BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ TRANG
PHÂN TÍCH
DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG TẠI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THANH
HÓA NĂM 2014
LUẬN VĂN DƢỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI - 2015
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ TRANG
PHÂN TÍCH
DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG TẠI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THANH
HÓA NĂM 2014
LUẬN VĂN DƢỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ : CK 60 72 04 12
Người hướng dẫn khoa học:TS.Vũ Thị Thu Hƣơng
HÀ NỘI - 2015
1.1.3. Nguồn kinh phí của Bệnh viện................................................................ 6
1.1.4. Danh mục thuốc thiết yếu ....................................................................... 6
1.1.5.Danh mục thuốc chủ yếu .......................................................................... 7
1.1.6.Trình độ chuyên môn, kỹ thuật ................................................................ 8
1.1.7. Hội đồng thuốc và điều trị....................................................................... 8
1.1.8. Xây dựng Danh mục thuốc Bệnh viện .................................................. 10
1.2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TẠI VIỆT NAM ..................... 11
1.2.1.Cơ cấu và giá trị tiền thuốc sử dụng ...................................................... 11
1.2.2.Về phân tích ABC/VEN tại một số bệnh viện ở Việt Nam ................... 16
1.3. VÀI NÉT VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THANH HÓA ......... 19
1.3.1. Tổng quan về Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa: ............................. 19
1.3.2. Vài nét về khoa Dược tại bệnh viện ...................................................... 21
CHƢƠNG 2.................................................................................................... 23
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................ 23
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu............................................................................ 23
2.2.Thời gian và địa điểm nghiên cứu ......................................................... 23
2.3. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 23
2.3.1.Thiết kế ngiên cứu .................................................................................. 23
2.3.2.Phương pháp thu thập số liệu ................................................................ 23
b) Các biến số nghiên cứu ............................................................................... 23
2.2.4. Trình bày số liệu.................................................................................... 27
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 28
3.1. PHÂN TÍCH CƠ CẤU DMT SỬ DỤNG TẠI BVĐKTH ................. 28
3.1.1. Cơ cấu theo tác dụng dược lý................................................................ 28
3.1.2. Cơ cấu thuốc theo phân loại tân dược- thuốc có nguồn gốc từ dược
liệu
31
ĐA KHOA TỈNH THANH HÓA NĂM 2014 THEO PHƢƠNG
PHÁP PHÂN TÍCH ABC/VEN .............................................................. 57
4.2.1.Phân tích ABC/VEN và các thuốc nhóm A ........................................... 57
4.2.2.Hạn chế của nghiên cứu: ........................................................................ 59
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT .......................................................................... 60
5.1.KẾT LUẬN .............................................................................................. 60
5.1.1.Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng năm 2014 tại BVĐK Thanh Hóa....... 60
5.1.2. Phân tích danh mục thuốc BVĐKTH theo phân tích ABC/VEN ......... 61
5.2.Ý KIẾN ĐỀ XUẤT VỚI HỘI ĐỒNG THUỐC VÀ ĐIỀU TRỊ
