TL on tap CNXH CHƯƠNG II - Pdf 31

Chương II:
LƯỢC KHẢO LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA
I.KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI TƯ TƯỞNG XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA
1. Khái niệm tư tưởng XHCN
a. Định nghĩa tư tưởng XHCN
Tư tưởng XHCN ( tiếng Hi lạp là Idea – hình tượng ) là một hình
thái, ý thức của con người phản ánh thế giới hiện thực. Bất cứ tư tưởng
nào cũng do điều kiện vật chất, do chế độ xã hội quy định, và là sự
phản ánh những điều kiện sinh hoạt vật chất của chế độ xã hội nhất
định.
Từ khi xuất hiện chế độ tư hữu và đi liền với nó là sự phân chia xã
hội thành giai cấp: - thống trị và bị trị
- áp bức và bị áp bức
Cũng từ đó trong ý thức bắt đầu xuất hiện và không ngừng phát triển
các tư tưởng đối lập về lợi ích, về sự đấu tranh giữa các giai cấp. Ngay
từ thời cổ đại bên cạnh những tư tưởng phản ánh, bảo vệ lợi ích của
giai cấp thống trị, đã xuất hiện tư tưởng phản ánh, bảo vệ, thể hiện khát
vọng của giai cấp bị trị.
+ Tư tưởng của giai cấp thống trị phản ánh, bảo vệ góp phần duy trì
củng cố, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị.
+ Tư tưởng của giai cấp bị trị phản ánh nhu cầu, mơ ước về một xã
hội không có áp bức bất công, mọi người cùng lao động sống bình
đẳng. Đặc biệt là những nhu cầu, mơ ước dần trở thành con đường,
cách thức, phương pháp đấu tranh thực tiễn của nhân dân lao động.
Như vậy: chúng ta có thể kết luận rằng xét cho cùng nếu không có
những tư tưởng tiến bộ XHCN có căn cứ khoa học thì không thể dẫn
dắt được các phong trào thực tiễn của nhân dân đấu tranh vì lợi ích của
mình.
Khái niệm tư tưởng XHCN: Tư tưởng XHCN là hệ thống những

sử thường tiến hành phân loại dựa trên sự kết hợp đúng mức 2 tiêu chí
trên.
a. Phân loại tư tưởng XHCN theo lịch đại
Theo tiến trình lịch sử hay theo lịch đại, các nhà nghiên cứu lịch
sử tư tưởng thường chia tư tưởng XHCN thành các giai đoạn phát triển
tương ứng với các giai đoạn phát triển của xã hội loài người. Theo cách
này người ta chia thành:
- Tư tưởng XHCN cổ đại và trung đại
- Tư tưởng XHCN thời kỳ phục hưng
Th.sĩ Nguyễn Thị Thu Hà
2
- Tư tưởng XHCN thời kỳ cận đại
- Tư tưởng XHCN thời kỳ hiện đại
b.Phân loại tư tưởng XHCN theo trình độ phát triển
Theo trình độ phát triển của tư tưởng XHCN, người ta phân thành:
- CNXH sơ khai
- CNXH không tưởng
- CNXH không tưởng – phê phán
- CNXHKH ( do Mác – Ăngghen sáng lập)
c. Kết hợp tính lịch đại với trình độ phát triển để phân loại các tư
tưởng XHCN:
Dù sử dụng tiêu chí theo lịch đại hay theo trình độ phát triển của tri
thức được tích lũy trong phân loại tư tưởng XHCN, các nhà nghiên cứu
đều cho rằng không nên tuyệt đối hóa các tiêu chí được sử dụng để
phân loại mà chỉ nên coi đó là tiêu chí chủ yếu, cơ bản nhất mà thôi.
Như vậy khi phân loại để nghiên cứu: cần chú ý đến các cấp độ
phát triển nội tại ( theo kiểu kế thừa, phủ định, phát triển ) của các
tư tưởng ấy.
Đây được coi là phương pháp phân loại đúng đắn nhất và là cơ sở để
tiến hành khảo sát các tư tưởng XHCN

