BỘ Y TẾ
TRƯ
TRƯỜNG
ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ
ÀN
NỘI
PHẠM THỊ BÍCH HẰNG
PHÂN TÍCH CƠ CẤU DANH MỤC
ỤC THUỐC
SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA
A KHOA T
TỈNH
BẮC KẠN, NĂM 2014
LUẬN
ẬN VĂN DƯỢC
D
SĨ CHUYÊN
ÊN KHOA C
CẤP I
HÀ NỘI - 2015
BỘ Y TẾ
TRƯ
TRƯỜNG
ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ
ÀN
Nội
Thời
ời gian thực hiện đề tài:
t Tháng 10/2014 - 04/2015
HÀ NỘI - 2015
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ………………………………………………………………1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN…………………………………………………3
1.1 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC TẠI CÁC BỆNH VIỆN Ở VIỆT NAM
TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY………………………………………3
1.1.1 Thực trạng về cơ cấu danh mục thuốc sử dụng………………………..3
1.1.2 Thực trạng về kinh phí thuốc sử dụng tại một số bệnh viện………...4
1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỬ DỤNG THUỐC TRONG
BỆNH VIỆN…………………………………………………………………..6
1.2.1 Phương pháp ABC………………………………………………………6
1.2.2 Phương pháp sống còn thiết yếu và không thiết yếu…………………8
1.2.3 Phương pháp phân tích nhóm điều trị………………………………...8
1.3 THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH GIÁM SÁT DANH MỤC THUỐC Ở
VIỆT NAM……………………………………………………………………9
1.3.1 Thực trạng về phân tích danh mục thuốc……………………………….9
1.3.2Thực trạng giám sát danh mục thuốc………………………..…………10
1.4 Vài nét về bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn……………………………..12
1.4.1 Lịch sử hình thành……………………………………………………..12
1.4.2 Chức năng, nhiệm vụ…………………………………………………..13
1.4.3 Mô hình bệnh tật của Bệnh viện đa khoa Bắc Kạn năm 2014………...13
1.4.4 Chức năng, nhiệm vụ và mô hình tổ chức của khoa dược Bệnh viện đa
khoa Bắc Kạn………………………………………………………………..15
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT……………..…………………………………49
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BYT:Bộ Y tế
BV: Bệnh viện
DMT: Danh mục thuốc
DMTCY: Danh mục thuốc chủ yếu
DMTTY: Danh mục thuốc thiết yếu
GMP: Thực hành tốt sản xuất thuốc
HĐT&ĐT: Hội đồng thuốc và điều trị
INN: Tên chung quốc tế
MHBT: Mô hình bệnh tật
QĐ: Quyết định
TT: Thông tư
WHO: Tổ chức Y tế Thế giới.
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của khoa dược bệnh viện……….………..16
Hình 2.2 Thiết kế nghiên cứu……… …………………….…….…20
Hình 3.1 Cơ cấu thuốc nội, thuốc ngoại theo số lượng khoản mục .29
Hình 3.2 Kết quả phân tích ABC theo số lượng khoản mục….……33
Hình 3.3 Kết quả phân tích VEN theo số lượng khoản mục…...…..37
DANH MỤC BẢNG
giới. Tại các nước đang phát triển, 30%-60% bệnh nhân sử dụng thuốc kháng
sinh gấp 2 lần so với tình trạng cần thiết[26] và hơn một nửa số ca viêm
đường hô hấp trên điều trị kháng sinh không hợp lý. Tại Châu Âu sự đề kháng
của phế cầu với penicillin tỷ lệ thuận với lượng kháng sinh sử dụng[27].
