tờ/ngày.
122/SL ngày 10/10/1952 do chủ tòch Hồ Chí Minh ký.
Kể từ ngày khai sinh và trong công cuộc đổi mới ngày nay, ngành in nước ta đã
đóng góp tích cực trên mặt trận tư tưởng văn hoá, phát triển kinh tế và nâng cao dân trí.
Đặc biệt trong 15 năm đổi mới, ngành in nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về
nhiều phương diện, được chính phủ đánh giá là một trong sáu ngành công nghiệp phát
triển cao nhất, đầu tư đổi mới công nghệ đúng hướng, đi thẳng vào công nghệ hiện đại.
Từ một vài nhà in ban đầu, ngày nay chúng ta có hơn 400 cơ sở in công nghiệp
trong cả nước với tổng số lao động hơn 20 ngàn người.
Nhờ đònh hướng đúng, 15 năm qua, ngành in đã diễn ra quá trình chuyển đổi công
nghệ in typo lạc hậu sang công nghệ in offset hiện đại trên quy mô cả nước. Từ chỗ chỉ
có hơn 20 máy in offset vào những năm 80 với sản lượng khoảng 60 tỷ trang in tiêu
chuẩn khổ 13x19 cm, đến năm 2000 cả nước đã có hơn 2000 máy in offset, trong đó có
hàng trăm máy in và thiết bò chế bản chuyên dùng hiện đại thuộc thế hệ mới nhất, sản
lượng toàn ngành đạt 300 tỷ trang in tiêu chuẩn là mức cao nhất từ trước tới nay. Đội ngũ
công nhân được đào tạo lại, dần dần làm chủ công nghệ mới. Sản lượng in offset đã tăng
80% tổng sản lượng toàn ngành, cạnh tranh hầu hết với các ấn phẩm trước đây phải đưa
gia công ở nước ngoài. Quá trình mở cửa và hội nhập quốc tế đã làm cho hai phương
pháp in ống đồng và flexo có bước phát triển nhanh chóng. Chất lượng ấn phẩm đã có
bước tiến đáng kể, sánh ngang các nước có trình độ kỹ thuật in tiên tiến trong khu vực.
Đặc biệt, những sản phẩm quan trọng là sách, báo và tạp chí đã ngang tầm quốc tế trong
các cuộc hội chợ và triển lãm sách gần đây. Bên cạnh sách, báo và văn hoá phẩm,
ngành in còn đóng góp việc sản xuất một khối lượng lớn các ấn phẩm phục vụ công
nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, góp phần làm tăng sức cạnh tranh của hàng
hoá Việt Nam trên thò trường trong và ngoài nước.
Bảng 1.1: Tốc độ phát triển của ngành in Việt Nam (1995 – 2000)
Năm
Chỉ tiêu
1995
hình thức tổ chức như những ngành công nghiệp sản xuất khác. Ngoại trừ các doanh
nghiệp in hành chánh sự nghiệp, còn lại các doanh nghiệp in đều hoạt động theo phương
thức hoạch toán kinh tế, đảm bảo có lãi.
- Thứ hai, ngành in hoạt động theo luật xuất bản, sản phẩm của ngành in đa phần
được sản xuất theo đơn đặt hàng của các ngành khác như xuất bản, báo chí, ngành may
mặc, ngành bánh kẹo, ngành thực phẩm khác v.v.. điều này nói lên sự phát triển của các
ngành khác sẽ thúc đẩy ngành in phát triển và ngược lại, sự phát triển về dân số, về giáo
dục, dân trí,v.v.. cũng thúc đẩy ngành in phát triển.
* Quan điểm của Đảng và Nhà nước về ngành xuất bản, in và phát hành thể hiện ở
4 điểm cốt lõi sau:
- Hoạt động xuất bản là hoạt động thuộc lónh vực văn hóa, tư tưởng thông qua việc
sản xuất và phổ biến xuất bản ấn phẩm đến nhiều người, không phải là hoạt động kinh
doanh đơn thuần, do đó lợi nhuận không phải là mục tiêu của hoạt động xuất bản.
- Việc phổ biến các tác phẩm về chính trò, văn hóa, xã hội, khoa học nhằm nâng
cao dân trí, đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, mở rộng giao lưu
văn hóa với các nước, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã
Hội Chủ Nghóa.
