Giải pháp chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh đồng nai giai đoạn 2001 2010 - Pdf 31

B

TR

GIÁO D C VÀ ÀO T O

NG

I H C KINH T TP.HCM

PH M QUANG SÂM

LU N V N TH C S KINH T

TP. H Chí Minh – N m 2001


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................... 1
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI (FDI) .........................................................................................4
1.1 - VAI TRÒ CỦA FDI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA
MỘT QUỐC GIA...................................................................................4
1.1.1- Khái niệm và bản chất của FDI .........................4
1.1.2 - Đặc trưng chủ yếu của FDI.................................5
1.1.3 -Các hình thức chủ yếu của FDI ...........................6
1.1.4 -Vai trò của FDI trong sự tăng trưởng và
phát triển kinh tế của một quốc gia ...................................................................7

1.2 -ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN THU HÚT VỐN FDI ................................11
1.2.1- Ổn đònh chính trò – xã hội ...................................11

2.3.1 Nhữnng tồn tại .....................................................30
2.3.2 Nguyên nhân của những tồn tại ...........................32
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHIẾN LƯC NHẰM THU HÚT
FDI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN 2001-2010 ...37

3.1 PHƯƠNG HƯỚNG, QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU THU HÚT FDI
Ở TỈNH ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN 2001– 2010.......................................37
3.1.1 Mục tiêu, phương hường ............................................37
3.1.2 Những quan điểm đònh hướng để đề ra
giải pháp thu hút FDI .................................................38

3.2-

GIẢI PHÁP CHIẾN LƯC NHẰM THU HÚT FDI TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN 2001 – 2010.....................39
3.2.1 Dự báo những cơ hội, thách thức, mặt mạnh,
mặt yếu của tỉnh Đồng Nai trong
thu hút FDI giai đoạn 2001 – 2010. .........................39
3.2.2 Giải pháp hỗ trợ cho việc đẩy mạnh thu hút
FDI trên đòa bàn tỉnh Đồng Nai
giai đoạn 2001 – 2010..............................................40
3.2.3 Giải pháp chiến lược thu hút FDI trên đòa bàn
tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2001 – 2010 ........................45

KẾT LUẬN ......................................................................................................56
PHỤ LỤC ...............................................................................................

iii

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..............................................iv

tạo nền tảng vững chắc cho công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế ở đòa phương,
phải đạt tỷ lệ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm giai đoạn 2001 – 2005 đạt 12%
trở lên và 11% trở lên trong giai đoạn 2006 – 2010. Cơ cấu kinh tế phải dòch chuyển
theo hướng tăng tỷ trọng giá trò sản xuất ngành công nghiệp, ngành dòch vụ và giảm tỷ
trọng ngành nông nghiệp trong tổng GDP của Tỉnh, đạt cơ cấu kinh tế ngành công
nghiệp – xây dựng – ngành dòch vụ, thương mại - ngành nông nghiệp với tỷ lệ tương
ứng là 50,9% - 38,1% - 11% vào năm 2010. Muốn vậy phải thu hút vốn FDI ít nhất từ
1.5 tỷ USD trở lên cho giai đoạn 2001 – 2005, từ 3 - 4 tỷ USD giai đoạn 2006 – 2010.

3


Trong thời gian tới, nước ta có nhiều thời cơ và thuận lợi từ việc hội nhập kinh
tế khu vực và thế giới, nhưng những khó khăn, thách thức cũng không ít, nhất là sau
cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ khu vực, những lợi thế cạnh tranh của nước ta như
chí phí nhân công rẽ đang mất dần, việc thu hút FDI gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại.
Thực tế đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt là cần phải có các giải pháp mang
tính chiến lược để thu hút vốn đầu tư để phát triển, thu hút vốn FDI có như vậy mới
thực hiện được mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế như đã đề ra, tạo nền tảng
cho việc hoàn thành CNH –HĐH vào năm 2020 của Việt Nam nói chung và ở Tỉnh
Đồng Nai nói riêng.
Xuất phát từ những yêu cầu khách quan nêu trên và tầm quan trọng của nó, tôi
mạnh dạn chọn đề tài “GIẢI PHÁP CHIẾN LƯC NHẰM THU HÚT ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN
2001 – 2010” làm luận văn tốt nghiệp cao học kinh tế ngành quản trò kinh doanh năm
2001.
2- ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU
Trọng tâm nghiên cứu của đề tài là:
- Tổng hợp các nghiên cứu về hoạt động FDI của các học giả ở Việt Nam và
thế giới trên các phương diện như xu hướng vận động, chính sách đối với FDI, tác