Xpáctacút làm thủ lĩnh, đã được Lênin đánh giá “… Xpác-ta-cút, gần
hai nghìn năm về trước, là một trong những vị anh hùng lỗi lạc nhất
của một trong những cuộc khởi nghĩa lớn nhất của nô lệ”
- Tư tưởng XHCN thời kỳ này là: muốn xóa bỏ chế độ áp bức
bóc lột để trở lại thời kỳ xa xưa nguyên thủy, nó thi vị hóa thời đại
nguyên thủy
- Những hình thức biểu hiện: Thông qua những câu chuyện dân
gian, thần thoại và sau đó thể hiện trong giáo lí của đạo Cơ Đốc
Như vậy: Trong xã hội cổ đại người ta chưa thể có những điều
kiện và khả năng vươn tới một tương lai tốt đẹp theo mơ ước chủ quan
của mình và cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra triền miên giữa giai cấp
chủ nô và giai cấp nô lệ được kết thúc bằng sự tiêu vong của cả hai giai
cấp ấy.
2.Tư tưởng XHCN từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIII
a. Điều kiện kinh tế xã hội và hoàn cảnh lịch sử:
Từ khoảng thế kỷ XV – thế kỷ XVIII, nhân loại có những bước
tiến dài trong đời sống kinh tế - xã hội. Các công trường thủ công có
tính chất chuyên môn hóa dần dần hình thành thay thế cho tính chất
theo kiểu phường hội. Sự phân hóa giai cấp diễn ra mạnh mẽ hơn và
kèm theo đó là sự xung đột giai cấp cũng diễn ra mạnh mẽ hơn, quyết
liệt hơn.
Th.sĩ Nguyễn Thị Thu Hà
4
- Điều kiện kinh tế: Các công trường thủ công hình thành đã thay
thế cho tính chất hợp tác theo kiểu phường hội, sự phát triển của nền
công nghiệp lớn, sự mở mang thuộc địa, thị trường TBCN
- Điều kiện xã hội: Giai cấp tư sản và vô sản được hình thành và
phát triển nhanh, giai cấp tư sản từng bước thiết lập địa vị thống trị,
CNTB dần dần thay thế chế độ phong kiến ở phần lớn các nước Châu
Âu và Bắc Mỹ.

ông cho rằng: nguyên nhân sâu xa của mọi tệ nạ xã hội, của áp bức
và bất công trong lòng xã hội tư bản là chế độ tư hữu.
Điều đó biểu hiện:
+ Ông tả một cách tài tình tình trạng phân hóa giàu nghèo,
những áp bức bất công trong XHTB ngay khi mới hình thành .
+ Phân tích một cách sâu sắc sự khốn cùng của người nông dân
do quá trình tích lũy tư bản nguyên thủy mang lại
Từ tư tưởng cơ bản đó mà ông có quan niệm đống góp vào tư
tưởng XHCN là : Muốn xóa bỏ bất công, áp bức, xóa bỏ tình trạng
phân hóa giàu nghèo, cần xóa bỏ chế độ tư hữu.
Như vậy: với những tư tưởng cơ bản này ông đã được xếp
vào một trong các nhà tư tưởng công sản vĩ đại nhất thế kỷ XVI.
* Tômađô Campanenla : ( 1568 – 1639).
- Nước Italia cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII:
+ Về kinh tế: Sau một thời kì phồn thịnh vào loại bậc nhất nhất Châu
Âu, đến cuối thế kỉ XVI nền kinh tế Italia tụt lại phía sau và trở lên lạc
hậu, hoạt động thương mại xa sút, những người thị dân rút tiền ra cho
vay lấy lãi và về nông thôn mua đất và trở thành chủ đất, Thực chất
của nền kinh tế kém phát triển là do ảnh hưởng của phát kiến địa lí.
+ Về chính trị: Italia là một đất nước bị chia cắt, là mảnh đất cho sự
rằng xé của các thế lực phong kiến Châu Âu như Pháp, Đức, Tây Ban
Nha, Áo … Những cuộc phát kiến làm cho đất nước tàn phá, nhân dân
đói khổ vào bậc nhất Châu Âu lúc bấy giờ.
+ Về văn hóa: Italia lúc bấy giờ là quê hương của văn hóa phục hưng,
mặc dù sống trong những năm đầy rẫy những biến động nhưng nhờ
tiếp thu những thành tựu văn hóa tinh thần, văn hóa phục hưng nên các
nhà bác học Ý đã đạt được những thành tựu rực rỡ. Họ kết hợp tinh
thần chống phong kiến + giáo hội với phẩm chất cao quý của mình, các
nhà bác học Ý đã trở thành những con người tiêu biểu của thời đại như
Brunô, Galilê, Lêona, Tô ma đô Campanenla, là nhà văn nhà triết học,