- “Mọi hoạt động văn hóa (trong đó có hoạt động xuất bản) phải nhằm xây dựng
và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt
Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hóa
lành mạnh cho sự phát triển xã hội”.
- Ngành in là ngành công nghiệp gia công thông tin hoạt động theo phương thức
hoạch toán kinh tế, đảm bảo có lãi, bảo toàn và phát triển vốn, và làm nghóa vụ với ngân
sách Nhà nước. Một mặt, ngành in có liên quan mật thiết đến đời sống tư tưởng văn hóa
Trang: -26 -
của xã hội, đến an ninh quốc gia. Mặt khác, ngành in là ngành kinh tế-kỹ thuật hoạt
động theo Luật doanh nghiệp, gắn với cơ chế thò trường. Do đó kết quả hoạt động của nó
không chỉ thể hiện bằng hiệu quả kinh tế mà còn bằng hiệu quả chính trò-xã hội.
1.2.1.2 Yếu tố văn hóa, xã hội:
Hoạt động xuất bản là một bộ phận của hoạt động văn hóa. Hoạt động xuất bản
phải căn cứ vào tình hình phát triển văn hóa xã hội để đònh hướng cho phù hợp. Báo cáo
chính trò Đại hội VIII của Đảng đã khẳng đònh: "mọi hoạt động văn hóa (trong đó có hoạt
động xuất bản) phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống,
xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển xã hội".
Các xuất bản phẩm phải tập trung giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cao đẹp
của con người Việt Nam, đề cao tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, cần kiệm xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Xuất bản phẩm góp phần nâng cao dân trí,
phát triển kinh tế và văn hóa, phát huy truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc Việt
Nam. Ngành xuất bản là một trong những công cụ phục vụ công tác tư tưởng của Đảng
và Nhà nước, do đó hoạt động xuất bản không thể chạy theo lợi nhuận đơn thuần, xa rời
chức năng nhiệm vụ được giao.
1.2.1.3 Yếu tố kinh tế:
Đề cập đến một trong những nhu cầu của đời sống tinh thần trước tiên phải kể đến
nhu cầu học hành, đọc sách báo, thưởng thức văn học nghệ thuật.
Ngành in ấn, xuất bản là ngành tạo ra những sản phẩm phục vụ trực tiếp cho đời
sống tinh thần của nhân dân. Từ đó cho thấy sự phát triển kinh tế có những ảnh hưởng
rất quyết đònh, thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển ngành in, xuất bản của một quốc gia.
Đối với nước ta, sau ngày thống nhất đất nước mà cụ thể là từ năm 1986 đến nay,
dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước tiến hành chủ trương cải cách và
đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, thực hiện nền kinh tế mở, hướng ngoại, hội nhập với kinh
tế khu vực và thế giới nên đời sống của nhân dân không ngừng được nâng cao. Do đó,
trong cơ cấu quỹ tiêu dùng của dân cư, có sự thay đổi đáng kể theo chiều hướng tiến bộ.
Đặc biệt chỉ tiêu nhu cầu sách báo, văn hóa phẩm tăng rất lớn (chiếm 25%-30% tổng
trang in của ngành in cả nước). Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, nhu cầu hưởng thụ xuất
bản phẩm bình quân cả nước ta hiện nay còn rất thấp. So với Trung Quốc, một nước đông
Có thể phân nhóm khách hàng mục tiêu của ngành in thành 03 nhóm:
- Nhóm khách hàng là các nhà xuất bản và các tờ báo.
Hiện nay, hệ thống xuất bản cả nước ta có 42 nhà xuất bản, trong đó có 31 nhà xuất
bản thuộc các ngành trung ương và 11 nhà xuất bản đòa phương. Theo đánh giá của Cục
Xuất bản, trong 5 năm qua, tình hình xuất bản tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng.
Số đầu sách tăng bình quân hàng năm là 18,8%, số bản tăng 15,6%, số trang in tăng bình
quân 15,8%.
Trang: -29 -
Các nhà sản xuất thường đặt in: sách, lòch, bản đồ, tranh ảnh… gọi chung là xuất bản
phẩm.