Tại Việt Nam, với những chính sách mở cửa của cơ chế thị trường và đa
dạng hóa các loại hình cung ứng thuốc, thị trường thuốc ngày càng phong phú
cả về số lượng và chủng loại. Theo số liệu của Cục quản lý Dược, hiện có
khoảng 20.066 số đăng ký thuốc lưu hành còn hiệu lực, trong đó có 10.399 số
đăng ký thuốc nước ngoài với khoảng 1.000 hoạt chất và 9.727 số đăng ký
thuốc sản xuất trong nước với khoảng 500 hoạt chất[4]. Điều này giúp cho
việc cung ứng thuốc nói chung và cung ứng thuốc trong Bệnh viện nói riêng
trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn. Tuy nhiên, nó cũng gây khó khăn, lúng
túng trong việc lựa chọn, sử dụng thuốc chữa bệnh không chỉ với các bệnh
viện và ngay cả trong cộng đồng. Để hạn chế tình trạng trên, Tổ chức Y tế thế
giới đã khuyến cáo các quốc gia thành lập hội đồng thuốc và điều
trị(HĐT&ĐT) tại các bệnh viện. HĐT&ĐT là hội đồng được thành lập nhằm
đảm bảo tăng cường độ an toàn và hiệu quả sử dụng thuốc trong các bệnh
viện. Thành viên của HĐT& ĐT bao gồm các chuyên gia nhiều lĩnh vực khác
nhau nhằm đảm bảo cho người bệnh được hưởng chế độ chăm sóc tốt nhất với
1
chi phí phù hợp thông qua việc xác định xem loại thuốc nào thiết yếu cần
cung ứng, giá cả và sử dụng hợp lý an toàn[25].
Ngày 08 tháng 8 năm 2013, Bộ y tế đã ban hành thông tư 21/TT-BYT quy
định về tổ chức hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong Bệnh viện[6].
Tính đến thời điểm này, HĐT&ĐT đã tổ chức hoạt động được gần 20 năm
nay, góp phần không nhỏ vào việc đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn,
hiệu quả trong bệnh viện. Tuy nhiên, thực trạng hoạt động và vai trò của
HĐT&ĐT trong các bệnh viện công lập như thế nào, nó đã phát huy hết vai
về tỷ lệ các bệnh nhiễm trùng. Tuy nhiên kết quả phân tích của nghiên cứu
cũng cho thấy sự bất hợp lý trong cách lựa chọn và sử dụng kháng sinh tại các
bệnh viện: 47 thuốc kháng sinh nhóm A của bệnh viện Chợ Rẫy chiếm 35.7%
về giá trị sử dụng trong nhóm A. Trong đó hoạt chất prepenem có 5 biệt dược
chiếm tỷ trọng 21.4%; Hoạt chất cefoperazol có 9 biệt dược chiếm tỷ trọng
19.2%; hoạt chất ceftazidim có 6 biệt dược chiếm tỷ trọng 13.9%; hoạt chất
imipenem có 5 biệt dược chiếm 6.6%.Trong khi đó, HĐT&ĐT bệnh viện lựa
chọn thuốc không dựa trên phác đồ điều trị của bệnh viện mà dựa chủ yếu
trên nhu cầu điều trị của bác sỹ. Điều này dễ dẫn đến việc lạm dụng kháng
sinh trong điều trị tại bệnh viện nếu không có giám sát chăt chẽ và xây dựng
các phác đồ điều trị trong bệnh viện.
Tỷ lệ sử dụng vitamin, dịch truyền và corticoid trong cơ cấu sử dụng thuốc
giảm so với cùng kỳ năm 2009. Vitamin giảm từ 6.5% năm 2009 xuống còn
4.7% năm 2010[3],[11].
