ĐỀ TÀI " HIỆU QUẢ CỦA FDI VÀ ĐÒI HỎI VIỆC THAY ĐỔI CHIẾN LƯỢC THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI " - Pdf 15


1
HIỆU QUẢ CỦA FDI VÀ ĐÒI HỎI VIỆC THAY ĐỔI CHIẾN LƯỢC
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

Cục đầu tư nước ngoài
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
I. Tổng quan về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
1. Bối cảnh kinh tế thế giới
Trong gần một thập kỷ qua, diễn biến tình hình trên thế giới có nhiều
phức tạp. Xu thế hội nhập và toàn cầu hoá kinh tế gia tăng mạnh cùng sự phát
triển nhảy vọt của cách mạng khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông
tin đã thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế tri thức, tạo nên sự dịch chuyển
mạnh cơ cấu kinh tế quốc tế. Kinh tế thế giới đã phục hồi và tăng trưởng trở
lại tuy chậm. Châu Á-Thái Bình Dương tiếp tục tăng trưởng nhanh và là khu
vực phát triển năng động của thế giới. Các công ty đầu tư quốc tế đang áp
dụng chiến lược kinh doanh toàn cầu hoặc khu vực. Cùng với tiến trình hội
nhập sâu vào kinh tế khu vực và thế giới, thị trường tiêu thụ sẽ được mở rộng,
tạo điều kiện để khắc phục trở ngại về mặt thị trường cho các doanh nghiệp
nói chung và doanh nghiệp ĐTNN nói riêng.
Những năm cuối của thế kỷ XX, thế giới lại phải đối mặt với cơn bão
khủng hoảng tài chính toàn cầu. Theo kết quả Điều tra triển vọng đầu tư thế
giới (WIPS) 2009-2011 vừa công bố của Diễn đàn Thương mại và Phát triển
Liên hiệp quốc (UNCTAD), 79% các tập đoàn đa quốc gia (TNCs) đang phải
chịu ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính, 85% các tập đoàn
chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu trong khi con số này chỉ là 40%
theo WIPS 2008-2010. Khả năng và ý định đầu tư ra nước ngoài của các tập
đoàn đa quốc gia (TNCs, một nguồn FDI lớn) bị ảnh hưởng đáng kể do tác
động của suy thoái kinh tế dẫn tới các chính sách thắt chặt tín dụng tại nước
đầu tư, giảm kỳ vọng thị trường, giảm giá trị tài sản do thị trường chứng
khoán đi xuống và giảm lợi nhuận của các tập đoàn. Thêm vào đó, các TNCs

ĐTNN đã có mặt ở 63 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó thành
phố Hồ Chí Minh vẫn là nơi thu hút nhiều nhà ĐTNN nhất chiếm 29% tổng
số dự án và 16,4% tổng vốn đăng ký cả nước. Bà Rịa – Vũng Tàu đang vươn
lên rất sát với thành phố Hồ Chí Minh với quy mô vốn đăng ký 26,3 tỷ USD,
chiếm 14,2% tổng vốn đăng ký của cả nước. Tiếp theo lần lượt là Hà Nội,
Đồng Nai, Bình Dương, Ninh Thuận, Hà Tĩnh, Phú Yên, Thanh Hóa, và Hải
Phòng. 10 tỉnh, thành phố thu hút ĐTNN lớn nhất này đã chiếm tới 75,6%
tổng vốn đăng ký của cả nước (145,9 tỷ USD). 53 tỉnh, thành còn lại chỉ
chiếm 24,4% tổng vốn đăng ký.
* 10 năm gần đây:
Nhìn lại 10 năm qua, có thể thấy rằng giai đoạn 2001-2010 đã chứng
kiến những thay đổi mạnh mẽ có tính đột phá trong thu hút và sử dụng nguồn
vốn ĐTNN tại Việt Nam. Dòng vốn đăng ký và thực hiện tăng liên tiếp từ
năm 2001 và đạt mức cao nhất vào năm 2008, năm kinh tế thế giới bắt đầu
bước vào giai đoạn suy thoái. Vốn đăng ký năm 2008 đạt mức cao nhất trong
vòng 20 năm qua với 71,7 tỷ USD đã được chấp thuận đầu tư, đồng thời vốn
giải ngân của khu vực này cũng đạt mức cao nhất là 11,5 tỷ USD.
Năm 2009 do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới dẫn
tới điều chỉnh chính sách đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia, dòng vốn
đầu tư toàn cầu suy giảm, cạnh tranh thu hút ĐTNN càng trở nên gay
gắt, ĐTNN vào Việt Nam đã có sự suy giảm, đạt 23,1 tỷ USD, tuy chỉ
bằng 32% so với năm 2008 nhưng cũng là một mức cam kết khá cao
trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu.
Trong năm 2010 Việt Nam đã thu hút được 18,59 tỷ USD vốn ĐTNN
đăng ký (gồm cả cấp mới và tăng vốn). Tuy chỉ bằng 82,2% so với cùng kỳ
2009, nhưng vốn ĐTNN vào Việt Nam duy trì được con số đáng kích lệ như

