BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
*** PHẠM THỊ LAN HẠNH PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC
SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN SẢN - NHI
TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2012
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I HÀ NỘI 2014
BỘ Y TẾ
LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành khóa luận tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lời
cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo, gia đình, bạn bè và những người
đã giúp đỡ, ủng hộ tôi trong thời gian qua.
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới
TS. Nguyễn Thị Thanh Hương – người thầy kính mến đã tận tình chỉ bảo tôi
trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài. Cảm ơn cô vì ngoài những kiến
thức chuyên môn tôi còn được dạy phương pháp làm việc hiệu quả, khoa học,
trung thực.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô trong bộ môn Quản lý
và Kinh tế dược đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc và khoa Dược
bệnh viện Sản Nhi tỉnh Vĩnh Phúc - nơi tôi công tác đã tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi được học tập nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn và hoàn thành luận
văn này.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người bạn bè trong lớp CKI
khóa 14 và các bạn bè thân thiết đã cùng chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống
và dành cho tôi những tình cảm, sự động viên khích lệ trong suốt thời gian qua
Hà Nội, ngày 19 tháng 09 năm 2014
Phạm Thị Lan Hạnh
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
ADR
Adverse Drug Reaetion
Phản ứng có hại của thuốc
BYT
Bộ y tế
Hội đồng thuốc và điều trị
ICD - 10
International Classification
Diseases
Phân loại quốc tế bệnh tật
KCB
Khám chữa bệnh
KHKT
Khoa học kỹ thuật
MHBT
Mô hình bệnh tật
UBND
Ủy ban nhân dân
WHO
World Health Organization
Tổ chức y tế thế giới
DANH MỤC BẢNG
Bảng
Tên bảng
Trang
1.1
Hoạt động khám chữa bệnh tại bệnh viện năm 2012
2012
40
3.10
Danh sách 10 thuốc có giá trị sử dụng cao nhất năm 2012
41
3.11
Nguồn gốc xuất xứ các thuốc nhóm A
42
3.12
Số lượng thuốc thuộc danh mục thuốc chủ yếu ban hành tại
TT 31 năm 2011
43
3.13
Cơ cấu nguồn kinh phí của Bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc
43
3.14
Kinh phí sử dụng mua thuốc Bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc
năm 2012
44 DANH MỤC HÌNH
Hình
Tên hình
Trang
1.1
Các yếu tố để xây dựng danh mục thuốc bệnh viện
40
3.7
Cơ cấu nguồn kinh phí của Bệnh viện Sản Nhi Vĩnh
Phúc
44
Mục Lục
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 3
TỔNG QUAN 3
1.1. Hoạt động lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc bệnh viện. 3
1.1.1. Mô hình bệnh tật chung tại bệnh viện 4
1.1.2. Hướng dẫn điều trị chuẩn ( STG) 5
1.1.3. Danh mục thuốc thiết yếu ở Việt Nam. 6
1.1.4. Danh mục thuốc chủ yếu. 7
1.1.5. Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) 8
1.1.6. Danh mục thuốc bệnh viện 10
1.2. Tình hình chung về thực trạng danh mục thuốc trong các bệnh viện
nước ta hiện nay 13
1.3. Bệnh viện Sản - Nhi Vĩnh Phúc 17
1.3.1. Lịch sử hình thành. 17
1.3.2. Chức năng nhiệm vụ 18
1.3.3. Mô hình tổ chức của bệnh viện. 19
1.3.4. Mô hình bệnh tật bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc năm 2012 20
1.3.5. Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc 23
Chương 2 25
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1. Đối tượng nghiên cứu 25
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
2.3. Phương pháp nghiên cứu 25
4.2. Cơ cấu DMT và tính phù hợp của DMT đã sử dụng năm 2012 tại
bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc 49
4.2.1. Cơ cấu DMT theo nhóm tác dụng dược lý. 49
4.2.2. Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo nguồn gốc, xuất xứ 49
4.2.3. Cơ cấu danh mục thuốc theo phân loại ABC 51
4.2.3. Tính phù hợp danh mục thuốc sử dụng với nguồn ngân sách bệnh
viện 52
KẾT LUẬN 54
KIẾN NGHỊ 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt, có thể cứu mạng sống của con người
và góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống nhưng chi phí cho thuốc cũng khá
đắt. Ở nhiều quốc gia, chi phí cho thuốc chiếm tỷ lệ ngân sách y tế rất lớn (30-
40%) [19]. Tại Việt Nam, tiền thuốc bình quân đầu người/ năm đã tăng từ 7,6
USD năm 2003, năm 2008 là 16,45 USD đến năm 2012 là 22,5 USD và năm
2013 là 29,7 USD [6],[7].