BVĐKTH .................................................................................................. 61
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
ADR
Tiếng Anh
Adverse Drug Reaction
BVĐKTH
Tiếng Việt
Phản ứng có hại của thuốc
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa
DMT
Danh mục thuốc
DMTBV
MHBT
Mô hình bệnh tật
NCDs
SGTs
Noncommunicable
diseases
Standard Treatment
Guidelines
Bệnh không lây nhiễm
Hướng dẫn điều trị chuẩn
TGN
Thuốc gây nghiện
VNĐ
Việt Nam đồng
VEN
BHYT
V: Vital drugs
E: Essential drugs
Bảng 3.3. Cơ cấu thuốc theo phân loại tân dược- thuốc có nguồn gốc
từ dược liệu
31
Bảng 3.4. Cơ cấu thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu từ nước
khác
32
Bảng 3.5. Nguồn gốc của các thuốc nhập khẩu
32
Bảng 3.6. Cơ cấu thuốc đơn, đa thành phần
34
Bảng 3.7. Cơ cấu thuốc theo tên biệt dược và tên Generic
Bảng 3.8. Cơ cấu thuốc mang tên thương mại theo nhóm tác dụng
dược lý
Bảng 3.9 Cơ cấu thuốc theo đường dùng
Bảng 3.10. Cơ cấu thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần và tiền
chất
Bảng 3.11. Cơ cấu thuốc cần hội chẩn (trang bên)
Bảng 3.12. Cơ cấu nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm
khuẩn
Bảng 3.13. Kết quả phân tích ABC
35
Bệnh viện là nơi khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người
bệnh. Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh
là hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện. Trong nền kinh tế thị trường
như hiện nay, thị trường thuốc phát triển liên tục với sự đa dạng về chủng
loại, nhà cung cấp. Theo số liệu của Cục Quản lý dược, tính đến
31/12/2010 có đến 25.497 số đăng ký thuốc còn hiệu lực, trong đó có
12.244 số đăng ký thuốc sản xuất trong nước với 516 hoạt chất và 13.253
số đăng ký thuốc nước ngoài với 947 hoạt chất [19]. Điều này đã góp phần
đảm bảo cung ứng đủ thuốc có chất lượng và giá cả tương đối ổn định, cơ
bản đã đáp ứng được nhu cầu phục vụ thuốc cho người dân và các cơ sở
khám chữa bệnh. Tuy nhiên, nó cũng tác động không nhỏ tới hoạt động sử
dụng thuốc trong bệnh viện, dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh cũng
như tình trạng lạm dụng thuốc. Sự cạnh tranh giữa thuốc sản xuất trong
nước với thuốc nhập khẩu, giữa các doanh nghiệp trong nước sản xuất một
loại thuốc có cùng tác dụng dược lý hoặc cùng một dạng thuốc với nhau
dẫn tới khó khăn cho các cán bộ y tế trong việc lựa chọn thuốc sử dụng
trong bệnh viện. Bên cạnh đó, còn rất nhiều bất cập trong sử dụng thuốc tại
các Bệnh viện như: các thuốc không thiết yếu (không thực sự cần thiết)
được sử dụng với tỷ lệ cao, lạm dụng kháng sinh, vitamin...[18] Sử dụng
thuốc không hợp lý không chỉ ảnh hưởng tới công tác chăm sóc, khám chữa
bệnh mà còn là nguyên nhân làm tăng chi phí đáng kể cho người bệnh, tạo
ra gánh nặng cho nền kinh tế, xã hội. Do đó, việc lựa chọn thuốc là công
việc rất quan trọng, với nhiệm vụ xác định nhu cầu về số lượng, chủng loại
thuốc làm cơ sở để đảm bảo tính chủ động trong cung ứng cũng như tính
hiệu quả, an toàn, tiết kiệm và sử dụng hợp lý nguồn ngân sách trong quá
trình điều trị.
Ở Thanh Hóa cũng như nhiều tỉnh thành khác tại Việt Nam, việc sử
dụng thuốc cho sao cho an toàn, hợp lý, tiết kiệm là một trong những nội
dung quan trọng trong quản lý. Thanh Hóa là một trong những tỉnh có diện
1
Hiện nay, có đến 70% dược phẩm trên thị trường thế giới là bắt
chước hoặc không thiết yếu. Nhiều thuốc là biến thể nhỏ của một loại thuốc
thử nghiệm và không có lợi thế điều trị hơn các thuốc đó đã có sẵn. Nhiều
loại thuốc cho thấy độc tính cao so với lợi ích điều trị của nó. Nhiều sản
phẩm mới có chỉ định điều trị không liên quan đến các nhu cầu cơ bản của
người dân, chúng gần như luôn luôn đắt hơn các loại thuốc hiện có.Việc
lựa chọn thuốc cho phép cán bộ và nhân viên y tế có thể giải quyết vấn đề
này, và một số vấn đề khác còn tồn tại trong hầu hết các hệ thống dược
phẩm [22].