hiểm và lạc vào một hòn đảo nhỏ, ở đó có một xã hội, một cộng đồng
người sống với nhau rất lí tưởng mà chưa ở đâu, có anh ta gọi đó là
thành phố mặt trời và có thể kể lại cho tác giả nghe.
Thông qua sự mô tả các mặt của đời sống xã hội của một xã hội ở
thành phố mặt trời, người đọc có thể so sánh với đầy rẫy bất công trong
xã hội đương thời ở Ý, đó là thói đạo đức giả, sự rối trá nhưng ở Thành
phố mặt trời thì không có.
+ Về sở hữu: xh Thành phố mặt trời lấy chế độ công hữu về TLSX
làm cơ sở
+ Về tổ chức quản lý sản xuất: trong xã hội đó thực hiện nguyên tắc
chung đó là tất cả mọi người đều lao động
Th.sĩ Nguyễn Thị Thu Hà
7
+ Ông coi trọng áp dụng khoa học kỹ thuật nhằm giảm nhẹ cường độ
lao động của con người. Vì vầy mà người dân ở đây chỉ lao động 4
h/ngày . thời gian còn lại để nghiên cứu khoa học, để nghỉ ngơi, để
vui chơi giải trí, phát triển trí tuệ.
+ Hình thức lao động: đó là lao động tập thể trong các công xã
+ Về phân phối: Ông chủ trương phân phối một cách bình quân theo
nhu cầu
Ở lĩnh vực này đậm nét tính chất không tưởng, xuất phát từ chỗ ông
cho rằng tất cả của cải đều là của chung, do đó phân phối do một người
phụ trách, phân phối đừng để ai quá giàu và đừng để ai quá nghèo, họ
chỉ nhận được những gì họ cần, những nhu cầu đều được lấy từ kho
chung vì thế sẽ có không ai quá giàu vì ở đây không có gì là của riêng
và không ai quá nghèo vì thứ họ cần đều được xã hội đáp ứng . Theo
ông nếu để cho giàu quá hoặc nghèo quá thì sinh ra tội lỗi . Nếu giàu
quá sinh ra kiêu căng, nếu nghèo quá dẫn đến tội lỗi . Thực chất quan
điểm phân phối của ông là chủ nghĩa bình quân.
+ Về xã hội: xh ở Thành phố mặt trời là một xã hội bình đẳng,

