Nghiên cứu ảnh hưởng của trạng thái và chất lượng chitin đến khả năng deacetyl bằng NaOH - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC & MÔI TRƯỜNG
----------------0o0--------------

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TRẠNG THÁI VÀ
CHẤT LƯỢNG CHITIN ĐẾN KHẢ NĂNG DEACETYL
BẰNG NaOH

Giảng viên hướng dẫn : ThS. NGUYỄN CÔNG MINH
Sinh viên thực hiện

: ĐỖ THỊ CẨM NGUYÊN

Mã số sinh viên

: 53131089

Khánh Hòa: tháng 6/2015


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC & MÔI TRƯỜNG
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
----------------0o0--------------

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP


thực phẩm, phòng Chế biến thực phẩm… đặc biệt là thầy Vũ Phương – giám đốc
Trung tâm Thí nghiệm Thực hành đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá
trình nghiên cứu tại các phòng thí nghiêm của trường Đại học Nha Trang.
Xin chân thành cảm ơn các bạn chi hội 53CNSH, cùng các bạn sinh viên làm
nghiên cứu tại phòng thí nghiệm của trường đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên tôi hoàn
thành tốt đề tài.
Cuối cùng con xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ba, má kính mến cùng anh
chị em trong gia đình, những người đã ủng hộ nhiệt tính cả vật chất lẫn tinh thần trong
quá trình học tập là thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Nha trang, tháng 6 năm 2015
Sinh viên

Đỗ Thị Cẩm Nguyên


ii
TÓM TẮT
Chitin – chitosan có nhiều ứng dụng trong các ngành công, nông nghiệp, y dược và
bảo vệ môi trường. Từ khả năng ứng dụng khá rộng rãi của chitin – chitosan mà nhiều
nước đã nghiên cứu sản xuất các sản phẩm này. Ở Việt Nam, theo số liệu chiến lược
xuất khẩu của bộ Thủy sản đến năm 2005 sản lượng tôm xuất khẩu đạt 140.000
tấn/năm; từ quá trình sản xuất này sẽ có một lượng lớn phế liệu riêng cho vỏ tôm, thải
ra khoảng 70.000 tấn/năm; theo số liệu thực nghiệm chitosan chiếm khoảng 5% vỏ
tươi và khoảng 20-40% vỏ khô, như vậy hằng năm có thể sản xuất gần 50.000 tấn
chitosan từ vỏ tôm và ghẹ phục vụ sản xuất trong nước và xuất khẩu mang lại hiệu quả
kinh tế cho ngành thủy sản.
Với mục đích nghiên cứu ảnh hưởng của trạng thái và chất lượng chitin đến chất
lượng chitosan thông qua quá trình deacetyl bằng NaOH nhằm đề xuất quy trình sản
xuất chitosan có hiệu suất thu hồi cao đạt 85,14%, độ deacetyl là 79,5%, độ nhớt biểu

1.3.2.2.Quy trình của Đỗ Minh Phụng, trường Đại học Thủy Sản ..................... 22
1.3.2.3.Quy trình sản xuất chitosan từ vỏ tôm bằng phương pháp hóa học với
một công đoạn xử lý kiềm (Trần Thị Luyến, 2003) ............................................23
1.3.2.4.Quy trình của Trung tâm Chế biến Đại học Thủy sản ............................ 24
1.3.2.5.Qui trình sản xuất chitin và chitosan của Trang Sĩ Trung, Đại Học Nha
Trang (2003) ........................................................................................................25


iv
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................................................... 27
2.1.Đối tượng nghiên cứu .......................................................................................... 27
2.2.Phương pháp nghiên cứu...................................................................................... 27
2.2.1.Bố trí thí nghiệm tổng quan ...........................................................................27
2.2.2.Bố trí thí nghiệm chi tiết ................................................................................28
2.2.2.1.Nghiên cứu ảnh hưởng của kích thước chitin đến chất lượng chitosan
thông qua quá trình deacetyl bằng NaOH ........................................................... 28
2.2.2.2.Nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm chitin đến chất lượng chitosan thông
qua quá trình deacetyl bằng NaOH .....................................................................29
2.2.1.3.Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein, khoáng chitin đến chất
lượng chitosan thông qua quá trình deacetyl bằng NaOH ..................................31
2.3.Các phương pháp phân tích ..................................................................................32
2.3.1.Hàm ẩm của chitin – chitosan được xác định bằng phương pháp sấy ở 1050C
theo TCVN 3700 – 1990 (Phụ lục 1.1). ..................................................................32
2.3.2.Hàm lượng tro tổng số của chitin – chitosan được xác đinh bằng phương
pháp nung ở 5500C theo TCVN 5405 - 1990(Phụ lục 1.2). ...................................32
2.3.3.Độ đục của chitosan được tiến hành đo bằng máy DR – 2000 (Direct reading
spectrophotometer) (Phụ lục 1.3). ..........................................................................32
2.3.4.Độ nhớt của chitosan được xác định bằng nhớt kế Brookfield, model RVT
(Phụ lục 1.4). ...........................................................................................................32
2.3.5.Độ tan của chitosan được xác định thông qua các phân tử không tan trong

