DẠY học THEO CHỦ đề KHÔNG GIAN văn hóa CỒNG CHIÊNG tây NGUYÊN - Pdf 31

2. Chủ đề 2: KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN
(4 tiết)
A. Mục tiêu
Học xong chủ đề này, HS có khả năng:
- nhận biết đượcsố nét đặc trưng của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
- Nhận biết và nêu đặc điểm nhạc cụ dân tộc ở Tây Nguyên: cồng chiêng, đàn đá,
đàn T’rưng, ... Nhận biết và nêu đặc điểm về kiến trúc và mĩ thuật ở Tây Nguyên: nhà
rông, điêu khắc và tượng nhà mồ, ...
- Hát đúng giai điệu, lời ca bài Đi cắt lúa, dân ca Tây Nguyên.
- Có thái độ trân trọng đối với không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
- Có năng lực tìm hiểu về các di sản văn hóa, phát triển các năng lực tư duy, nhận
thức, ngôn ngữ, giao tiếp, hợp tác, cảm thụ thẩm mĩ, ...
B. Nội dung chính của chủ đề
- Tìm hiểu vùng đất Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm
Đồng) và đời sống văn hóa của các dân tộc ở Tây Nguyên: Gia-rai, Ê-đê, Ba-na, Cơho, Xơ-đăng, Mơ-nông, ...
- Tìm hiểu về nhạc cụ dân tộc ở Tây Nguyên: cồng chiêng, đàn đá, đàn t’rưng, ...
- Tìm hiểu nét đặc trưng của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
- Học hát bài Đi cắt lúa, dân ca Tây Nguyên.
- Tìm hiểu về kiến trúc và mĩ thuật ở Tây Nguyên: nhà rông, điêu khắc và tượng
nhà mồ, ...
C. Chuẩn bị
- Nhạc cụ quen dùng: đàn phím điện tử, nhạc cụ gõ đệm, ...
- Máy nghe, đĩa nhạc về dân ca quan họ Tây Nguyên.
- Giấy vẽ, bảng màu, bút màu, ...
- Máy tính, phần trình chiếu, các tư liệu, hình ảnh về vùng đất Tây Nguyên.
D. Hình thức tổ chức dạy học/ phương pháp/ kĩ thuật
Có thể lựa chọn 1 trong các hình thức tổ chức dạy học sau:
- Dạy học theo.
- HS tự học có hướng dẫn.
- Học theo dự án: Các nhóm HS (4-6 em) sưu tầm tài liệu, tìm hiểu thông tin để
giới thiệu về “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”. Thời gian chuẩn bị

(dân ca Ra-glai)

Em ơi em ngủ cho ngoan, để mẹ
(Trích)
đi chặt cây chuối nơi xa. Em ngủ Cùng múa vui đêm nay tưng
cho ngoan, ngoài rừng xa, cha bừng, cùng múa vui liên
đang đi kiếm măng non. Ngủ hoan tưng bừng. Bước đều
ngoan hỡi em ơi, nơi xa mẹ nhặt bước múa vung tay nhịp
được nhiều ngọn rau non. Đừng nhàng, tiếng chiêng trống
khóc nữa, hỡi em ơi.

đánh vang buôn làng...

(Trích)
Ơ bạn trông kìa,
màu lúa chín vàng
bông vàng, đồng
lúa ngát mùi hương
nồng, nhớ công ơn
ai...

Sử dụng phiếu học tập số 2
Kết luận:
- Cồng chiêng được làm bằng đồng thau, hình tròn, đường kính khoảng từ 20 cm đến
2


60 cm. Âm thanh của cồng chiêng vang như tiếng sấm rền...
- Đàn đá là loại nhạc cụ cổ nhất của Việt Nam, được làm từ các thanh đá có kích
thước khác nhau. Ở âm vực cao, tiếng đàn đá thánh thót xa xăm, ở âm vực trầm, âm

vũ khí, ...
- Tượng nhà mồ được làm từ gỗ, bằng thủ pháp dùng mảng khối, người tạc chỉ phác
họa một vài chi tiết trên cơ thể mà làm cho bức tượng trở nên sống động, như có hồn...