Kinh tế càng phát triển, mặt bằng dân trí càng cao thì nhu cầu về xuất bản phẩm
càng lớn. Do vậy hoạt động xuất bản sẽ ngày càng mở rộng và tăng nhanh. Tuy nhiên,
bên cạnh xuất bản phẩm truyền thống, xuất bản phẩm điện tử (băng từ, đóa mềm, dóa CD
rom, mạng internet…) đã xuất hiện và ngày càng phổ biến. Các phương tiệng nghe - nhìn
cũng trở nên phổ biến và giá cả ngày càng giảm, việc sử dụng sách, báo điện tử ngày
càng trở nên dễ dàng. Ngoài ra, các chương trình phát thanh, truyền hình ngày càng
phong phú, hấp dẫn hơn, giúp người xem và người nghe nắm bắt được những thông tin
kinh tế, thời sự nhanh chóng v.v…
Có thể nói, những sách báo điện tử, những phương tiện nghe nhìn hiện đại là sự đe
dọa thách thức đối với xuất bản truyền thống của ngành in.
Những tác động đó khiến các nhà xuất bản phải điều chỉnh cơ cấu mặt hàng xuất
bản phẩm sao cho phù hợp với sở thích, thò hiếu người tiêu dùng; còn các tờ báo phải in
nhiều màu để hấp dẫn người đọc, rút ngắn thời gian in và mở rộng mạng lưới phát hành
báo chí. Hệ quả là các nhà in cũng phải thích ứng ngay với các nhu cầu của các nhà xuất
bản và các tờ báo: điều chỉnh quá trình tổ chức sản xuất, đổi mới công nghệ, …
Bảng 1.2: Tình hình xuất bản và mức hưởng thụ xuất bản phẩm 1994-1999
Diễn giải
10.777
Số bản
Ngàn bản 118.640 169.800 167.094 161.330 169.007 180.860
Mức hưởng thụ
Sách,
văn
hóa Bản /người
1,64
2,30
2,22
2,21
2,26
2,5
0,09
0,26
0,25
(Nguồn: Tư liệu của Cục Xuất bản)
Bên cạnh những thách thức nói trên, nhóm khách hàng này cũng đã tạo ra những cơ
hội to lớn. Nó chiếm tỷ trọng 20-25% năng lực in toàn ngành in cả nước. Trong đó riêng
Trang: -30 -
Comment [URG1]:
Nhà xuất bản Giáo dục chiếm khoảng 10% (năm 1999 in 18 tỷ trang sách). Sự tăng
trưởng của nhóm khách hàng này theo dự báo là 10%/năm, nói cách khác mức hưởng thụ
văn hóa bình quân tăng 10%/năm, là cơ hội của các nhà in.
- Nhóm khách hàng là các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có yếu tố
nước ngoài (liên doanh, 100% vốn nước ngoài).
Nhu cầu của nhóm khách hàng này là những ấn phẩm có giá trò cao: Nhãn hàng hóa
(thường là nhãn hàng, bao bì các loại, tờ gấp quảng cáo hoặc giới thiệu sản phẩm, sổ tay
hướng dẫn sử dụng sản phẩm, lòch tờ (làm tặng phẩm và quảng cáo), vé số,… Đây là
nhóm khách hàng lớn nhất đối với ngành in, chiếm 50% tổng sản phẩmtrang in toàn
ngành.
Hiện nay cả nước có khoảng 5.280 doanh nghiệp Nhà nước, 1.500 doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài, 1,7 triệu cơ sở sản xuất, kinh doanh ngoài quốc doanh (nguồn:
thời báo kinh tế sài gòn) là đối tượng lớn của ngành in.
Yêu cầu về chất lượng, mỹ thuật, trình bày ấn phẩm của nhóm khách hàng này cao
và khối lượng in lớn do đó các cơ sở in thường cạnh tranh nhau quyết liệt để có nguồn
hàng của nhóm khách hàng này. Thực tế đã xảy ra tình trạng cạnh tranh bằng cách liên
tục giảm giá, phá giá hoặc dùng thủ đoạn để lôi kéo khách hàng.
- Nhóm khách hàng là cơ quan hành chính, sự nghiệp, trường học, bệnh viện…
Nhu cầu của khách hàng này là các biểu mẫu, chứng từ, giấy tờ quản lý hành chính,
tài liệu lưu hành nội bộ… gọi chung là ấn chỉ. Khối lượng trang in đáp ứng nhu cầu này
không lớn, khoảng 5% tổng sản phẩm trang in toàn ngành. Tuy khối lượng chung không
lớn nhưng các cơ quan thường đặt in tập trung ở mỗi chỗ với số lượng ấn chỉ sử dụng từ 3
nước ngoài, nhãn, bao bì, tem, … đều in trên giấy cao cấp ngoại nhập (giấy Couché,
Bristol, Duplex,…) và nguồn giấy này được các công ty vật tư nhập về.