3
trên trong bối cảnh suy giảm toàn cầu vẫn chứng tỏ rằng môi trường đầu tư
của Việt Nam vẫn có sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

trong đó, vốn của bên nước ngoài đưa vào (gồm vốn góp và vốn vay) khoảng
47,2 tỷ USD, chiếm gần 80% tổng vốn thực hiện. Từ năm 2001-2005, vốn
thực hiện đạt 14,32 tỷ USD. Đến giai đoạn 2006-2010, vốn thực hiện đạt 44,6
tỷ USD, cao gấp 3,1 lần so 5 năm trước, năm sau cao hơn năm trước. Năm
2007 vốn FDI thực hiện đạt trên 8 tỷ USD, tăng 96% so với năm 2006. Năm
2008 đạt mức cao nhất trong 20 năm đạt 11,5 tỷ USD, tăng 43% so với năm
2007. Năm 2009, vốn giải ngân đạt 10 tỷ USD; năm 2010 đạt 11 tỷ USD, tăng
10% so với năm 2009.

4
II. Đánh giá hiệu quả và tác động của ĐTNNN đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội của Việt Nam
1. Mặt tích cực:
Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN ngày càng khẳng định vai trò quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, là khu vực có tốc độ
phát triển năng động nhất.

Thứ 1: ĐTNN là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư phát triển,
đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế:
Nguồn vốn ĐTNN chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư toàn
xã hội, giai đoạn 2001-2005 ĐTNN chiếm khoảng 16% tổng vốn đầu tư xã
hội; hai năm 2006-2007 chiếm khoảng 25%, năm 2008 đạt gần 30%, năm
2009 chiếm 25,7%, năm 2010 chiếm 25,8%.
Vốn ĐTNN đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Đóng
góp của khu vực ĐTNN vào GDP tăng dần qua các năm, năm 1992 đạt 2%,
đến năm 2000 đã đạt tới 12,7%. Giai đoạn 2001 – 2005, đóng góp của khu
vực ĐTNN vào GDP cũng tăng cao hơn so với giai đoạn trước, bình quân
khoảng 14,5% / năm. Tỷ trọng này tiếp tục tăng lên trong các năm 2006 –
2010 đạt bình quân 18%/ năm.


thăm dò và khai thác dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe
máy Thông qua hoạt động chuyển giao công nghệ trong các dự án ĐTNN
trình độ công nghệ sản xuất trong nước đã được nâng cao một cách rõ rệt so
với thời kỳ trước đây.
Nhiều doanh nghiệp trong nước do phải cạnh tranh với các sản phẩm
của doanh nghiệp có vốn ĐTNN đã cố gắng đổi mới công nghệ bằng việc
nhập khẩu các thiết bị và công nghệ mới để sản xuất ra các sản phẩm có chất
lượng tốt. Do đó đã tăng cường năng lực về công nghệ của các doanh nghiệp
trong nước.
Bên cạnh chuyển giao các máy móc, thiết bị tiên tiến, hiện đại từ nước
ngoài, các doanh nghiệp có vốn ĐTNN cũng đã chuyển giao cho đội ngũ lao
động Việt Nam phương thức quản lý tiên tiến, hiệu quả, góp phần đào tạo
nâng cao trình độ của đội ngũ lao động Việt Nam.