Trong bối cảnh nước ta đang bước vào nền kinh tế thị trường và tham gia
hội nhập tổ chức thương mại quốc tế, thị trường thuốc phát triển liên tục với sự
đa dạng và phong phú về chủng loại cũng như nguồn cung cấp, tình trạng thiếu
thuốc phục vụ cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân đã được khắc phục. Tuy
nhiên, do sự mất cân đối về nhóm dược lý với thuốc sản xuất trong nước, sản
xuất chủ yếu các nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn, ký sinh trùng (19,4%);
vitamin và khoáng chất (11,8%); hạ nhiệt giảm đau chống viêm (10,4)%; thuốc
tác dụng trên dạ dày, ruột (4,2%); đối với những thuốc điều trị chuyên khoa tim
mạch, ung thư, thuốc nội tiết ít được sản xuất dẫn đến các doanh nghiệp đạp giá
nhau trên thị trường. Bên cạnh đó, hầu hết các doanh nghiệp chủ yếu nhập khẩu
cho người bệnh tại bệnh viện, đề tài “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại
bệnh viện Sản – Nhi tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012’’ được thực hiện với các mục
tiêu như sau:
1. Mô tả hoạt động xây dựng danh mục thuốc của Hội đồng thuốc và điều
trị tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012.
2. Phân tích cơ cấu và đánh giá tính phù hợp của Danh mục thuốc đã sử
dụng năm 2012 tại BV Sản Nhi.
3
Chương I.
TỔNG QUAN
1.1. Hoạt động lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc bệnh viện.
Lựa chọn thuốc là việc xác định chủng loại và số lượng thuốc để cung
ứng. Trong bệnh viện, chủng loại thuốc được thể hiện qua DMT bệnh viện lựa
chọn và xây dụng danh mục thuốc của bệnh viện là công việc đầu tiên của qui
trình cung ứng thuốc. DMT là cơ sở để đảm bảo cho việc cung ứng chủ động, có
kế hoạch hợp lý, an toàn, hiệu quả và có tác động trực tiếp đến kết quả điều trị
với người bệnh [4]. Mỗi bệnh viện tùy theo chức năng nhiệm vụ, cơ sở vật chất,
trình độ chuyên môn… mà xây dựng DMT cho phù hợp.
Các yếu tố liên quan đến hoạt động lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc
được khái quát theo sơ đồ sau:
Hình 1.1. Các yếu tố để xây dựng danh mục thuốc bệnh viện [4].
Trình độ chuyên môn,
kỹ thuật, kinh phí…
Khả năng chi trả của
người bệnh; quỹ bảo
Hình 1.2. Mô hình bệnh tật của hệ thống bệnh viện
Mô hình bệnh tật
bệnh viện
Mô hình bệnh tật bệnh
viện chuyên khoa
(gồm chủ yếu các bệnh chuyên
khoa chính của bệnh viện)
Mô hình bệnh tật
bệnh viện đa khoa
(gồm các bệnh thông thường
và bệnh chuyên khoa)
5
1.1.2. Hướng dẫn điều trị chuẩn ( STG)
“ STG ( phác đồ điều trị) là văn bản chuyên môn mang tính pháp lý, được
đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn, được sử dụng như một khuôn mẫu trong điều
trị mỗi bệnh. Một phác đồ điều trị có thể một hoặc nhiều công thức điều trị
khác nhau”
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), các tiêu chí của một phác đồ điều trị
chuẩn phải đảm bảo:
Hợp lý: phối hợp đúng thuốc, đúng chủng loại, thuốc còn hạn sử
dụng.