Cho dù là giấy nhập hay giấy sản xuất trong nước, nguyên liệu làm giấy (bột giấy)
phần lớn phải nhập từ nước ngoài. Vì vậy khi giá bột giấy tăng lên thì lập tức giá giấy
cũng tăng theo. Đây là nguy cơ đối với các nhà in vì các hợp đồng in ấn đã ký kết với
khách hàng từ đầu năm, rất khó điều chỉnh giá cả.
Mực in có 4 màu cơ bản: Vàng, đỏ (cánh sen), xanh và đen. Các doanh nghiệp trong
nước sản xuất mực in như Công ty Cổ phần In và Vật tư In Sài Gòn, xưởng mực in Liksin,
xưởng mực in trường Đại học Khoa học Tự nhiên, … có sản lượng từ 500 tấn đến 800 tấn
mỗi năm. Mực in trong nước tuy giá thành thấp nhưng chất lượng không cao. Hiện nay
mực trong nước cũng đang bò cạnh tranh dữ dội bởi mực nhập từ Trung Quốc, Đài Loan.
Đối với các loại ấn phẩm cao cấp phải sử dụng mực in nhập ngoại như mực Dic, Apex
(Nhật), Toyo (Nhật, Malaysia), mực 1992 (Đài Loan)… Giá cả mực in tương đối ổn đònh
Trang: -32 -
Comment [URG2]:
là một thuận lợi đối với nhà in. Hiện nay việc mua bán mực in trên thò trường diễn ra khá
sôi nổi, các hãng cạnh tranh khá quyết liệt về giá cả và cung cách phục vụ.
Máy móc, thiết bò ngành in được sử dụng ở Việt Nam có 2 loại chủ yếu: loại đã qua
sử dụng, tân trang và loại mới nguyên. Giá cả loại đã qua sử dụng chỉ bằng 30-40% giá
của loại mới nguyên. Để tránh nhập "rác", Bộ Văn hóa - Thông tin có qui đònh chỉ cho
phép mua máy đã qua sử dụng từ những năm 1980 trở lại đây. Vài năm gần đây, một số
nhà in, nhất là các nhà in Trung ương như Công ty in Trần Phú, nhà máy in Tiến Bộ đã
đầu tư các thiết bò mới, hiện đại như máy in offset hiệu Heidelberg, Roland, Lithrone,
máy bắt cuốn, vào bìa, cắt… càng làm tăng nhanh tổng sản lượng trang in: năm 2000 là
300 tỷ trang in (tăng 1,82 lần so với năm 1995).
Việc mua sắm, đầu tư trong ngành in thời gian qua diễn ra khá sôi động. Đến năm
1996, toàn ngành có 23 hệ thống chế bản điện tử kỹ thuật cao, 2.200 máy in. Năm 1999
1.2.2.4 Sản phẩm thay thế:
In là hoạt động tạo ra nhiều bản sao từ một nguyên bản. Có nhiều phương pháp in
khác nhau, đứng trên góc độ sản xuất công nghiệp có 3 phương pháp in chính là in typo
(bao gồm cả in flexo), in ống đồng và in offset, trong đó in offset có năng suất cao,
chiếm hơn 80% tổng ngành in nước ta. Ngành in coi 3 phương pháp in này là in công
nghiệp truyền thống.
Các sản phẩm thay thế sản phẩm in công nghiệp truyền thống là các sản phẩm của
các hoạt động sau đây:
- Hoạt động in văn phòng: sử dụng công nghệ in laze, in phun và photocopy. Các
cơ quan có nhu cầu in nội bộ với số lượng không lớn và không thường xuyên sử dụng các
máy in laze, in phun và photocopy để đáp ứng nhu cầu. Đặc biệt là sự phát triển không
ngừng của photocopy với tốc độ ngày càng nhanh, giá thành photocopy ngày càng thấp
đã làm cho nhiều người chấp nhận sử dụng các tài liệu photo kém chất lượng để làm tài
liệu nghiên cứu và lưu trữ. Hơn nữa các tài liệu photo thường không phải trả tiền bản
quyền nên giá thành sản phẩm càng thấp.