Bảng 1.3. Một số chỉ tiêu chất lượng của chitosan từ vỏ tôm sú theo phương pháp xử
lý kiềm một giai đoạn (Trần Thị Luyến, 2003)……………………………………….24
Bảng 3.1. Một số chỉ tiêu cơ bản của chitin .................................................................. 33
Bảng 3.2. Một số chỉ tiêu cơ bản của chitosan khi deacetyl chitin có các kích thước
khác nhau ................................................................................................................................ 35
Bảng 3.3. Một số chỉ tiêu cơ bản của chitosan khi deacetyl chitin có các độ ẩm khác
nhau .......................................................................................................................................... 39
Bảng 3.4. Một số chỉ tiêu về chất lượng của chitin sản xuất theo quy trình của Trang Sĩ
Trung và cộng sự (2010) và chitin thương mại .................................................................. 42


vii
DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1. Sắp xếp các mạch trong phân tử chitin ........................................................... 5
Hình 1.2. Công thức cấu tạo của chitin ............................................................................ 5
Hình 1.3. Công thức cấu tạo của chitosan ........................................................................ 6
Hình 1.4. Phức của chitin – chitosan với kim loại .......................................................... 9
Hình 1.5. Quá trình khử khoáng của từ vỏ tôm sú .......................................................... 13
Hình 1.6. Quá trình khử protein của từ vỏ tôm sú ở các nhiệt độ khác nhau với nồng độ
NaOH 50% ........................................................................................................................... 15
Hình 1.7. Quá trình deacetyl .............................................................................................. 15
Bảng 1.3. Một số chỉ tiêu chất lượng của chitosan từ vỏ tôm sú theo phương pháp xử
lý kiềm một giai đoạn ......................................................................................................... 24
Hình 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm tổng quan ................................................................... 27
Hình 2.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của kích thước chitin đến chất
lượng chitosan thông qua quá trình deacetyl bằng NaOH ............................................. 28
Hình 2.3. Sơ đồ bố trí thí nghiệm Nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm chitin đến chất
lượng chitosan thông qua quá trình deacetyl bằng NaOH ............................................. 30
Hình 2.4. Sơ đồ bố trí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein, khoáng

D: D-glucosamine

-

PEG: Polyethylene glycol


1
LỜI MỞ ĐẦU
Công nghệ chế biến thủy sản đang ngày càng phát triển trên quy mô toàn cầu, rất
nhiều nước Đông Nam Á và Nam Mĩ đang đẩy mạnh ngành công nghiệp này chủ yếu
cho xuất khẩu như Ấn Độ, Indonexia, Thái Lan, Việt Nam,…. Quá trình này bao gồm
cả nuôi trồng và đánh bắt ở biển, với một sản lượng đông lạnh rất lớn, như vậy tất yếu
một lượng phế thải không nhỏ bị vứt bỏ, để thối rữa và do đó gây ô nhiễm môi trường.
Theo ước tính lượng phế thải tôm, cua…hàng năm là 1,44 triệu tấn (trọng lượng khô).
Tuy vậy chính lượng phế thải vỏ tôm, cua, mực…này lại là một nguồn nguyên liệu to
lớn để sản xuất chitin – chitosan, protein, chất màu…[23].
Chitin là một polymer thiên nhiên có cấu tạo mạch thẳng gồm các đơn vị N-acetylDglucosamin nối với nhau bằng các liên kết β-1,4-glucoside. Chitosan là một dẫn xuất
của chitin được hình thành khi tách nhóm acetyl, vì vậy chitosan chứa rất nhiều nhóm
amino. Chitosan thường ở dạng vẩy hay dạng bột có màu trắng ngà. Công thức phân tử
của chitosan gần giống với chitin nhưng chitosan có chứa nhóm amin ở cacbon thứ 2.
Chitosan có nhiều ứng dụng trong các ngành công, nông nghiệp, y dược và bảo vệ môi
trường. Từ khả năng ứng dụng khá rộng rãi của chitin – chitosan mà nhiều nước đã
nghiên cứu sản xuất các sản phẩm này. Ở Việt Nam, theo số liệu chiến lược xuất khẩu
của bộ Thủy sản đến năm 2005 sản lượng tôm xuất khẩu đạt 140.000 tấn/năm; từ quá
trình sản xuất này sẽ có một lượng lớn phế liệu riêng cho vỏ tôm, thải ra khoảng
70.000 tấn/năm; theo số liệu thực nghiệm chitosan chiếm khoảng 5% vỏ tươi và
khoảng 20-40% vỏ khô, như vậy hằng năm có thể sản xuất gần 50.000 tấn chitosan từ
vỏ tôm và ghẹ phục vụ sản xuất trong nước và xuất khẩu mang lại hiệu quả kinh tế cho
ngành thủy sản [23].