An toàn: không gây tai biến, không làm cho bệnh nhân bệnh nặng
thêm, không có tương tác thuốc.
Hiệu quả: dễ dùng, khỏi bệnh hoặc không để lại hậu quả xấu và đạt
mục đích sử dụng thuốc trong thời gian nhất định.
Kinh tế: chi phí điều trị thấp nhất.
Nếu chỉ đơn thuần tuân thủ theo danh mục thuốc sẽ không cải thiện chất
lượng điều trị nếu như việc lựa chọn thuốc không dựa trên phác đồ điều trị. Thật
lý tưởng nếu như danh mục thuốc được xây dựng dựa trên cơ sở các hướng dẫn
và cung ứng thuốc
Cải thiện sử dụng và
khả năng cung ứng
Danh mục bệnh thường gặp
7
chữa bệnh nhằm tạo điều kiện có đủ thuốc trong danh mục TTY [4]. Cơ quan
quản lý nhà nước xây dựng chủ trương, chính sách trong việc tạo điều kiện cấp
số đăng ký lưu hành thuốc, xuất nhập khẩu thuốc. Các đơn vị ngành y tế tập
trung các hoạt động của mình trong các khâu: xuất khẩu, nhập khẩu, sản xuất,
phân phối, tồn trữ, sử dụng TTY, an toàn hợp lý phục vụ công tác chăm sóc
sức khoẻ nhân dân. Các cơ sở kinh doanh thuốc của nhà nước và tư nhân phải
đảm bảo danh mục TTY với giá thích hợp, hướng dẫn sử dụng an toàn, hợp lý,
hiệu quả.
Danh mục TTY là cơ sở để xây dựng DMT chủ yếu tại các cơ sở khám,
chữa bệnh.
1.1.4. Danh mục thuốc chủ yếu.
Danh mục thuốc chủ yếu được xây dựng trên cơ sở danh mục thuốc thiết
yếu Việt Nam và WHO hiện hành với các mục tiêu sau [4],[20]:
- Đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả;
- Đáp ứng yêu cầu điều trị cho người bệnh;
- Đảm bảo quyền lợi về thuốc chữa bệnh cho người bệnh tham gia bảo
hiểm y tế;
- Phù hợp với khả năng kinh tế của người bệnh và khả năng chi trả của
quỹ bảo hiểm y tế.
Bộ Y tế ban hành DMTCY để các cơ sở khám chữa bệnh lựa chọn thuốc
sử dụng phù hợp với mô hình bệnh tật, khả năng chuyên môn của đơn vị, làm cơ
sở cho BHYT thanh quyết toán chi phí điều trị cho bệnh nhân. Từ DMTCY ban
hành theo quyết định 03/2005 QĐ-BYT được bổ sung sửa đổi theo quyết định
05/QĐ-BYT, cho đến nay danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu đang được áp
điều trị và giá thành bao gồm: một danh mục thuốc và cẩm nang hướng dẫn
danh mục thuốc
Đảm bảo sử dụng những thuốc thoả mãn các tiêu chí về hiệu quả điều trị,
độ an toàn, hiệu quả - chi phí và chất lượng
9
Đảm bảo an toàn thuốc thông qua công tác theo dõi, đánh giá và trên cơ
sở đó ngăn ngừa các phản ứng có hại (ADR) và sai sót trong điều trị
Xây dựng và thực hiện những can thiệp để nâng cao thực hành sử dụng
thuốc của các thầy thuốc kê đơn, dược sĩ cấp phát và người bệnh (điều tra, giám
sát sử dụng thuốc)
1.1.5.2. Chức năng của Hội đồng thuốc và điều trị
HĐT&ĐT có rất nhiều chức năng và các thành viên phải quyết định lựa
chọn ưu tiên cho từng chức năng cụ thể. Những chức năng chính của HĐT&ĐT
như sau:
- Tư vấn cho bác sĩ, dược sĩ và các nhà quản lý
- Xây dựng các chính sách thuốc: tiêu chí đưa thuốc vào trong danh mục
thuốc; phác đồ điều trị chuẩn làm cơ sở cho việc xây dựng danh mục thuốc; quy
định sử dụng các thuốc không nằm trong danh mục, các thuốc đắt tiền hoặc
nguy hiểm …
- Đánh giá và lựa chọn thuốc cho danh mục thuốc bệnh viện
- Xây dựng hướng dẫn điều trị chuẩn
- Phân tích sử dụng thuốc, nhận định các vấn đề
- Tiến hành các biện pháp can thiệp hiệu quả để nâng cao thực hành sử
dụng thuốc
- Xử trí các phản ứng có hại của thuốc (ADR)
- Xử trí các sai sót trong điều trị
- Phổ biến thông tin.