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI
1.1- VAI TRÒ CỦA FDI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA MỘT QUỐC
GIA
1.1.1- Khái niệm và bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế hiện nay, đầu tư nước ngoài
(ĐTNN) ngày càng phổ biến, chiếm vò trí, vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế
của mỗi quốc gia và nền kinh tế toàn cầu. ĐTNN được hiểu là sự chuyển dòch vốn đầu
tư từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm đạt được lợi nhuận đối với các chủ đầu tư
và đạt được lợi ích kinh tế – xã hội đối với nước tiếp nhận đầu tư.
Trên thế giới ngày nay, có rất nhiều quốc gia, nhiều tổ chức tài chính quốc tế,
nhiều công ty… đang nắm giữ một lượng vốn rất lớn có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài.
Khả năng và nhu cầu này càng được phát huy trong thời đại ngày nay - thời đại hội
nhập kinh tế thế giới. Hoạt động ĐTNN không chỉ diễn ra ở các nước công nghiệp
phát triển mà còn diễn ra khá sôi động, phong phú, đa dạng ở các quốc gia đang phát
triển.
- Đối với các nước phát triển, hoạt động ĐTNN nhằm mục đích khai thác triệt để
những lợi thế so sánh của các quốc gia khác để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn
lực kinh tế.
- Các nước đang phát triển cũng đã thấy được tiềm năng cung cấp nguồn vốn
đầu tư từ các nước phát triển. Đây là cơ hội và là điều kiện để các nước đang phát
triển thu hút ĐTNN phục vụ cho tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc gia mình.
Tuy nhiên, ĐTNN có khả năng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nhưng không
phải là yếu tố quyết đònh cho sự phát triển.
ĐTNN có nhiều hình thức phong phú, đa dạng, nhưng có thể khái quát gồm các
loại chủ yếu là: Tài trợ phát triển chính thức, đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư gián
tiếp, tín dụng thương mại.
• Tài trợ phát triển chính thức (Officral Development Finance – viết tắt là
ODF)

sự chuyển biến về chất lượng trong nền kinh tế, gắn liền với hình thức sản suất trực
tiếp, tham gia vào sự phân công lao động quốc tế theo chiều sâu.
- FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu tư, mà thông qua FDI, các
doanh nghiệp nước ngoài sẽ chuyển giao kỹ thuật công nghệ cho nước chủ nhà. Nhờ
đó mà nước chủ nhà tiếp cận được các kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm quản lý và năng
lực tiếp thò, đội ngũ lao động được đào tạo và bồi dưỡng về nhiều mặt.
- Việc tiếp nhận FDI không làm gia tăng nợ cho nước tiếp nhận đầu tư, trái lại,
FDI tạo điều kiện để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực.
-Chủ thể của FDI chủ yếu là các công ty đa quốc gia. Hiện nay, công ty đa
quốc gia nắm giữ khoảng 90% lượng FDI trên thế giới, số còn lại thuộc về chính phủ
các nước và các tổ chức quốc tế khác.
-FDI đang và sẽ tăng mạnh trên toàn cầu (xin xem phần phụ lục – biểu 1.1)
7


Qua số liệu ở đây, cho thấy: Giai đoạn 1990 – 1996, tốc độ tăng trưởng FDI
bình quân hàng năm lên đến 32,82% đạt mức đầu tư là 243,8 tỷ USD vào năm 1996,
điều này cho thấy FDI là hình thức ĐTNN được ưa chuộng nhất hiện nay, đã trở thành
vốn đầu tư cần thiết cho các nền kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế chuyển đổi, trong đó
có Việt Nam. Mặt khác, chính xu hướng tự do hóa và mở cửa của nền kinh tế các nước
đang phát triển trong những năm gần đây đã góp phần đáng kể vào sự thay đổi dòng
chảy FDI từ các nước công nghiệp phát triển sang các nền kinh tế lân cận.
1.1.3- Các hình thức chủ yếu của FDI
FDI thường tồn tại dưới các hình thức sau:
- Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh
Đây là văn bản ký kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư
trong nước (nước nhận đầu tư) để tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất
kinh doanh ở nước chủ nhà trên cơ sở qui đònh về trách nhiệm và phân phối
kết quả kinh doanh mà không thành lập mới một công ty, xí nghiệp hay pháp
nhân nào.