Trong vài năm tới, các loại máy này sẽ được hoàn thiện hơn, công suất cao hơn và
giá bán rẻ hơn giúp cho nhu cầu in nội bộ hoặc hợp đồng in với số lượng ít được đáp ứng
tốt hơn, do đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động in công nghiệp truyền thống.
- Hoạt động in lụa (hay còn gọi là in lưới) thường sử dụng các dụng cụ đơn giản
với lao động thủ công để in trên giấy, nhựa, màng nylon, chai thủy tinh… . Đội ngũ thợ
kéo lụa có đến hàng vạn người trong cả nước và họ có thể đáp ứng các nhu cầu in ấn lặt
vặt một cách nhanh gọn. Hơn nữa, với vốn đầu tư ít và thời gian học nghề ngắn, không
cần mặt bằng lớn, nhiều hộ gia đình lấy nghề in lụa làm phương tiện sinh sống.
Ảnh hưởng của hoạt động in lụa thủ công đối với hoạt động in công nghiệp truyền
thống về mặt "in ngoài luồng, in thêm, in nhái" là chủ yếu. Chính điều này đã làm cho
khách hàng có thể nghi ngờ nhà in và nhà in có thể bò vạ lây khi cơ quan công an tiến
hành điều tra, truy tìm.
- Băng đóa từ với sức chứa lớn lượng thông tin cũng cạnh tranh rất mạnh đối với
sản phẩm truyền thống. Dựa trên những thành tựu của công nghệ tin học, sách điện tử ra
đời và sẽ trở thành phổ biến trong thế kỷ XXI, sách điện tử có nhiều xu thế so với sách
điện tử tiến xa hơn nữa, với giá cả phải chăng chắc chắn sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động
in.
Trang: -36 -
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG NGÀNH IN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Khái quát về tình hình phát triển ngành in Thành phố Hồ Chí Minh:
2.1.1 Thời kỳ trước giải phóng:
Trước năm 1954, người Pháp có mở tại Sài Gòn vài nhà máy in như IDEO, ASPAR
(đã đóng cửa từ năm 1970) hay IFOM sau đổi lại là nhà in Kim Lai và trao lại cho người
Việt Nam quản lý.
Đến năm 1974, tại Sài gòn đã có khoảng 550 nhà in lớn nhỏ (chiếm 98% số nhà in
tại Miền nam Việt Nam), hầu hết là do người Hoa quản lý (theo con số ghi nhận được ở
tòa Đô Chánh thì số nhà in được cấp giấy phép hoạt động là 989 – Mặc dầu vậy, thực tế
thay đổi rất nhiều), trong đó có độ 20 nhà in vừa hoạt động trong lãnh vực ấn loát lẫn
lãnh vực biến chế như làm các hộp giấy, bìa carton …
- Xét về qui mô có thể chia làm 02 loại: Các cơ sở lớn hầu hết đều gia nhập
Nghiệp đoàn nhà in (khoảng 200 nhà in), và khoảng 350 nhà in chưa gia nhập Nghiệp
đoàn, phần lớn nhỏ bé, trang bò 02 hoặc 03 máy in typo thường in hàng lặt vặt hoặc
offset đặt tay.
- Xét về hình thức sở hữu được phân ra nhà in tư nhân và nhà in Chánh phủ:
+ Nhà in tư nhân: Có một số nhà in lớn như: Saigon Ấn Quán, Nhà in Nguyễn
Trung Thành, Nam Việt Ấn Quán, Nhà in Phấn Phát … Mục tiêu quan trọng nhất của các
nhà in này là lợi nhuận.