Trong các chức năng trên chức năng quan trọng nhất của HĐT&ĐT chính
là đánh giá, lựa chọn thuốc để xây dựng danh mục thuốc bệnh viện.
tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP).
Căn cứ vào danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu và các qui
định về sử dụng danh mục thuốc do Bộ Y tế ban hành, đồng thời căn cứ vào mô
hình bệnh tật và kinh phí của bệnh viện (ngân sách nhà nước, thu một phần viện
phí và bảo hiểm y tế) HĐT&ĐT của bệnh viện có chức năng tư vấn cho giám
đốc bệnh viện các vấn đề liên quan đến thuốc, lựa chọn, xây dựng danh mục
thuốc bệnh viện, điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách
quốc gia về thuốc trong bệnh viện.
Danh mục thuốc bệnh viện (DMTBV) là danh mục những loại thuốc cần
thiết thỏa mãn nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh và thực hiện y học dự phòng của
bệnh viện phù hợp với MHBT, kỹ thuật điều trị và bảo quản, khả năng tài chính
của từng bệnh viện và khả năng chi trả của người bệnh. Những loại thuốc này
trong phạm vi thời gian, không gian, trình độ xã hội, khoa học kỹ thuật luôn sẵn
có bất cứ lúc nào với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp,
giá cả hợp lý.
Danh mục thuốc bệnh viện (DMTBV) cần đạt các mục đích sau:
- Để đảm bảo hiệu lực, an toàn và yêu cầu khác trong điều trị, yêu cầu
đa số thuốc trong DMTBV là TTY.
- Hướng cộng đồng và xã hội vào sử dụng TTY, các thành phần kinh tế
tích cực tham gia sản xuất, tồn trữ và cung ứng TTY.
- Đảm bảo quyền lợi được điều trị bằng thuốc cho người bệnh, quyền
được chi trả tiền thuốc cho người có thẻ bảo hiểm y tế.
- DMTBV phải đáp ứng thuốc cho khám và điều trị tại bệnh viện.
DMTBV là danh mục đặc thù cho mỗi bệnh viện. Danh mục này được
xem xét cập nhật điều chỉnh từng thời kỳ theo yêu cầu điều trị. Việc bổ sung
12
hoặc loại bỏ thuốc ra khơi danh mục cần phải được cân nhắc thận trọng. Danh
mục thuốc phản ánh sự thay đổi trong thực hành thuốc để công tác khám và điều
trị nhằm đạt hiệu quả cao.
- Thành viên HĐT&ĐT đánh giá thuốc bằng cách rà soát lại thông tin trong
tài liệu và chuẩn bị một bản báo cáo viết
- Đưa ra những đề xuất cho danh mục
- Trình bày kết quả đánh giá tại cuộc họp của HĐT&ĐT
- HĐT&ĐT chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu kể trên
- Phổ biến quyết định của HĐT&ĐT đến tất cả các cá nhân có liên quan
1.1.6.4. Duy trì một danh mục
- Đánh giá những yêu cầu bổ sung thuốc mới và loại bỏ thuốc hiện có trong
danh mục
- Đánh giá hệ thống theo nhóm, phân nhóm điều trị.
1.1.6.5. Quản lý thuốc ngoài danh mục.
- Hạn chế số lượng thuốc ngoài danh mục.
- Hạn chế tiếp cận.