Sự lựa chọn thuốc sử dụng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mô hình
bệnh tật, phác đồ điều trị, DMT chủ yếu,… được trình bày trong hình 1.1
(trang bên).
1.1.1. Mô hình bệnh tật
Mô hình bệnh tật là số liệu thống kê về bệnh tật trong khoảng thời
gian nhất định (thường theo từng năm) về số bệnh nhân đến khám và điều
trị. Để nghiên cứu mô hình bệnh tật được thống nhất, thuận lợi và chính
3
*Quy trình lựa chọn thuốc và xây dựng DMT sử dụng tại BV
Khoa Dược
xây dựng
dự thảo
DMT của
bệnh viện
và hướng
dẫn thực
hành
DMTBV
7.Trình độ khám
chữa bệnh (KCB)
của bệnh viện.
8.Thông tin về
thuốc và các văn
bản pháp quy khác.
Danh mục thuốc đấu thầu
Danh mục thuốc sử dụngtheo tên
biệt dược
Hình 1.1. Quy trình lựa chọn thuốc và xây dựng DMT sử dụng
trong bệnh viện [35]
4
xác, Tổ chức y tế thế giới đã ban hành phân loại Quốc tế về Bệnh tật ICD
(International Classification of Diseases) Bảng phân loại này đã được bổ
sung và sửa đổi 10 lần. Bảng phân loại quốc tế bệnh tật ICD lần thứ 10
gồm 21 chương với 10.000 bệnh, mỗi chương có một hay nhiều nhóm
bệnh, mỗi nhóm bệnh có nhiều loại bệnh, mỗi loại bệnh có nhiều chi tiết
theo nguyên nhân gây bệnh hay tính chất đặc thù của bệnh đó [22].
Mô hình bệnh tật của bệnh viện là căn cứ quan trọng giúp bệnh viện
không chỉ xây dựng DMT phù hợp mà còn làm cơ sở để bệnh viện hoạch
định, phát triển toàn diện trong tương lai. Mỗi bệnh viện được xây dựng
trên địa bàn khác nhau, ứng với mỗi đặc trưng nhất định về cấu trúc dân cư,
địa lý, yếu tố môi trường, văn hóa, kinh tế xã hội cũng như sự phân công
chức năng nhiệm vụ theo tuyến. Từ đó dẫn đến mỗi mô hình bệnh tật của
mỗi bệnh viện đều khác nhau, chủ yếu được phân thành 2 loại là MHBT
nhận là an toàn và có hiệu lực [22]. Năm 1989 Danh mục thuốc tối cần và
chủ yếu được ban hành lần thứ II gồm 116 thuốc thiết yếu, cùng một danh
mục thuốc gồm 64 thuốc tối cần, trong đó tuyến xã có 58 thuốc thiết yếu và
27 thuốc tối cần [11]. Danh mục thuốc thiết yếu theo đúng thông lệ quốc tế
được ban hành lần thứ III năm 1995 gồm có 225 TTY phân theo trình độ
chuyên môn [12] Để phát triển sử dụng thuốc y học cổ truyền ngày
28/07/1999 Bộ Y tế đã ban hành danh mục thuốc thiết yếu lần thứ IV với
346 thuốc tân dược, 81 thuốc y học cổ truyền, 60 cây thuốc nam, 185 vị
thuốc nam, bắc [8].
Danh mục TTY Việt Nam lần thứ V được ban hành kèm theo Quyết
định số 17/2005/QĐ-BYT ngày 01/07/2005 của Bộ Y tế bao gồm 355 tên
thuốc của 314 hoạt chất tân dược, 94 chế phẩm y học cổ truyền, danh mục
thuốc nam và 215 danh mục vị thuốc, kèm theo bản hướng dẫn sử dụng
danh mục TTY Việt nam lần thứ V [32].
Ngày 26/12/2013 Bộ Y tế ban hành Thông tư 45/2013/TT-BYT ban
hành Danh mục thuốc thiết yếu tân dược lần thứ VI, bao gồm 29 nhóm
thuốc điều tri với 466 tên thuốc tân dược[7], bãi bỏ hiệu lực của Quyết định
số 17/2005/QĐ-BYT.