Đánh giá hoạt động Hội đồng thuốc và điều trị trong xây dựng và thực hiện danh
mục thuốc tại một số bệnh viện đa khoa cho thấy các bệnh viện tuyến huyện:
3
Thuốc tiêu thụ nhiều nhất chiếm 70% giá trị sử dụng vẫn có nhiều thuốc
không thực sự cần thiết (N): như vitamin, thuốc có tính chất điều trị hỗ trợ,
đặc biệt vitamin trong nhóm A của bệnh viện tuyến huyện là 9,1% đến 11%
Cơ cấu thuốc nội – thuốc ngoại nằm trong khoảng 48,5% đến 55,5% khoản
mục và từ 39,3% đến 53,2% giá trị sử dụng;
Cơ cấu thuốc generic từ 35,5% đến 47,8% khoản mục và từ 17,8% đến 21,8%
giá trị sử dụng;
Giá trị sử dụng thuốc tiêm tại tuyến huyện từ 41,1% đến 52,2 %;
Giá trị sử dụng thuốc dạng uống 41,1% đến 51,2%,
Nhóm thuốc kháng khuẩn tại bệnh viện tuyến huyện là 43,1%[18]
Kinh phí sử dụng thuốc trong bệnh viện thường chiếm tỷ trong rất lớn trong
miễn phí cho các bệnh nhân, ví dụ bệnh lao, HIV/AIDS, tâm thần phân liệt,
động kinh[10].
Vai trò của HĐT&ĐT sẽ được phát huy tốt nhất khi chức năng tư vấn
trong việc lựa chọn thuốc, quy định về kê đơn, chỉ định sử dụng thuốc. Đặt
biệt là không vượt quá kinh phí điều trị và không bị lạm dụng thuốc, hạn chế
các thuốc không thực sự cần thiết như: vitamin, thuốc hỗ trợ điều trị [18].
Tại bệnh viện nhân dân 115 đã nghiên cứu đề xuất một số giải pháp sử
dụng phân tích ABC/VEN trong việc lựa chọn hoạt chất đưa vào Danh mục
thuốc đã loại khỏi danh mục 167 hoạt chất (chủ yếu là thuốc không thiết yếu);
Can thiệp lên việc kê đơn với việc thiết lập quy trình kê đơn điện tử từ lúc tiếp
nhận người bệnh đã cải thiện rõ rệt: hạn chế sai sót kê đơn (sai sót thông tin bệnh
nhân giảm 64,4%), sai sót chỉ định và thuốc (ghi thiếu chẩn đoán ICD giảm
99,6%), sai sót cách ghi tên thuốc giảm 40,4% và không còn sau can thiệp)[22].
Tại bệnh viện Hữu Nghị đã đề cập đến việc ứng dụng một số giải pháp
trong quản lý thuốc, kê đơn nội ngoại trú đã góp phần giảm tỷ lệ số đơn
thuốc, hồ sơ bệnh án sai quy định giúp cho phần kê đơn, chỉ định thuốc được
thuận tiện [15].
5
Tại Bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2013: 4 nhóm sử dụng
kinh phí lớn nhất là thuốc kháng sinh (20,3% kinh phí), thuốc điều trị ung thư
chiếm 21,7%, thuốc tim mạch chiếm 15%, thuốc đường tiêu hóa chiếm 10,5
%. Thuốc nhóm A chiếm 18,5% khoản mục tương đương giá trị sử dụng
73,8%. Thuốc nhóm B chiếm 71,8% khoản mục tương đương giá trị sử dụng
24,7%. Thuốc nhóm C chiếm 9,7% khoản mục tương đương giá trị sử dụng
1,5%. Thực hiện quy chế chuyên môn: 100% ghi đầy đủ thông tin bệnh nhân;
trên 90% bệnh án ghi đủ tên thuốc, nồng độ; 100% bệnh án đánh số thứ tự
ngày dùng thuốc với thuốc có quy đinh đánh số thứ tự ngày dùng thuốc. Một
số nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp sử dụng phân tích ABC, VEN, để
Phân tích ABC có thể ứng dụng các số liệu tiêu thụ cho một chu kỳ trên 1
năm hoặc ngắn hơn. Phương pháp này cũng có thể ứng dụng cho một đợt đấu
thầu hoặc nhiều đợt đấu thầu.