Thứ 4: ĐTNN đóng góp đáng kể vào NSNN và các cân đối vĩ mô:
Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cũng đã đóng góp tích cực vào ngân
sách nhà nước, thể hiện qua việc thu nộp ngân sách tăng dần qua các năm và
bắt đầu vượt ngưỡng 1 tỷ USD từ năm 2005. Giai đoạn 2001-2005 khu vực
doanh nghiệp ĐTNN đã nộp ngân sách 3,6 tỷ USD, tăng gấp 2 lần 5 năm
trước. Năm 2006 con số trên đạt 1,3 tỷ USD, bằng cả 5 năm giai đoạn 1996-
2000. Tính cả giai đoạn 2006-2010, khu vực FDI nộp ngân sách 10.22 tỷ
USD; trong đó, năm 2010 đạt 3,1 tỷ USD (không kể dầu thô) tăng 26% so với
năm 2009.
ĐTNN tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế như cân
đối ngân sách, bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai, cải thiện cán cân thanh toán
quốc tế thông qua việc chuyển vốn vào Việt Nam và mở rộng nguồn thu ngoại
tệ gián tiếp qua khách quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua máy móc và nguyên,
vật liệu

Thứ 5: ĐTNN góp phần cải thiện cán cân thanh toán cả nước.

tế quốc tế.
ĐTNN chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam. Thông qua mạng lưới tiêu thụ của các tập đoàn xuyên quốc gia, nhiều
sản phẩm sản xuất tại Việt Nam đã tiếp cận được với các thị trường trên thế
giới.
Trong lĩnh vực khách sạn và du lịch, ĐTNN đã tạo ra nhiều khách sạn
cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế 4, 5 sao cũng như các khu du lịch, sinh thái,
nghỉ dưỡng đáp ứng nhu cầu khách du lịch quốc tế, góp phần gia tăng nhanh
chóng lượng khách du lịch quốc tế vào Việt Nam.
Thứ 8: ĐTNN góp phần mở rộng tăng cường quan hệ đối ngoại với các nước
và các tổ chức trên thế giới.
Bên cạnh đó, ĐTNN còn góp phần đưa nền kinh tế nước ta từng bước
hội nhập với kinh tế thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.
Thứ 9: Tác động lan tỏa của ĐTNN đến các thành phần kinh tế khác trong
nền kinh tế.

7
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ĐTNN được nâng cao qua số
lượng các doanh nghiệp tăng vốn đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất. Đồng thời,
có tác động lan tỏa đến các thành phần khác của nền kinh tế thông qua sự liên
kết giữa doanh nghiệp có vốn ĐTNN với các doanh nghiệp trong nước, công
nghệ và năng lực quản lý, kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp có
vốn ĐTNN. Sự lan tỏa này có thể theo hàng dọc giữa các doanh nghiệp trong
ngành dọc hoặc theo hàng ngang giữa các doanh nghiệp hoạt động cùng
ngành. Mặt khác, các doanh nghiệp ĐTNN cũng tạo động lực cạnh tranh cho
các doanh nghiệp trong nước nhằm thích ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa,
qua đó nâng cao được năng lực của các doanh nghiệp trong nước.
Với những kết quả nêu trên, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã được
khẳng định là một trong những kênh quan trọng thu hút vốn cho đầu tư phát
triển, góp phần phát triển kinh tế-xã hội bền vững của đất nước.