Hoạt động 6. Ứng dụng và sáng tạo nghệ thuật Tây Nguyên
- Vẽ tranh minh họa cho bài hát Đi cắt lúa.
- Đặt lời mới cho bài Đi cắt lúa theo chủ đề tự chọn.
- Luyện tập, trình bày bài Đi cắt lúa theo hình thức song ca hoặc tốp ca, trình bày
bài hát kết hợp gõ đệm hoặc vận động theo nhạc (mô phỏng động tác gõ cồng chiêng).
- Trình bày bài Đi cắt lúa trong sinh hoạt văn nghệ tại nhà trường, gia đình hoặc
cộng đồng.

4


F. Kiểm tra, đánh giá
Gợi ý một số câu hỏi và bài tập:
- Trình bày các sản phẩm của hoạt động 5: tranh minh họa và lời mới của bài Đi
cắt lúa.
- Trong các lễ hội, đồng bào Tây Nguyên còn sử dụng những loại nhạc cụ nào
ngoài cồng chiêng?
- Những người nào (người già, đàn ông, phụ nữ, trẻ em...) có thể tham gia chơi
cồng chiêng trong các lễ hội ở Tây Nguyên?
- Bài dân ca nào dưới đây không phải là dân ca Tây Nguyên?
A. Bạn ơi lắng nghe
B. Đi cắt lúa
C. Cùng múa vui
D. Đi cấy

PHỤ LỤC

.................................
.................................

Phiếu học tập số 2
Hãy nêu một số đặc điểm về 3 loại nhạc cụ dân tộc ở Tây Nguyên (chất liệu, hình
dáng, âm thanh...):

6


Cồng, chiêng
.................................
.................................
.................................
.................................
.................................
.................................
.................................
Đàn t’rưng
.................................
.................................
.................................
.................................
.................................
.................................
.................................
Đàn đá
.................................
.................................
.................................

- Nhà Rông là một kiểu nhà sàn đặc trưng, đây là ngôi nhà cộng đồng, dùng làm
nơi tụ họp của dân làng trong các buôn làng trên Tây Nguyên. Nhà Rông chỉ có ở
những buôn làng người dân tộc như Gia Rai, Ba Na...ở phía Bắc Tây Nguyên, đặc biệt
ở hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum.
Nhà Rông được xây dựng chủ yếu bằng các vật liệu của chính núi rừng Tây
Nguyên như cỏ tranh, tre, gỗ, lồ ô... và được xây cất trên một khoảng đất rộng, nằm
ngay tại khu vực trung tâm của buôn.
Nhà Rông của mỗi dân tộc đều có những nét riêng trong kiến trúc, tạo dáng, trang
trí hoa văn. Nhìn chung nhà Rông là ngôi nhà to hơn nhiều so với nhà bình thường, có
kiến trúc cao. Có những ngôi nhà cao tới 18 m, với đặc điểm là mái nhọn xuôi dốc
hình lưỡi búa vươn lên bầu trời với một dáng vẻ mạnh mẽ. Nhà được dựng trên những
cột cây to, thường là tám cột bằng cây đại thụ, thẳng, chắc, mái nhọn lợp bằng lá cỏ
tranh, phơi kỹ cho đến khi khô vàng.
Nhà Rông là nơi thực thi các luật tục, nơi tiếp khách, nơi diễn ra các sự kiện trọng
đại của buôn làng, nơi già làng tập hợp dân làng để bàn luận những việc quan trọng
của buôn làng, của đất nước. Đây cũng là nơi thể hiện các lễ hội tâm linh cộng đồng
và là nơi các thế hệ nghệ nhân già truyền đạt lại cho thế hệ trẻ những giá trị văn hóa
truyền thống ... Ngoài ra nhà Rông còn là nơi lưu giữ các hiện vật truyền thống: cồng,
chiêng, trống, vũ khí, đầu các con vật hiến sinh trong các ngày lễ.
- Tượng nhà mồ là mảng đặc sắc của văn hóa cổ truyền Tây Nguyên. Trong thời
gian gần đây, truyền thống dựng nhà mồ-tượng mồ chỉ còn thấy tập trung ở các dân
tộc Ba na, Ê đê, Gia rai, Mnông, Xơ Đăng. Tượng mồ là loại tác phẩm điêu khắc độc
đáo bậc nhất của vùng đất này, trong đó tượng mồ Gia rai, Ba na phong phú và đặc
sắc hơn cả.
9