Sau khi hoàn thành phân tích ABC, các thuốc đặc biệt là thuốc trong nhóm A
cần phải được đánh giá lại và xem xét việc sử dụng những thuốc không có
trong danh mục và thuốc đắt tiền, trên cơ sở đó lựa chọn những phác đồ điều
trị có hiệu lực tương đương nhưng giá thành rẻ hơn. Trong một số trường hợp,
phân tích ABC cần phải được sử dụng cả những số liệu về giá thành, các biệt
dược và các chi phí điều trị khác như tiền bơm tiêm..v..v..Phân tích ABC
cũng có thể được sử dụng để đánh giá một phác đồ điều trị khi tất cả các
thuốc sử dụng có hiệu quả tương đương.
Tóm tắt các bước phân tích ABC:
+ Liệt kê các sản phẩm.
+ Điền các thông tin sau cho mỗi sản phẩm:
. Đơn giá của sản phẩm(sử dụng giá cho các thời điểm nhất định nếu sản
phẩm có giá thay đổi theo thời gian)
. Số lượng sản phẩm
7
+ Tính tiền cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với số lượng sản phẩm.
Tổng số tiền sẽ bằng tổng lượng của lượng tiền cho mỗi sản phẩm.
+ Tính giá trị phần trăm của mỗi sản phẩm bằng cách lấy số tiền của mỗi sản
phẩm chia cho tổng số tiền.
+ Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự phần trăm giảm dần
+ Tính giá trị phần trăm tích luỹ của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm, bắt đầu
với sản phẩm số 1 sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo trong danh sách.
. Phân hạng sản phẩm như sau:
+ Hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm 75-80% tổng giá trị tiền
+ Hạng B: Gồm những sản phẩm chiếm 15-20% tổng giá trị tiền
cao.
1.3 THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH VÀ GIÁM SÁT DANH MỤC THUỐC Ở
VIỆT NAM
1.3.1 Thực trạng về phân tích danh mục thuốc
Việc phân tích ABC/VEN đã được đưa vào thông tư số 21/2013/TT-BYT
ban hành ngày 08/8/2013 của Bộ Y tế là một trong những phương pháp phân
tích để phát hiện vấn đề sử dụng thuốc và là bước đầu trong qui trình xây
DMTBV. Tiến sĩ Vũ Thị Thu Hương sử dụng phương pháp ABC là một trong
các tiêu chí đánh giá hoạt động của HĐT&ĐT trong xây dựng và thực hiện
DMT tại một số bệnh viện đa khoa và nhận thấy các bệnh viện đã mua sắm
tương đối tập trung vào các thuốc được sử dụng nhiều nhất trong điều trị(sử
dụng 70% tổng kinh phí để mua sắm 11.2%-13.1% số khoản mục thuốc). Đây
là các thuốc có giá trị và số lượng sử dụng lớn trong bệnh viện. Chính vì thế
9
cần ưu tiên trong mua sắm đồng thời quản lý chặt chẽ các thuốc thuộc nhóm
A này[18].
Ở Việt Nam hiện đang mở rộng việc áp dụng phân tích ABC/VEN ở các bệnh
viện. Thạc sỹ Hà Quang Đang đã phân tích ABC/VEN tại bệnh viện 87 cục
hậu cần. So với năm 2007 thì năm 2008 tỷ lệ số lượng thuốc tiêu thụ và giá trị
tiêu thụ các thuốc thuộc DMT- VE đã tăng lên, thuốc không thuộc DMT-VN
tuy đã giảm về số lượng mặt hàng và tỷ lệ số lượng tiêu thụ không thay đổi
nhưng giá tỷ lệ giá trị tiêu thụ thuốc lại giảm đi rất nhiều trong cơ cấu các
thuốc thuộc nhóm A cũng như trong cơ cấu thuốc sử dụng trong năm, điều
này cho thấy sự giảm về số lượng mặt hàng và ưu tiên lựa chọn các thuốc
không thuộc DMT- VN với giá thấp hơn so với năm 2007[12].