8
tính đến vấn đề chiến lược, thu hút đầu tư một số nơi còn chạy theo số lượng
mà thiếu quan tâm đến chất lượng, làm phá vỡ quy hoạch chung xét trên
phạm vi cả nước ảnh hưởng xấu đến các cân đối tổng thể của nền kinh tế.
Không ít những dự án quy mô lớn với số vốn đăng ký nhiều tỷ USD,
nhưng tính khả thi thấp, tiến độ rất chậm. Có những dự án dang dở, không thể
triển khai tiếp, gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống người dân xung quanh.
Bài học về cấp phép ồ ạt cho các dự án sân golf, các dự án khai thác
khoáng sản và trồng rừng cần được nhìn nhận và nghiêm túc rút kinh nghiệm
nhằm đảm bảo chất lượng, hiệu quả, thu hút đầu tư.
- Vai trò điều phối, kiểm soát, hướng dẫn trên toàn quốc của các Bộ,
ngành chức năng còn những hạn chế nhất định, thiếu các quy hoạch hoặc quy
hoạch không cụ thể, chưa kết hợp hài hòa giữa lợi ích của địa phương với lợi
ích tổng thể của quốc gia.
- Năng lực của cán bộ quản lý, thẩm tra và làm công tác xúc tiến đầu
tư ở các địa phương nhìn chung vẫn còn hạn chế. Thực tế cho thấy, một số địa
phương không quan tâm đầy đủ, đúng mức đến việc thẩm định năng lực tài
chính, kỹ thuật cũng như những tác động về môi trường, kinh tế - xã hội lâu
dài của các dự án có quy mô lớn, có tác động không những đến sự phát triển
kinh tế- xã hội của địa phương mà còn tác động đến kinh tế - xã hội của cả
nước.
- Trách nhiệm cung cấp thông tin FDI đầy đủ, kịp thời của các địa
phương lên trung ương, để phục vụ công tác quản lý, điều hành, phân tích và
dự báo các biến động, các xu thế đầu tư vào Việt Nam chưa được nhận thức
đúng đắn dẫn tới việc chấp hành chưa nghiêm. Trong bối cảnh nền kinh tế
Việt Nam và kinh tế thế giới có nhiều biến động dẫn tới các dòng vốn đầu tư
vận động bất thường, sự thiếu kịp thời trong nắm bắt tình hình có thể dẫn đến
những quyết sách thiếu kịp thời, khiến lỡ thời cơ hoặc phản ứng chính sách
quá chậm, ảnh hưởng đến các cân đối vĩ mô của nền kinh tế.
Ba là: Hạn chế về việc quản lý hiệu quả kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ

có tới 1,1 triệu lao động nữ, hầu hết các lao động không được đào tạo tại nước
ngoài hoặc chỉ được đào tạo ngắn ngày.
Bên cạnh đó, vấn đề tranh chấp lao động là một hệ lụy khó tránh khỏi,
đặc biệt trong những thời điểm doanh nghiệp mới bắt đầu hoạt động, hoặc khi
doanh nghiệp gặp khó khăn về sản xuất kinh doanh. Một số chủ doanh nghiệp
trả công cho người lao động bằng với mức lương tối thiểu, yêu cầu tăng ca
nhiều khiến tiền lương không đủ tái sản xuất sức lao động, dẫn đến mâu thuẫn
giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, dẫn đến tình trạng đình công
bãi công, đình trệ sản xuất làm thiệt hại cho cả hai bên.
III. Một số giải pháp thay đổi định hướng thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài.
1. Một số định hướng chiến lược
Đã đến lúc Việt Nam cần có sự lựa chọn kỹ càng hơn, nhằm tăng chất
lượng và tính bền vững của dòng vốn FDI. Điều này có thể nhận thấy qua
việc nhiều dự án FDI có vốn đầu tư hàng tỷ USD đang bộc lộ những yếu tố
không có lợi cho nền kinh tế. Công bằng mà nói, vấn đề chất lượng dự án,
chất lượng dòng vốn FDI đã được đặt ra ngay từ thời điểm bắt đầu mở cửa thu
hút đầu tư. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, do đặc thù thiếu vốn đầu tư cho
các ngành nghề, lĩnh vực, Việt Nam chủ trương đẩy mạnh thu hút đầu tư vào
mọi lĩnh vực với mọi quy mô. Tùy từng thời kỳ, từng giai đoạn cụ thể cần có
chính sách phù hợp. Đặc biệt trong giai đoạn tới, càng cần có cách nhìn, cách
tư duy mới để có những giải pháp hài hòa giữa yếu tố thúc đẩy tăng trưởng
với xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại, chất lượng và phát triển bền vững.
Chiến lược thu hút FDI trong thời gian tới cần lưu ý một số vấn đề sau:
10
- Thứ nhất, thực tế cho thấy Việt Nam hiện nay còn thiếu một chiến
lược về đầu tư trực tiếp nước ngoài của quốc gia mang tính dài hạn và cụ thể.
Các mục tiêu trong Luật Đầu tư nước ngoài (trước đây) và Luật Đầu tư chung
hiện nay quá nhiều, chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn nhau (ví dụ vừa ưu tiên
phát triển công nghệ cao, vừa ưu tiên những ngành sử dụng nhiều lao động, ).