- Lưu trữ hồ sơ yêu cầu đối với thuốc không nằm trong danh mục (tên
thuốc, số lượng, chỉ định).
- Thường xuyên rà soát và thảo luận tại các cuộc họp của HĐT&ĐT
1.1.6.6.Thuốc hạn chế sử dụng.
- Thuốc do thầy thuốc chuyên khoa sâu chỉ định, hoặc chỉ dùng trong
những tình trạng bệnh cụ thể.
- Do HĐT&ĐT xác định và thực thi.
14
- Kiểm soát những thuốc dùng trong chuyên khoa sâu và thực sự cần thiết.
- Theo dõi sát sao đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý.
1.2. Tình hình chung về thực trạng danh mục thuốc trong các bệnh viện
nước ta hiện nay
Qua báo cáo tổng kết công tác Dược năm 2008, triển khai kế hoạch năm
2009 của Cục Quản lý Dược, hầu hết các bệnh viện đã xây dựng DMT căn cứ
theo DMT chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh hiện hành.
Năm 2008, tổng giá trị mua thuốc tại các bệnh viện trên toàn quốc là 12.322 tỷ
từ các cơ sở y tế ngày càng nhiều, số lượng báo cáo phản ứng có hại của thuốc
(ADR) năm 2005 là 854, năm 2006 là 1062 đến năm 2008 là 1778 [11].
Hiện nay, do ảnh hưởng tiêu cực của một số hoạt động Marketing không
lành mạnh dẫn đến trong DMT của các bệnh viện thường có quá nhiều tên thuốc
khác nhau cho cùng một hoạt chất, đặc biệt là các thuốc kháng sinh, thuốc bổ
(bổ gan, vitamin ), thuốc tăng cường sức đề kháng… Điều này khiến cho người
kê đơn dễ dàng lạm dụng kháng sinh (nhất là Cephalosporin thế hệ 3) và lạm
dụng thuốc bổ, kê quá nhiều thuốc cho người bệnh, dẫn đến nhiều tương tác khi
điều trị. Từ đó gây khó khăn cho người mua thuốc, cấp phát thuốc và cho người
giám sát sử dụng thuốc. Mặt khác, việc truy cập trực tuyến thông tin thuốc trong
phạm vi toàn cầu ở Việt Nam còn hạn chế dẫn đến khó khăn cho việc cập nhật
thông tin thuốc. Hoạt động quảng các cho thuốc sản xuất trong nước còn chưa
thực sự phổ biến dẫn đến hạn chế cho việc lựa chọn thuốc nội vào DMT bệnh
viện. Việc giá thuốc tại thị trường Việt Nam có nhiều biến động trong thời gian
gần đây cũng ảnh hưởng đến việc duy trì danh mục thuốc bệnh viện. Giá của
một số thuốc phê duyệt trúng thầu thấp hơn nhiều so với mặt bằng giá chung
trên thị trường nên một số đơn vị trúng thầu đã bỏ thầu không cung ứng thuốc,
chịu phạt hợp đồng. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu điều trị bệnh viện lại phải bổ
xung thuốc khác vào DMT bệnh viện. Ngược lại, do DMT có quá nhiều chủng
16
loại nên việc thuốc trúng thầu có được sử dụng hay không còn tuỳ vào các bác sĩ
kê đơn. Theo thống kê tại công ty Dược Vật tư y tế Tiền Giang, năm 2006 có
80/390 mặt hàng trúng thầu vào bệnh viện không bán được viên nào, chiếm tỉ lệ
21%. Sáu tháng đầu năm 2007 cũng có 78/280 thuốc không bán được viên nào
dù được tuyên bố trúng thầu [7],[11].
Qua khảo sát tình hình sử dụng thuốc nội năm 2006, 2007 ở 565 bệnh
viện trong cả nước cho thấy, năm 2009, tỷ lệ thị phần giữa thuốc nội và thuốc
ngoại là 50/50, đến tháng 6 năm 2010 là 46/54 [11], thuốc nội chỉ chiếm 19-25%
về giá trị tiền. Kết quả khảo sát tại bệnh viện TimTrung ương cho thấy năm