Tiến sĩ Huỳnh Hiền Trung đã dùng phân tích ABC/VEN là một tiêu chí để
chịu phạt hợp đồng .Theo tính toán của Bộ Y Tế, kết quả đấu thầu thuốc năm
2013 đã giảm hàng trăm tỷ đồng. Chẳng hạn Sở Y tế Quảng ngãi giảm
khoảng 28 tỷ đồng(24%), Sở y tế Quảng ninh giảm khoảng 40 tỷ đồng(xấp xỉ
20%), Sở Y tế Hà Tĩnh tiết kiệm khoảng 32 tỷ đồng(25%)[29].
Việc xây dựng DMT trong bệnh viện chưa chú trọng đến nguyên tắc “ưu
tiên thuốc sản xuất trong nước đạt chất lượng, ưu tiên chọn thuốc genergic,
thuốc của những doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn GMP”. Việc sử dụng thuốc
ngoại nhập, biệt dược vẫn chiếm tỷ lệ cao, đặc biệt là những loại thuốc của
công ty Dược phẩm phân phối độc quyền nhất là ở các bệnh viện lớn dẫn đến
vượt quá khả năng chi trả của người bệnh và quỹ bảo hiểm Y tế. Theo thống
kê của Cục Quản lý Dược Việt nam cho biết tính đến hết năm 2009, tổng giá
trị tiền thuốc sử dụng ở Việt Nam đã lên tới hơn 1.696 triệu USD tăng gần
19% so với năm 2008. Điều này có nghĩa tiền thuốc đã tăng mạnh qua từng
năm và phản ánh hai khía cạch, một là số lượng bệnh tăng lên, sử dụng thuốc
nhiều hơn và hai là giá thuốc đã tăng cao kéo theo chi phí bỏ ra cũng tăng
theo.Năm 2009, quỹ BHYT bị thâm hụt gần 2.000 tỷ đồng[28].
Trong những năm gần đây đã có nhiều đề tài nghiên cứu về cơ cấu DMT
Bệnh viện và sơ bộ cho thấy trong những năm gần đây việc sử dụng thuốc sản
11
xuất trong nước còn chiếm tỷ lệ thấp đặc biệt là bệnh viện tuyến trung ương,
sử dụng các thuốc nhóm VE còn chiếm tỷ lệ cao cần phải xem xét loại bỏ bớt
nhằm tiết giảm chi phí thuốc trong điều trị. Đây vẫn còn là vấn đề nan giải
cần có những chấn chỉnh không chỉ từ phía các bệnh viện mà cần có sự vào
cuộc của toàn nghành Y tế.
Trước bất cập nêu trên của các bệnh viện, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài này với mong muốn có được đánh giá chính xác nhất về cơ cấu DMT
sử dụng tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh tuyến tỉnh miền núi điều kiện kinh tế
còn khó khăn.
bệnh tật lần thứ 10(ICD)[2].
Bảng 1.1Mô hình bệnh tật của BV đa khoa Bắc Kạn năm 2014
STT
Mã ICD –
Chương bệnh
10
Số ca
Tỷ lệ (%)
1
Bệnh của hệ hô hấp
J02-J22
3642
17,4
2
Thai nghén sinh đẻ và hậu sản
O03-O99
1372
6,7
Chấn thương, ngộ độc và một số S02-T98
1319
6,3
1296
6,2
6
hậu quả khác do nguyên nhân bên
ngoài
7
Bệnh của hệ cơ xương khớp và M05-M99
mô liên kết
13
Bệnh hệ sinh dục và tiết niệu
8
9
3,0
L00-L99
526
2,5
Bệnh nội tiết dinh dưỡng và E00-E35
413
2,0
382
1,8
338
1,6
17
1,1
H65-H62
86
13
14
15
16
Bệnh của mắt và phần phụ của H00-H32
mắt
Một số bệnh xuất phát trong thời P00-P08
kỳ chu sinh
Bệnh của da và mô dưới da
chuyển hóa
Rối loạn tâm thần và hành vi
F00-F09
Các triệu trứng, dấu hiệu và ảc10-R09
17
những biểu hiện lâm sàng bất
thường không phân loại ở phần
khác
18
19
20
Dị tật bẩm sinh, biến dạng và bất Q00-Q04
thường về nhiễm sắc thể
- Lập kế hoạch, cung ứng thuốc đảm bảo đủ số lượng, chất lượng cho
nhu cầu điều trị và thử nghiệm lâm sàng nhằm đáp ứng yêu cầu chẩn
đoán, điều trị và các yêu cầu chữa bệnh khác như: phòng chống dịch
bênh, thiên tai, thảm hoạ...