• Hoạt động dưới sự chi phối của luật pháp nước nhận đầu tư.
-Các hình thức khác
Đầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp, thực hiện những hợp đồng xây dựng
– vận hành - chuyển giao (Build – Operation – Tranfer : BOT). Thông thường, các dự
án BOT thường được chính phủ các nước đang phát triển tạo mọi điều kiện thuận lợi
để thực hiện việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế.
1.1.4- Vai trò của FDI trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc
gia
FDI ít lệ thuộc về quan hệ chính trò giữa hai bên và do bên nước ngoài trực tiếp
tham gia quản lý sản xuất, kinh doanh nên mức độ khả thi của dự án khá cao, nhất là
trong việc tiếp cận thò trường quốc tế để mở rộng kinh doanh. Đồng thời, do quyền lợi
gắn chặt với dự án, nên nhà đầu tư quan tâm đến hiệu quả kinh doanh để lựa chọn
công nghệ thích hợp, nâng cao trình độ quản lý và tay nghề của công nhân. Vai trò
của FDI trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế có thể khái quát như sau:
1.1.4.1- Đối với các nước đầu tư
FDI giúp nâng cao hiệu quả sử dụng những lợi thế sản xuất ở nơi tiếp nhận đầu
tư, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư, đồng thời xây
dựng được thò trường cung cấp nguyên liệu ổn đònh với giá phải chăng. Mặt khác, FDI
còn là phương tiện để nhà đầu tư mở rộng thò trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo
hộ mậu dòch của các nước. Từ đó, FDI giúp các nước đầu tư có thể bành trướng kinh
tế, và nâng cao vò thế trên trường quốc tế.
1.1.4.2 - Đối với các nước nhận đầu tư
Các nước nhận đầu tư có thể chia làm 2 dạng là nước công nghiệp phát triển và
các nước đang phát triển. FDI có vai trò quan trọng chung là cùng thúc đẩy sự tăng
9


trưởng và phát triển các nền kinh tế, nhưng vai trò này được thể hiện cụ thể khác nhau
giữa các nền kinh tế.
a- Đối với nền kinh tế phát triển

có thể thúc đẩy sự đổi mới công nghệ, góp phần tăng năng suất lao động, giảm giá
thành của sản phẩm và xuất khẩu, thúc đẩy phát triển các nghề mới, đặc biệt là các
10


nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệ tiên tiến cao. Vì thế, nó có tác dụng lớn đối với
quá trình công nghiệp hóa, chuyển dòch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng nhanh.
FDI đem lại năng lực và kinh nghiệm quản lý, kinh doanh, kỹ năng và trình độ
chuyên môn cho các đối tác trong nước nhận đầu tư thông qua những chương trình đào
tạo, huấn luyện hoặc thúc đẩy việc này.
- Lợi ích về tạo ra công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho người lao động, từ
đó tạo điều kiện tăng tích lũy trong nước nhận đầu tư.
FDI ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội tạo ra công ăn việc làm thông qua việc cung
cấp việc làm trong các doanh nghiệp có vốn ĐTNN, và trong những tổ chức khác khi
các nhà đầu tư nước ngoài mua hàng hóa dòch vụ từ các nhà sản suất trong nước, hoặc
thuê họ thông qua những hợp đồng gia công chế biến.
- Thông qua FDI, các nước nhận đầu tư có thể tiếp cận với thò trường thế giới.
Các nước đang phát triển nếu có khả năng sản xuất ở mức chi phí sản xuất và
chất lượng có thể cạnh tranh được, thì lại rất khó khăn trong việc thâm nhập vào thò
trường nước ngoài. Trong khi đó, nhờ hầu hết các hoạt động FDI đều do các công ty
đa quốc gia thực hiện, mà các công ty này lại có lợi thế trong việc tiếp cận với khách
hàng bằng những hợp đồng dài hạn dựa trên uy tín của họ về chất lượng, kiểu dáng
của sản phẩm và kòp thời hạn,..
Như vậy, từ sự phân tích trên, cho thấy rằng việc tiếp nhận FDI là lợi thế rõ nét
giúp cho các nước phát triển sau có điều kiện tiếp cận với nền kinh tế phát triển. Tuy
nhiên, vốn nước ngoài dù quan trọng đến đâu cũng không thể đóng vai trò quyết đònh
sự phát triển của một quốc gia. Mặt khác, FDI cũng có những mặt trái của nó. Đây là
vấn đề cần được xem xét đầy đủ trong quá trình thu hút FDI. Nếu không, lợi ích thu
được sẽ không bù lại được những thiệt hại mà nó gây ra, FDI có không ít mặt hạn chế
của nó. Các hạn chế có thể được khái quát như sau:

hợp cho các nước kém phát triển, thậm chí đôi khi lại là những hàng hóa có hại cho
sức khỏe con người và gây ô nhiễm môi trường. Chẳng hạn như khuyến khích sử dụng
thuốc lá, thuốc trừ sâu, nước ngọt có gaz thay thế nước hoa quả tươi, chất tẩy thay thế
xà phòng, bột ngọt,…
- Những hạn chế khác.
Nhiều khi lượng vốn nước ngoài đã làm tăng thêm sự mất cân đối giữa các
vùng, giữa nông thôn và thành thò, từ đó có thể gây nên bất ổn về chính trò – xã hội.
Tuy nhiên, những mặt trái của FDI hoàn toàn không có nghóa là phủ nhận
những lợi thế cơ bản của nó mà chỉ lưu ý rằng không nên hy vọng quá nhiều vào FDI
và cần phải có những chính sách hợp lý, những biện pháp quản lý hữu hiệu để phát
huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của FDI. Bởi vì mức độ thiệt hại
mà FDI gây ra cho chủ nhà nhiều hay ít phụ thuộc rất nhiều vào chính sách, năng lực,
trình độ quản lý, trình độ chuyên môn của nước nhận đầu tư.
1.1.4.3- Sự cần thiết phải thu hút FDI trong chiến lược phát triển kinh tế ở Việt
Nam trong bối cảnh hội nhập.
- Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, Việt Nam cần thực hiện
chiến lược tăng trưởng kinh tế với tốc độ nhanh và bền vững. Tuy nhiên, các nguồn
lực chủ yếu cần thiết ở nước ta hiện nay còn rất hạn chế. Tích lũy trong nước còn ít,
12


trình độ khoa học công nghệ yếu kém, lạc hậu, lao động tuy được đánh giá là khá
nhiều, trẻ nhưng chưa tinh, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng nhưng
chưa đủ để giàu mạnh, trình độ quản lý còn sơ khai, non kém trong điều kiện phát
triển theo hướng nền kinh tế thò trường. Vì vậy, để có thể rút ngắn khoảng cách với
nền kinh tế của các nước trên thế giới, nhất là các nước trong khu vực, đòi hỏi chúng
ta cần phải quan tâm đến một nguồn vốn quan trọng, có thể bù đắp sự thiếu hụt của
các nguồn lực phát triển trong nước, đó là nguồn vốn FDI.
- Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2010 có mục tiêu là phải tạo
nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước vào năm 2020. Để