+ Nhà in Chánh phủ: Bên cạnh các nhà in tư nhân còn có các nhà in của các cơ
quan chính quyền, hoạt động trong các lónh vực riêng biệt, không nhằm mục đích thương
mại như: Cơ sở Ấn loát Trung Ương (nhà in của Bộ Dân vận và Chiêu hồi), Trung Tâm
Liệu Học (nhà in của Bộ Giáo dục), Nhà in Tổng tham Mưu, Nhà in Tâm Lý chiến (nhà
05
Mỹ
+ Máy Monotype
02
Anh
Máy chụp hình điện tử
0,05
+ Máy Diatronic
01
Đức
+ Máy Diatype
01
Đức
+ Máy Fototronic
01
12
Nhật, Đức, Ý, Mỹ
+ Máy in offset 4 màu
01
Đức
+ Máy in giấy cuộn
18
Mỹ, Đài Loan
Số liệu: Kỹ nghệ Ấn loát Việt Nam năm 1974
Hơn nữa, do phải đáp ứng nhanh nhu cầu thông tin và mục đích tuyên truyền nên
ngành in báo tương đối phát triển, đã có phân nửa số nhật báo được in bằng máy rotative
typo hoặc rotative offset. Một số máy hiện đại lúc bấy giờ như Web-offset-rotative đã
được nhập về và mang lại cho ngành in báo một sự canh tân đáng kể: in báo theo phương
pháp offset và sử dụng giấy cuộn, in một lần được 8 trang báo khổ lớn (45cm x 66cm),
đồng thời cắt và xếp luôn tờ báo, vận tốc lên tới 15.000-20.000 tờ/giờ.
Trang: -38 -
2.1.2 Thời kỳ từ năm 1975 - 1985:
Sau ngày giải phóng, Nhà nước đã tiếp quản các nhà in và thực hiện quyết đònh
167/CP của Chính phủ. Quyết đònh này là tiền đề cho việc Thành phố thực hiện phân
2 màu
06
Đức – Ý – Mỹ
Máy rotatin (in giấy cuộn)
13
1970
Nhật – Đài Loan
Máy in ống đồng (7 màu)
01
1970
Nhật
* Lực lượng lao động : 10.000 người
Tiếp quản hàng loạt các cơ sở in có quy mô, trang thiết bò không đều nhau nên việc
quản lý gặp rất nhiều khó khăn. Để giải quyết những vấn đề này, Nhà nước đã đưa ra
nhiều biện pháp với mục đích là cải tạo nâng cao chất lượng quản lý các cơ sở in trên đòa
bàn Thành phố.
Qua quá trình cải tạo, đến năm 1985 ngành in Thành phố chỉ còn một loại hình
doanh nghiệp quốc doanh, do Nhà nước độc quyền quản lý và kinh doanh. Tại Thành
Xí nghiệp mực in
1
Xí nghiệp chế bản đúc chữ
1
2. Liên hiệp khoa học sản xuất in:
Xí nghiệp in
3
Xí nghiệp cơ khí
1
Xí nghiệp mực in
1
3. Các ban, ngành Thành phố:
11
4. Các quận huyện:
18
bò thua lỗ.
Để tháo gỡ những khó khăn cho hoạt động của ngành in, Nghò quyết 90/CP ngày
21/08/1997 và Nghò đònh 44/CP ngày 29/06/1998 của Chính phủ đã cho phép cổ phần hóa
một số cơ sở in của Nhà nước. Để tiếp nhận công nghệ tiên tiến, hiện đại hóa ngành in,
Thành phố cho phép các doanh nghiệp trong nước liên doanh với các nhà đầu tư trong và
ngoài nước ở một số khâu về in như chế bản điện tử, in bao bì, đây là quyết đònh quan
trọng tạo tiền đề cho công nghiệp in phát triển, làm căn cứ pháp lý để ngành in Thành
phố tạo thêm nguồn lực mới, đổi mới công nghệ và thiết bò, làm cho sản phẩm của ngành
có tính cạnh tranh cao hơn đối với thò trường trong nước, cũng như thò trường nước ngoài.
Tuy nhiên, việc xác đònh vò trí, vai trò của ngành in còn nhiều điểm chưa nhất quán nên
chưa tạo điều kiện và môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của ngành in.
Do những yếu tố trên nên số lượng cơ sở in tăng nhanh trong những năm gần đây,
đặc biệt trong giai đoạn 1997 đến nay, nhất là các công ty TNHH, công ty cổ phần,
doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp cá thể đã phát triển một cách
nhanh chóng cả về số lượng lẫn quy mô.
Bảng 2.3 : Số lượng các cơ sở in đăng ký hoạt động
Chỉ tiêu
Năm 1997
Năm 1998
Năm 1999
Năm 2000
Cơ sở sản xuất, trong đó:
531
5
5
5
Công ty cổ phần, TNHH, DNTN
7
8
8
18
HTX tiểu thủ công nghiệp, cá thể
462
368
374
456
1
-