nghị, đề xuất hoặc điều chỉnh chính sách thu hút và xúc tiến đầu tư đối với
các đối tác chiến lược của Việt Nam trong thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến
năm 2030, qua đó tạo nền tảng cho việc nghiên cứu xây dựng chiến lược xúc
tiến và thu hút vốn đầu tư nước ngoài với tầm nhìn dài hạn
2. Một số giải pháp chủ yếu
Để triển khai thực hiện việc tiếp tục thu hút và sử dụng hiệu quả vốn
ĐTNN trong thời gian tới, cần thực hiện một số giải pháp sau:
11

2.1. Nhóm giải pháp về luật pháp, chính sách:
- Tiếp tục rà soát pháp luật, chính sách về đầu tư, kinh doanh để sửa đổi
các nội dung không đồng bộ, thiếu nhất quán, bổ sung các nội dung còn thiếu;
sửa đổi các quy định còn bất cập, chưa rõ ràng liên quan đến thủ tục đầu tư và
kinh doanh. Sửa đổi Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp, Luật thuế thu nhập
doanh nghiệp, Luật thuế xuất nhập khẩu, Luật đất đai và các Luật khác liên
quan theo hướng nhất quán, tránh chồng chéo; theo đó sửa các Nghị định,
thông tư liên quan của các Luật trên, sửa Nghị định 53/2007/NĐ-CP ngày
04/4/2007 về xử phạt vi phạm trong lĩnh vực đầu tư theo hướng tăng mức chế
tài.
- Ban hành các ưu đãi khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực: phát triển
đô thị, phát triển hạ tầng kỹ thuật (cấp thoát nước, môi trường đô thị, ), xây
dựng công trình phúc lợi (nhà ở, bệnh viện, trường học, văn hoá, thể thao) cho
người lao động làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công
nghệ cao, khu kinh tế; các dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ,
dự án sản xuất chế tạo có khả năng tạo nhiều giá trị gia tăng trong nước, dự án
nông nghiệp và phát triển nông thôn; ưu đãi cho sản xuất chế tạo phải cao hơn
các dịch vụ thông thường, hoạt động thương mại kinh doanh bất động sản.