cho hoạt động kinh doanh cuả mình và khai thác dự án đầu tư có hiệu quả.
Mức độ an tâm của các nhà kinh doanh được củng cố thông qua sự đánh giá về
rủi ro chính trò. Các nhà kinh doanh thường đánh giá mức độ rủi ro chính trò theo 4
dạng chủ yếu gồm: sự mất ổn đònh trong nước, sự xung đột với nước ngoài, xu thế
chính trò và khuynh hướng kinh tế. Tình trạng bất ổn về chính trò bằng việc nhanh
chóng thay đổi chính phủ cũng có thể cản trở đầu tư, nếu nó dẫn đến một hệ thống
chính sách và biện pháp khuyến khích không ổn đònh. Đặc biệt, rất dễ có một tác
động bất lợi đối với đầu tư, nếu sự thay đổi chính phủ bao gồm cả việc thay đổi các
luật cơ bản, như: luật đầu tư, quyền sở hữu tài sản, luật thuế và nhất là nếu sự thay đổi
chính trò đó làm tăng các rủi ro tài sản bò tòch thu sung công.
Bảo đảm ổn đònh xã hội thực chất là tạo ra môi trường văn hóa - xã hội thuận
lợi cho hoạt động của các nhà đầu tư, đó là một bộ phận cấu thành hệ thống hạ tầng
xã hội. Có nghóa là, nhà nước giải quyết những vấn đề xã hội theo hướng tích cực, tạo
điều kiện cho các tổ chức kinh tế hoạt động có hiệu quả. Những vấn đề xã hội mà nhà
nước cần quan tâm như vấn đề dân số, việc làm, xóa đói giảm nghèo, công bằng xã
hội, xóa bỏ những tệ nạn xã hội, thái độ lao động, đạo đức kinh doanh và vấn đề bảo
vệ môi trường, y tế và giáo dục.
1.2.2- Ổn đònh các chính sách kinh tế vó mô để giảm tính bấp bênh xung quanh
việc đầu tư
Duy trì sự ổn đònh các chính sách kinh tế vó mô là giảm những biến động ngắn
hạn trong nền kinh tế và khuyến khích tăng trưởng bền vững lâu dài, góp phần tạo nên
môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư.
Trong việc duy trì ổn đònh các chính sách kinh tế vó mô, yếu tố hàng đầu là ổn
đònh tiền tệ mà biểu hiện là sự ổn đònh tỷ giá hối đoái, ổn đònh giá cả, lãi suất
v.v...nhằm giảm tính bấp bênh trong đầu tư, tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế.
Các yếu tác động đến môi trường kinh tế vó mô của quốc gia là các yếu tố như
mức tổng cầu, thu nhập và lạm phát. Đây là những yếu tố quan trọng đối với những
đánh giá về sự thành công hay thất bại của dự án đầu tư. Hơn nữa, các biến số ảnh
hưởng đến giá và số lượng của hàng hóa vốn như tỷ giá hối đoái thực và những biện
pháp kiểm soát đối với ngoại thương cũng hết sức quan trọng. Các biến số này sẽ có

dùng của các nước kém phát triển đến các nhà đầu tư.
Các trường hợp ưu đãi bằng thuế là biện pháp khuyến khích đầu tư thường gặp
nhất. Chúng được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau: thuế suất ưu đãi cho một số
loại đầu tư cụ thể nào đó, miễn và giảm thuế có thời hạn, cho phép khấu hao nhanh,
hoàn thuế, v.v..
Trên thực tế; ở các nước đang phát triển, những biện pháp khuyến khích đầu tư
có hiệu quả rất hạn chế, do sự hạn chế của hệ thống quản lí thuế và còn do những
biến dạng thò trường chẳng hạn như việc phân phối tín dụng hay sự can thiệp của hệ
thống quản lí hành chính vào việc phân bổ ngoại tệ. Các biện pháp ưu đãi bằng thuế
có thể ảnh hưởng đến sự phân bổ các khoản lợi ích đặc biệt nhờ độc quyền, hơn là ảnh
hưởng đến quyết đònh đầu tư, do đó thường có hiệu quả thấp.
Mặt khác, thật khó xác đònh và đo lường được những mức chênh lệch giữa suất
sinh lợi của đầu tư cá biệt và suất sinh lợi của đầu tư xã hội để lý giải cho những ưu
đãi bằng thuế. Do vậy, việc thực hiện bất kỳ biện pháp khuyến khích bằng thuế nào
15