*Tiêu chí lựa chọn thuốc đưa vào Danh mục thuốc thiết yếu tân
dược
- Bảo đảm hiệu quả, an toàn cho người sử dụng;
6
- Sẵn có với số lượng đầy đủ, có dạng bào chế phù hợp với điều kiện
bảo quản, cung ứng và sử dụng;
- Phù hợp với mô hình bệnh tật, phương tiện kỹ thuật, trình độ của
thầy thuốc và nhân viên y tế trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
05/2008/QĐ-BYT và sau đó là Thông tư 31/2011/TT-BYT ngày
11/7/2011. Thông tư 31 bao gồm 900 thuốc (hay hoạt chất) tân dược, 57
thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu [3] Đây là cơ sở quan trọng để các
bệnh viện xây dựng danh mục thuốc sử dụng phù hợp với mô hình bệnh tật,
trình độ kỹ thuật cũng như khả năng tài chính của BV. Từ 01/01/2015
Danh mục thuốc chủ yếu được thay thế bởi Thông tư 40/TT-BYT ngày
27/11/2014, bao gồm 845 hoạt chất, 1064 thuốc tân dược, 57 thuốc phóng
xạ và hợp chất đánh đấu [5].
Danh mục thuốc chủ yếu được xây dựng trên cơ sở danh mục thuốc
thiết yếu của Việt Nam và WHO hiện hành với các mục tiêu:
- Đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả;
- Đáp ứng yêu cầu điều trị cho người bệnh;
- Đảm bảo quyền lợi về thuốc chữa bệnh cho người bệnh tham gia
BHYT;
- Phù hợp với khả năng kinh tế của người bệnh và khả năng chi trả
của quỹ BHYT.
Danh mục thuốc chủ yếu có vai trò rất quan trọng trong chu trình
quản lý thuốc trong bệnh viện.
1.1.6.Trình độ chuyên môn, kỹ thuật
Đây là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến khả năng lựa chọn, cũng như
hiệu quả của việc sử dụng thuốc. Thông tư 31/2011/TT-BYT do Bộ Y tế
ban hành và Thông tư 40/TT-BYT (thay thế Thông tư 31 bắt đầu có hiệu
lực từ 01/01/2015) cũng đã có quy định về phạm vi sử dụng thuốc trong
danh mục thuốc chủ yếu theo phân hạng bệnh viện (Bệnh viện hạng đặc
biệt, hạng I, hạng II, III, IV, các phòng khám đa khoa và các cơ sở y tế
khác) [3] [5].
1.1.7. Hội đồng thuốc và điều trị
*Chức năng:
Hội đồng thuốc và điều trị có chức năng tư vấn cho giám đốc bệnh
viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh
Hình 1.2. Chu trình quản lý thuốc
9
Mua sắm
1.1.8. Xây dựng Danh mục thuốc Bệnh viện
Căn cứ vào danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu và
các quy định về sử dụng danh mục thuốc do Bộ y tế ban hành, đồng thời
căn cứ vào mô hình bệnh tật và kinh phí của bệnh viện (ngân sách nhà
nước, thu một phần viện phí và bảo hiểm y tế) HĐT&ĐT có nhiệm vụ giúp
Giám đốc Bệnh viện lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc bệnh viện theo
nguyên tắc:
- Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng
điều trị trong bệnh viện;
- Phù hợp về phân tuyến chuyên môn;
- Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng
và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám chữa bệnh;
- Đáp ứng với các phương pháp mới, kĩ thuật mới trong điều trị;
- Phù hợp với phạm vi chuyên môn của Bệnh viện;
- Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, thuốc chủ yếu do Bộ y tế
ban hành;
- Ưu tiên dùng thuốc sản xuất trong nước [4]
* Các tiêu chí lựa chọn thuốc
-Thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, tính an toàn thông
qua kết quả thử nghiệm lâm sàng.