hòa của giai cấp tư sản nó không thực sự đem lại sự cải thiện đời sống
nhân dân.
Trái lại chiến tranh và nội chiến là cho người nông dân và thợ thủ
công lâm vào tình trạng đói khổ, họ bị bần cùng hóa từ đó nảy sinh1
phái “Đào đất” do Uynxtenli lãnh đạo
Công cụ duy nhất của họ là có cái mai. Phái này chủ trương khôi
phục chế độ công hữu về đất đai, không dùng bạo lực xâm phạm của ai
mà chỉ cấy cày trên đất hoang, theo họ nếu tất cả người nghèo đều làm
như thế thì sâu này tất cả mọi người có ruộng đất cũng sẽ bỏ quyền tư
hữu đất đai của mình Điều này phản ánh tâm trạng của người nông dân
đang bị phá sản.
- Tiểu sử:
Uynxtenli sinh 1609 trong một gia đình làm nghề kinh doanh tơ lụa,
lúc nhỏ không được học hành đầy đủ, ông chủ yếu tự học. Ông có
tham gia vào công ty buôn bán quần áo ở Luân Đôn nhưng do chiến
tranh và nội chiến đã làm cho nền kinh tế Anh suy thoái . Ông trở về
nông thôn lãnh đạo phái đào đất, ông viết nhiều tác phẩm để tuyên
truyền cho nhân dân lao động, nó có ý nghĩa như chương trình hành
động của phái đào đất.
Một số tác phẩm như: “ Luật công bằng” (1649); “ Ngọn cờ do những
người chủ trương bình đẳng chân chính đứng lên”; “ Món quà năm mới
gửi nghị viện và quân đội”
Th.sĩ Nguyễn Thị Thu Hà
9
Trong các tác phẩm của mình, Uynxtenli đã luận chứng cho các yêu
sách của phái “đào đất” mà ông là một lãnh tụ của phong trào này.
- Tư tưởng toát lên từ những yêu sách đó là bình đẳng, bình đẳng về
mọi phương diện, cả trong kinh tế - xã hội, cả trong chính trị
- Tác phẩm tiêu biểu chất là “ Luật tự do” đây có thể coi là cương
lĩnh cải tạo triệt để bằng cách thủ tiêu chế độ tư hữu về ruộng đất,

-Tác phẩm tiêu biểu của ông là cuốn luận văn “Những di chúc của
tôi”
Trong tác phẩm này nổi lên 2 nội dung quan trọng có tính chất XHCN:
+ Thứ nhất là, Theo G. Mêliê, nguyên nhân của bất bình đẳng không
phải tự nhiên có, mà do chính con người tạo ra và có thể bị xóa bỏ.
+ Thứ hai là, khác với nhiều nhà tư tưởng đương thời, ông cho rằng,
người nông dân có thể tự giải phóng thông qua con đường đấu tranh
cách mạng, lật đổ ngai vang của chế độ phong kiến.
* Grắccơ Ba Bớp: (1760 – 1797).
- Cuộc cách mạng tư sản pháp 1789 đưa các bộ phận tư sản khác nhau
lên cầm quyền, nền chuyên chính Gia Cô Banh đã được thành lập.
Trong xã hội đã diễn ra một sự phân bố lực lượng mạnh mẽ. Nhiều
nhà tư tưởng tiểu tư sản trước đây có khuynh hướng XHCN nay
chuyển sang tham gia vào cuộc cách mạng lật đổ chế độ phong kiến.
Giai cấp vô sản đã xuất hiện thành một lực lượng và bắt đầu có nhu
cầu tách khỏi quần chúng nghèo khổ mà từ đó đã sinh ra. Đại biểu sâu
sắc và lãnh tụ của lực lượng chính trị mới này là G. Ba Bớp.
- Tiểu sử: xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, tên thật là
Frăng xoa Bten. Đầu 1790 khi cách mạng nổ ra ông lên Pari. Ông theo
sát cuộc cách mạng và vì ngưỡng mộ hai anh em cải cách thời cổ đại
La mã nên ông đổi tên là G.Ba Bớp. Ông tham gia tiến trình cách mạng
của những bộ phận tư sản nên ông bị bắt tù đày, vợ con ông phải sống
trong cảnh bất hợp pháp.
Sau cuộc chính biến ngày mồng 9 tháng nóng ông được trả tự do nên
cuối năm 1795 ông đã tổ chức một hội – Câu lạc bộ Păng – Tê – Ông
nó bao gồm những phần tử cách mạng, cách mạng không tán thành và
không thỏa mãn với những chính sách của giai cấp tư sản và tiểu tư
sản. Tổ chức đó tuyên truyền cho cách mạng mới
- Những tư tưởng của ông:
+ Ba bớp và những người đồng quan điểm đã đứng lên tuyên truyền,


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status