Khi quan sát những bức tượng mồ, người xem có thể nhận ra hình thể của từng
bức tượng, qua bàn tay của người nghệ nhân, đều xuất phát từ thân gỗ tròn, vốn là
hình dạng ban đầu của mỗi thân tượng. Bằng thủ pháp dùng mảng khối, người Gia-rai

các đặc trưng nghệ thuật từ thời cổ đại của các thị tộc, bộ lạc trên hầu khắp thế giới.

10


Để làm cho bức tượng mồ trở nên ấn tượng, người Gia-rai còn sử dụng đến màu
sắc để trang điểm. Màu sắc là một yếu tố cơ bản tham gia vào nghệ thuật điêu khắc
làm nổi rõ hơn khuynh hướng đa dạng trong tạo hình tượng mồ. Trong bảng màu tự
nhiên của người Gia-rai có đầy đủ các sắc màu: vàng, đen, trắng, đỏ, xanh... các sắc
màu này được lấy ngay từ thiên nhiên trong môi tường sống của họ. Quan sát cách tạo
hoa văn trên y phục sẽ thấy người Gia-rai sử dụng màu sắc một cánh hết sức linh hoạt.
Từ màu sắc y phục đến màu sắc trên các công trình mang tính chất tôn giáo, người
Gia-rai thiên về dùng màu đỏ, màu đỏ vẫn là màu chính, màu chủ đạo, màu đỏ được
sử dụng vẽ hoa văn trên mái nhà mồ, tô điểm cho các hoa văn được đục thủng trên nóc
mái... Màu đỏ lại một lần nữa được dùng tô điểm cho tượng nhà mồ. Màu đỏ được
người Gia-rai tạo ra bằng cách lấy chất bột của một loại đá non (khor) rồi hoà với
nhựa của cây po-pẹ để tạo thành thể keo có màu đỏ nhạt, rồi dùng thanh tre đập dập
làm bút vẽ cho tượng. Tại một số ngôi nhà mồ ở làng Kép xã Iamnông huyện Chư Pảh
tỉnh Gia-lai, người Gia rai trong khi trang trí cho các cột tượng còn lấy ngay máu của
trâu, bò - các con vật hiến sinh trong lễ bỏ mả - để bôi lên cột tượng. Ngoài màu đỏ,
màu đen cũng được sử dụng để trang trí, màu đen được làm ra bằng cách dùng than
củi giã nhỏ, trộn với nước thành thứ nước đen, dùng bút tre vẽ lên thân tượng. Màu đỏ
thường được người Gia-rai trang điểm trên các bộ phận như cùi tay, khuỷu chân, đầu
gối, màu đen trang trí các bộ phận như tóc, mắt, miệng tượng.
Nghệ thuật tượng mồ còn bắt nguồn từ bản thân sự sống động của mỗi bức tượng.
Loại trừ tượng ôm mặt ở tư thế tĩnh còn hầu hết các bức tượng khác đều diễn tả các
trạng thái động của con người. Người Gia-rai khi tạc tượng đã làm cho cho từng bức
tượng trở nên sinh động như có hồn. Người xem nếu đã một lần đến buôn làng của
người Gia-rai, được dự lễ bỏ mả, khi chiêm ngưỡng tượng sẽ có cảm giác như mình
đang có mặt tại chính buôn làng của họ với các hoạt động quen thuộc của con người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status