cũng gây ra những gánh nặng rất lớn cho hệ thống quản lí thuế. Các biện pháp ưu đãi
bằng thuế sẽ khiến cho những đối tượng có thể hưởng lợi sẽ ra sức vận động hành
lang để có lợi cho mình. Sự thất thu thuế tiềm ẩn trong các biện pháp khuyến khích có
một chi phí cơ hội rõ ràng. Và những nỗ lực nhằm hoàn chỉnh hệ thống thuế nhằm
hướng dẫn sự phân bổ các nguồn lực có thể dẫn đến những biến dạng lớn mang tính
hệ thống.
Do đó, tính ổn đònh và có thể tiên đoán được của chế độ thuế là điều kiện tiên
quyết cho tính hiệu quả của biện pháp khuyến khích đầu tư.
1.2.4- Môi trường thể chế ổn đònh
Chính phủ có một vai trò quyết đònh trong việc xây dựng và duy trì một môi
trường kinh tế lành mạnh. Chính phủ phải đảm bảo luật pháp và trật tự, thực thi các
hợp đồng, và đònh hướng những điều tiết của nó để hỗ trợ cạnh tranh và đổi mới. Quan
trọng nhất là, chính phủ phải đảm bảo môi trường thể chế ổn đònh thông qua ổn đònh

sách và đònh chế có tính chất hỗ trợ, bao gồm; các thành phần của sự ổn đònh chính trò
- xã hội, sự ổn đònh chính sách kinh tế vó mô tạo ra môi trường hoạt động kinh doanh
với chi phí thấp, môi trường thể chế ổn đònh để đảm bảo sự đồng tâm nhất trí của xã
hội và một bảo đảm cơ sở hạ tầng do đầu tư và tăng trưởng kinh tế.
1.3- KINH NGHIỆM THU HÚT FDI CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG KHU
VỰC CHÂU Á
1.3.1- Các nền kinh tế đang phát triển.
Trong thời gian gần đây, sự gia tăng nhanh chóng của ĐTNN vào các nước
đang phát triển Châu Á và sự chênh lệch quá lớn trong thu hút FDI giữa các nước
đang phát triển Châu Á với các nước phát triển thuộc APEC cho ta những bài học
kinh nghiệm như:
• Sự năng động của các nền kinh tế mới mang ý nghóa tích cực đã tạo nên
môi trường đầu tư hấp dẫn. Và chính các công ty lớn Châu Á đang phát triển
cũng có nhiều biện pháp tích cực để tiếp cận tốt với thò trường vốn quốc tế.
• Bảo điều kiện tài chính tiền tệ và quản lý vó mô để thu hút dòng vốn vào.
Để thu hút dòng vốn mạnh mẽ vào, chính phủ nhiều nước đang phát triển
Châu Á đã thực hiện thành công chính sách tài chính, tiền tệ và ngoại hối.
Bên cạnh đó những cam kết cải cách cục bộ hoặc toàn diện nền kinh tế theo
hướng ra bên ngoài.
1.3.2 - Kinh nghiệm thu hút FDI của các nước trong khu vực
a- Trung Quốc :
Về chính sách chung, Trung Quốc huy động vốn FDI thông qua các hình thức
như hợp đồng sản xuất, liên doanh, 100% vốn đầu tư nước ngoài vào các khu vực đặc
biệt.
Chính sách cơ bản để thu hút FDI của Trung Quốc là chính sách thuế. Trung
Quốc ban hành nhiều loại thuế riêng cho các hình thức đầu tư: hợp tác, liên doanh,
100% vốn nước ngoài và cho 14 thành phố ven biển. Liên doanh đóng thuế lợi tức
30% và 10% thêm cho đòa phương. Với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì thuế
lợi tức từ 20% đến 40% và 10% cho đòa phương.
Tại 14 thành phố ven biển, các doanh nghiệp vốn 100% vốn nước ngoài được

Về chính sách thuế; đối với thuế lợi tức, nếu công ty có mức lãi ròng 10 triệu
rupi trở xuống đánh thuế 15%, trên 10 đến 50 triệu rupi đánh thuế 25% và trên 50
triệu rupi đánh thuế 35%. Các khoản thu từ lãi suất cho vay, cho thuê, phí tài nguyên,
phí kỹ thuật, phí quản lý bò đánh thuế 15% trên doanh thu. Inđônêsia không có chế
độ miễn thuế doanh thu và thuế lợi tức.
Về thuế nhập khẩu; Inđônêsia có chính sách miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu
đối với máy móc, thiết bò, phù tụng được uỷ ban đầu tư phê duyệt trong danh mục quy
đònh. Tuy nhiên, những thứ nhập theo vốn đầu tư vào Inđônêsia đã sản xuất được thì
không được miễn thế nhập khẩu. Ngược lại, nước ngoài mua những hàng này của
18