2.2 . Nhóm giải pháp về quy hoạch:
- Làm tốt công tác xây dựng quy hoạch và quản lý quy hoạch, đặc biệt là

cảng lớn của các khu vực kinh tế như hệ thống cảng Hiệp Phước-Thị Vải,
Lạch Huyện
- Xem xét việc ban hành một số giải pháp mở cửa sớm hơn mức độ cam
kết của Việt Nam với WTO đối với một số lĩnh vực dịch vụ mà nước ta có
nhu cầu về văn hóa-y tế-giáo dục, bưu chính-viễn thông, hàng hải, hàng
không.
2.4 . Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực
- Đẩy nhanh việc triển khai kế hoạch tổng thể về đào tạo nhằm nâng tỷ
lệ lao động qua đào tạo lên 40% vào năm 2010. Theo đó, ngoài việc nâng cấp
đầu tư hệ thống các trường đào tạo nghề hiện có lên ngang tầm khu vực và thế
giới, sẽ phát triển thêm các trường đào tạo nghề và trung tâm đào tạo từ các
nguồn vốn khác nhau.
- Nghiên cứu điều chỉnh chuyển dịch cơ cấu lao động theo tốc độ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Thực hiện các giải pháp nhằm đưa Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Lao động vào thực tế cuộc sống để ngăn ngừa tình trạng đình
công bất hợp pháp, lành mạnh hóa quan hệ lao động theo tinh thần của Bộ
luật Lao động, bao gồm:
+ Tiếp tục hoàn thiện luật pháp, chính sách về lao động, tiền lương phù
hợp trong tình hình mới; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc chấp
hành pháp luật về lao động đối với người sử dụng lao động nhằm đảm bảo
điều kiện làm việc và đời sống cho người lao động.
+ Nâng cao hiểu biết pháp luật về lao động thông qua phổ biến, tuyên
truyền và giáo dục pháp luật cho người lao động, người sử dụng lao động
trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để đảm bảo chính sách,
pháp luật về lao động và tiền lương được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc.
2.5 . Nhóm giải pháp về quản lý nhà nước:
- Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trung ương và giữa trung ương
với địa phương trong việc cấp phép và quản lý các dự án đầu tư nước ngoài.
Đặc biệt các Bộ ngành cần tăng cường vai trò trong việc quản lý hiệu quả

đầu tư ở Trung ương và địa phương; xây dựng văn bản pháp quy về công tác
Xúc tiến đầu tư nhằm tạo hành lang pháp lý thống nhất trong công tác quản lý
nhà nước, cơ chế phối hợp và tổ chức thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư.
- Thực hiện có hiệu quả Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia giai
đoạn 2007 – 2010 làm tiền đề cho các giai đoạn tiếp theo. Hỗ trợ, thúc đẩy
hoạt động của các bộ phận xúc tiến đầu tư tại các địa bàn trọng điểm đã có đại
diện và tiếp tục mở rộng địa bàn xúc tiến đầu tư. Tiếp tục kết hợp các hoạt
động xúc tiến đầu tư trong các chuyến thăm và làm việc tại các nước của lãnh
đạo cấp cao; làm tốt công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh cho các sự kiện
này.
- Tăng cường đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư.

14
2.7 . Một số giải pháp khác
a) Tiếp tục nâng cao hiệu quả việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực
và tình trạng nhũng nhiễu đối với nhà đầu tư. Đề cao tinh thần trách nhiệm cá
nhân trong xử lý công việc, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ở các cơ quan
quản lý nhà nước.
b) Thực hiện hiệu quả các sáng kiến cải thiện môi trường đầu tư; tiếp tục
hợp tác tích cực với các cơ quan, tổ chức nước ngoài trong việc XTĐT và hỗ trợ
doanh nghiệp triển khai dự án.
c) Duy trì cơ chế đối thoại thường xuyên giữa lãnh đạo Chính phủ, các
Bộ, ngành với các nhà đầu tư, đặc biệt là Diễn đàn doanh nghiệp hàng năm để
xử lý kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách
và phát luật hiện hành, đảm bảo các dự án hoạt động hiệu quả, nhằm tiếp tục
củng cố lòng tin của các nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư kinh doanh tại
Việt Nam, tạo hiệu ứng lan tỏa và tác động tích cực tới nhà đầu tư mới.
d) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra: theo chức năng và nhiệm
vụ của mình, Thanh tra Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương có kế hoạch
tăng cường thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ các quy định của chính sách, pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status