- Quản lý, theo dõi việc nhập thuốc, cấp phát thuốc cho nhu cầu điều
trị và nhu cầu khác khi có yêu cầu.
- Đầu mối tổ chức triển khai hoạt động của Hội đồng thuốc và điều
trị.
- Bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc “thực hành tốt bảo quản
thuốc”.
- Tổ chức pha chế thuốc dùng ngoài, hoá chất sát khuẩn.
- Thực hiện công tác dược lâm sàng, thông tin, tư vấn về sử dụng
thuốc, tham gia công tác cảnh giác dược, theo dõi báo cáo thông tin
liên quan đến phản ứng có hại của thuốc.
15
- Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyên môn về dược
tại các khoa trong bệnh viện.
- Nghiên cứu khoa học và đào tạo; là cơ sở thực hành của các trường
Đại học, Cao đẳng, Trung học về dược.
- Phối hợp với các khoa cận lâm sàng và lâm sàng theo dõi, kiểm tra,
đánh giá , giám sát việc sử dụng kháng sinh và theo dõi tình hình
kháng kháng sinh trong bệnh viện.
- Tham gia chỉ đạo tuyến
- Tham gia hội chẩn khi được yêu cầu
- Tham gia theo dõi quản lý kinh phí sử dụng thuốc.
- Quản lý hoạt động của nhà thuốc bệnh viện theo đúng qui định.
- Thực hiện nhiệm vụ cung ứng, theo dõi, quản lý, giám sát, kiểm tra,
báo cáo về vật tư y tế tiêu hao, sinh phẩm y tế.
16
Tổ dược
chính
Kho vật
tư, hóa
chất
Năm 2014, khoa Dược có 11 cán bộ nhân viên trong đó có 4 dược sỹ
đại học, 5 dược sỹ trung học và 01 dược tá.
Trưởng khoa dược: Chỉ đạo điều hành chung
Phó trưởng khoa: Thay mặt trưởng khoa giải quyết công việc của khoa
khi được uỷ quyền và quản lý về mặt bố trí, tổ chức nhân lực trong
khoa.
Nhiệm vụ của các tổ:
+ Tổ dược chính: Thực hiện kiểm tra, giám sát, duyệt thuốc cho các
khoa lâm sàng. Quản lý thuốc thu hồi: thuốc kém chất lượng, quá hạn,
thuốc huỷ. Thực hiện các công tác chuyên môn theo dõi báo cáo các
vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc.
+ Dược lâm sàng: Hoạt động thông tin thuốc và dược lâm sàng với hình
thức kiêm nhiệm.
+ Tổ thống kê: Thống kê, theo dõi và đối chiếu thuốc sử dụng hàng
tháng tại các khoa.
+ Tổ kho: Có 01 dược sỹ đại học phụ trách kho thuốc gây nghiện,
hướng tâm thần, 4 dược sỹ trung học ở các kho có trách nhiệm dự trù,
nhập hàng và cấp phát lẻ trực tiếp hàng ngày.
+ Nhà thuốc bệnh viện: Do trưởng khoa trực tiếp phụ trách.
miền núi kinh tế còn nhiều khó khăn.
18