Inđônêsia thì được thoái lại thuế nhập khẩu đã đóùng vào vật liệu, nguyên liệu sản
xuất ra chúng.
Đối với hàng xuất khẩu: lãi tín dụng phục vụ xuất khẩu là 9%/năm, trong khi
lãi xuất khác là 18 – 24%/năm. Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu được nhập
các mặt hàng sử dụng nếu hàng trong nước đắt hơn. Được hoàn trả hoặc miễn thuế
nhập khác mặt hàng. Công ty sản xuất hàng xuất khẩu không chỉ được phép xuất khẩu
hàng của mình mà cả hàng của công khác.
Về chính sách thò trường, gần đây để tạo môi trường cạnh tranh thuận lợi
Inđônêsia cho phép mọi ngành công nghiệp, trừ các ngành trong danh mục loại trừ và
trong kho ngoại quan, được tiếp cận tự do thò trường nội đòa.
Về quản lý ngoại hối, doanh nghiệp nước ngoài được phép chuyển ra nước
ngoài các khoản thu nhập sau thuế, vốn, chi tiền cho cá nhân, khấu hao tài sản, tiền
bán cổ phần cho người (hoặc tổ chức ) Inđônêsia, tiền thu hồi vốn trường hợp bò quốc
hữu hoá. Ngoài ra, Chính phủ Inđônêsia từng bước hạ thấp lãi suất của tiền gởi ngân
hàng trung ương, làm cho tiền gởi ngân hàng và lãi suất cho vay giảm xuống.
Về vấn đề sở hữu 10% vốn nước ngoài, gần đây cũng như Malaysia, Philippin,
Xingapo, Thái Lan, Inđônêsia đã áp dụng cho tất cả các ngành công nghiệp, trừ các
ngành có trong danh mục cấm hoặc hạn chế đầu tư. Ngoài ra, Inđônêsia còn quy đònh,

FDI vào Malaysia ngày càng tăng lên trong những năm gần đây và một vài năm tới.
d- Bài học kinh nghiệm
-Nguồn vốn FDI đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt đối với các nước đang
phát triển, trong việc tạo nguồn vốn ban đầu để phát triển kinh tế quốc gia. Vấn đề
còn lại là, chính phủ các nước cần phải chính sách hợp lý trong từng thời kỳ để khuyến
khích thu hút vốn FDI.
-Muốn thu hút và sử dụng hiệu quả vốn FDI, chính phủ cần chuẩn bò tốt về cơ
sở hạ tầng vật chất, cơ sở hạ tầng tài chính, trình độ của lực lượng lao động ….
-Bên cạnh việc thu hút vốn FDI, chính phủ cần có chính sách khuyến khích thu
hút vốn đầu tư trong nước, khai thác nội lực của quốc gia mình.
-Trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện đại, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền
kinh tế càng trở nên rõ ràng hơn. Đặc biệt, các nước càng nhỏ bé về sức mạnh kinh tế
càng dễ bò ảnh hưởng. Vì vậy, khi mở cửa, cần xem xét các điều kiện trong nước.
- Các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài rất nhạy cảm với môi
trường đầu tư. Vì thế, muốn thu hút vốn FDI, chính phủ cần có những biện pháp hữu
hiệu để ổn đònh chính trò – kinh tế – xã hội.
-Để thu hút vốn FDI, chính phủ nên thực hiện một chính sách vó mô khéo léo,
linh hoạt và sửa đổi, bổ sung kòp thời.
Tóm lại: sự trình bày và phân tích có hệ thống các vấn đề lý luận của FDI là cơ sở để
phân tích, đánh giá vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối quá trình tăng trưởng và
phát triển kinh tế ở Đồng Nai, đồng thời hoạch đònh các giải pháp sau này.