- Thuốc sẵn có ở dạng bào chế thích hợp bảo đảm sinh khả dụng, ổn
định về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng theo quy
định.
Theo các nghiên cứu trong những năm gần đây, giá trị tiền thuốc sử
dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số kinh phí bệnh viện.
Kết quả khảo sát tại Bệnh viện E năm 2009 cho thấy kinh phí mua
thuốc chiếm 50% chi tiêu thường xuyên của bệnh viện [37] Tại BV Hữu
Nghị năm 2004-2010 tổng tiền thuốc sử dụng chiếm tỷ lệ từ 29,4% (2010)
đến 41,2 %(2007) trong tồng kinh phí BV [31].
Các báo cáo của Bộ Y tế qua các năm cho thấy tiền mua thuốc cho
các BV tăng cả về số lượng và tỷ trọng so với tổng kinh phí các BV. Theo
báo cáo kết quả công tác KCB năm 2009-2010 của Cục Quản lý KCB11
BYT, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong BV chiếm tỷ trọng 47,9% (năm
2009) và 58,7% (2010) tổng giá trị tiền viện phí hằng năm trong BV [18]
[11].
*Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh và vitamin
Sử dụng kháng sinh luôn là vấn đề được quan tâm trong sử dụng
thuốc an toàn, hợp lý. Theo kết quả nghiên cứu của các BV kinh phí mua
thuốc kháng sinh luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng giá trị tiền thuốc
sử dụng. Kết quả khảo sát của Bộ Y tế cho thấy từ năm 2007-2009 kinh phí
mua thuốc kháng sinh chiếm tỷ lệ không đổi từ 32,3% đến 32,4% trong
tổng giá trị thuốc sử dụng [38].
Nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hương và cộng sự năm 2009 trên 38
bênh viện đa khoa (7 bệnh viện đa khoa tuyến trung ương và 14 bệnh viện
tuyến tỉnh, 17 bệnh viện huyện, quận) đại diện cho 6 vùng trên cả nước
cũng cho kết quả tương tự với tỷ lệ giá trị tiền thuốc kháng sinh ở 3 tuyến
BV trung bình là 32,5%, trong đó cao nhất là ở các BV tuyến huyện
(43,1%) và thấp nhất tại bệnh viện tuyến trung ương (25,7%) [36].
Cúng trong năm 2009, theo một thống kê của Bộ Y tế từ các báo cáo
về tình hình sử dụng của một số BV, tỷ lệ giá trị tiền thuốc kháng sinh
trung bình tại các BV chuyên khoa trung ương (21 bệnh viện) là 28%, tại
Arginin, Glutathion. Trong đó hoạt chất L-ornithin-L-aspartat nằm trong số
5 hoạt chất chiếm tỷ lệ lớn nhất về giá trị thanh toán[41]. Đồng thời hoạt
chất này cũng là một trong những hoạt chất chiếm giá trị nhập khẩu lớn
nhất thuộc nhóm tiêu hóa có xuất xứ từ Ấn Độ và Hàn Quốc năm 2008 [43]
Cũng theo kết quả nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hương và cộng sự
năm 2009, các nhóm thuốc tiêu hóa có giá trị sử dụng lớn tại tất cả các
bệnh viện.Trong đó các thuốc hỗ trợ điều trị bệnh gan mật,(L-ornithin-Laspartat, Arginin) chiếm tỷ lệ cao. Tại một bệnh viện đa khoa tuyến trung
13
ương, 3 thuốc chứa L-ornithin-L-aspartat 500mg dạng tiêm có giá trị sử
dụng là 21 tỷ, chiếm tỷ trọng 25,3% nhóm thuốc tiêu hóa. Ngoài ra tại các
BV trung ương và tuyến tỉnh , nhóm thuốc giải độc và dùng trong TH ngộ
độc cũng chiếm tỷ lệ cao về giá trị và phần lớn giá trị của các nhóm này tập
trung vào các thuốc có giá thành cao, hiệu quả không rõ ràng là Glutathion,
Alfoscerat [36].