20


CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN FDI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
ĐỒNG NAI TRONG THỜI GIAN QUA
2.1- ĐẶC ĐIỂM TIỀM NĂNG CỦA TỈNH ĐỒNG NAI
Cùng với lòch sử hình thành và phát triển của miền Đông Nam bộ, Tỉnh Đồng


21




Về đòa hình: đây là vùng đất tương đối bằng phẳng, thấp dần về phía Nam
với độ dốc trung bình từ 2 – 4%. Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ
6 đến 35 mét.



Dân số: theo kết quả của cuộc tổng điều tra dân số ngày 01/04/1999, Tỉnh
Đồng Nai có 1.989.500 người chiếm 23% dân số của VKTTĐPN.

b- Về tổ chức hành chính
Tỉnh Đồng Nai có 9 huyện, thò xã, thành phố và được chia thành 163 xã,
phường, thò trấn. Thành phố Biên Hoà là trung tâm kinh tế – chính trò – văn hoá của
Tỉnh.
2.1.2- Các tiềm năng và thế mạnh về kinh tế - xã hội
a- Điều kiện đòa lý tự nhiên, đất đai và nguồn nước
Nằm ở trung tâm của vùng Đông Nam Bộ nói riêng và miền Nam nói chung,
Tỉnh Đồng Nai được hưởng những điều kiện tự nhiên thuận lợi của khu vực Nam bộ.
Bên cạnh đó, Tỉnh còn được hưởng những ưu thế về tự nhiên khác. Chính những lợi
thế này đã tác động tích cực đến hoạt động đầu tư phát triển ở Tỉnh, thông qua việc
cung cấp các dòch vụ đầu tư một cách tương đối đầy đủ và tốt nhất so với các đòa
phương khác trong cả nước. Điều kiện tự nhiên của Tỉnh, ngoài những điểm đặc thù
đã nêu trên, còn có một số đặc điểm khác như:
- Điều kiện khí hậu, thời tiết
Miền Nam nói chung và Tỉnh Đồng Nai nói riêng có khí hậu dễ chòu và thời

thống nước ngầm này là nguồn bổ sung đáng kể cho việc cung cấp nước sinh hoạt và
sản xuất trong Tỉnh.
b- Kết cấu hạ tầng
- Mạng lưới giao thông
Phải nói rằng, Tỉnh Đồng Nai là một trong những đòa phương có mạng lưới giao
thông thuận lợi, phong phú, đa dạng cả về đường thuỷ, đường bộ, đường sắt và đường
hàng không. Đặc biệt, luôn được chính quyền đòa phương quan tâm đầu tư phát triển,
nhất là trong vài năm trở lại đây.
Đường bộ
Tính đến nay, hệ thống đường bộ trong toàn Tỉnh đã đạt đến 3650 km tổng
chiều dài; trong đó có 726 km đường nhựa, còn lại là đường bêtông ximăng, đường đá,
đường cấp phối và đường đất.
Hệ thống cầu ở Tỉnh, cũng khá lớn. Toàn Tỉnh có 439 cây cầu các loại với tổng
chiều dài lên đến 7581 m trong đó có khoảng hơn 30% số cây cầu có tải trọng trên 10
tấn.
Đường sắt
Tuyến đường sắt Bắc - Nam từ ga Hòa Hưng đi qua Tỉnh Đồng Nai. Độ dài
tuyến nằm trên Tỉnh Đồng Nai là 87,5km. Những năm gần đây, hàng hóa được vận
chuyển qua đường sắt tăng nhanh.

23


Đường hàng không
Về tiềm năng, Tỉnh Đồng Nai có sân bay Biên Hòa với tổng diện tích 40 km2
nằm ở phía Bắc trung tâm thành phố Biên Hòa. Ngoài ra, Đồng Nai còn có các sân
bay dã chiến được xây dựng trước năm 1975. Tương lai dự kiến sẽ xây dựng sân bay
quốc tế tại huyện Long Thành, sẽ tạo cho Đồng Nai một hệ thống giao thông hoàn
chỉnh.
- Bưu chính, viễn thông

Trích đoạn Nguyên nhân của những tồn tại GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC NHẰM THU HÚT FDI TRÊN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status