Để khắc phục tình trạng chỉ định rộng rãi 5 loại thuốc : Glutathion
tiêm, Ginkgo Biloba uống, Glucosamin uống, Arginin uốngvà L-ornithin
L-aspartat tiêm, uống với tỷ lệ chi phí lớn tại nhiều cơ sở khám chữa bệnh
trong thanh toán BHYT, ngày 02/07/2012 BHXH Việt Nam đã có Công
văn số 2503/BHXH-DVT yêu cầu không thanh toán theo chế độ BHYT khi
sử dụng các thuốc nêu trên như thuốc bổ thông thường, chỉ thanh toán khi
thuốc được sử dụng phù hợp với các Công văn hướng dẫn có liên quan của
Cục Quản lý dược các chỉ định của thuốc đã được phê duyệt và tình trạng
bệnh nhân. Đối với các trường hợp bệnh có nhiều lựa chọn thuốc, cơ sở
KCB lựa chọn thuốc hợp lý, tránh sử dụng thuốc có giá thành cao, chi phí
điều trị lớn không cần thiết để đảm bảo hiệu quả sử dụng thuốc phù hợp với
khả năng chi trả của quỹ BHYT [25].
*Tình hình sử dụng thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu trong
DMT
mang tên biệt dược gốc chiếm 12,2% số lượng và 9,96% giá trị sử dụng.
Trong khi đó số thuốc mang tên thương mại chiếm 90,04% giá trị sử dụng
[46] Sử dụng các thuốc mang tên gốc (generic) được xem là một trong
những cách làm giảm chi phí điều trị và đây cũng là một trong những tiêu
chí Bộ Y tế đưa ra trong việc lựa chọn thuốc sử dụng tại bệnh viện.
*Tình hình sử dụng thuốc ngoài DMT Bệnh viện
15
Nghiên cứu trong năm 2012, tại bệnh viện Phụ sản Trung ương có 2
thuốc sử dụng ngoài DMTBV là Colimycin 1M.U.I và Luveris; có 24
trêntổng số 174 hoạt chất của DMT không được sử dụng trên thực tế; bệnh
viện phụ sản Hà Nội có 5 thuốc sử dụng ngoài DMT bệnh viện;bệnh viện
đa khoa Đông Anh có 4% thuốc sử dụng không nằm trong DMTBV [30]
[40] [47].
1.2.2.Về phân tích ABC/VEN tại một số bệnh viện ở Việt Nam
Trong nghiên cứu sử dụng thuốc, các dữ liệu tổng hợp sử dụng thuốc
có thể được phân tích theo 4 phương pháp chính: bao gồm: Phân tích ABC,
phân tích nhóm điều trị, phân tích sống còn, thiết yếu và không thiết yếu
(VEN) và phương pháp phân tích theo liều xác định trong ngày (DDD). Tất
cả cá phương pháp này đều là công cụ hữu ích giúp HĐT&ĐT quản lý
danh mục và phát hiện được các vấn đề trong sử dụng thuốc bất hợp lý.
Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa số lượng
thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định những thuốc nào chiếm
tỷ trọng lớn trong ngân sách. Phân tích ABC là một công cụ cho việc lựa
chọn, mua và phân phối, quản lý và thúc đẩy sử dụng hợp lý, cho phép để
có được bức tranh chính xác và khách quan về chi ngân sách cho thuốc.
Phân tích ABC có thể:
- Cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với số lượng lớn mà
21/2013/TT-BYT ban hành ngày 08/08/2013 của Bộ Y tế là một trong
những phương pháp phân tích để phát hiện vấn đề về sử dụng thuốc và là
bước đầu tiên trong quy trìnhxây dựng DMTBV. Vũ Thị Thu Hương sử
dụng phương pháp ABC là một trong các tiêu chí đánh giá hoạt động của
HĐTVĐT trong xây dựng và thực hiện DMT tại một số bệnh viện đa khoa
và nhận thấy các bệnh viện đã mua sắm tương đối tập trung vào các thuốc
được sử dụng nhiều nhất trong điều trị (sử dụng 70% tổng kinh phí để mua
17