Tổng quan về chitin – chitosan

1.1.1. Lịch sử phát hiện
Chitin được Bracannot phát hiện lần đầu tiên vào năm 1811 trong cặn dịch chiết
của một loại nấm và đặt tên là “fungine” để ghi nhớ nguồn gốc tìm ra nó. Năm 1823,
Odier đã phân lập được một chất từ bọ cánh cứng và ông gọi là chitin hay “chitine” có
nghĩa là lớp vỏ. Nhưng không phát hiện sự có mặt của nitơ, cuối cùng cả Bracannot và
Odier đều cho rằng cấu trúc của chitin giống cấu trúc của cellulose [24].
Năm 1929, Karrer đun sôi chitin 24h trong dung dịch KOH 5% và đun tiếp 50 phút
ở 1600C với kiềm bão hòa ông thu được sản phẩm có phản ứng màu đặc trưng với
thuốc thử, chất đó chính là chitosan [24].
Trước đấy, người ta đã thử chiết tách chitin từ thực vật biển nhưng nguồn nguyên
liệu không đủ để đáp ứng nhu cầu. Trữ lượng chitin phần lớn có nguồn góc từ vỏ tôm,
cua. Trong một thời gian, các chất phế thải này không được thu hồi mà lại thải ra ngoài
gây ô nhiễm môi trường. Năm 1977, Viện kỹ thuật Masachusetts (Mỹ) khi tiến hành
xác định giá trị của chitin và protein trong vỏ tôm, cua đã cho thấy việc thu hồi các
chất này có lợi nếu sử dụng trong công nghiệp. Phần protein thu được sẽ dùng để chế
biến thức ăn gia súc, còn phần chitin sẽ dùng như một chất khởi đầu để điều chế các
dẫn xuất có nhiều ứng dụng trong lĩnh vực công nghiệp [12].
Việc nghiên cứu về dạng tồn tại, cấu trúc, tính chất lý hóa, ứng dụng của chitosan
đã được công bố từ những năm 30 của thế kỷ XX. Những nước đã thành công trong
lĩnh vực nghiên cứu sản xuất chitosan đó là: Nhật, Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Pháp.
Nhật Bản là nước đầu tiên trên thế giới năm 1973 sản xuất 20 tấn/năm, và đến nay đã
lên tới 700 tấn/năm, Mỹ sản xuất trên 300 tấn/năm. Theo Knorr năm 1991 thì thị
trường có nhiều triển vọng của chitin-chitosan là Nhật Bản, Mỹ, Anh, Đức. Nhật Bản
được coi là nước dẫn đầu về công nghệ sản xuất và buôn bán chitin-chitosan. Người ta
ước tính sản lượng chitosan sẽ đạt tới 118000 tấn/năm; trong đó Nhật Bản và Mỹ là
hai nước sản xuất chính [14].
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu và sản xuất chitin-chitosan và ứng dụng của chúng


CHITIN: Chitin là một polysaccharide mạch thẳng, có cấu trúc tuyến tính gồm các
đơn vị N-acetyl-glucosamine nối với nhau nhờ cầu β-1,4-glucoside. Bằng phương
pháp nhiễu xạ tia X, người ta đã chứng minh được chitin tồn tại ở 3 dạng cầu hình là:
α, β, γ – chitin [1].


5
Các dạng này của chitin chỉ do sự sắp xếp khác nhau về hướng của mỗi mắc xích
(N-acetyl-D-glucosamine) trong mạch. Có thể biểu diễn mỗi mắc xích này bằng mũi
tên sao cho phần đầu mũi tên chỉ nhóm -CH2OH, phần đuôi chỉ nhóm -NHCOCH3, thì
các cấu trúc α, β, γ – chitin được mô tả như sau:

Hình 1.1. Sắp xếp các mạch trong phân tử chitin [1].
α – chitin có cấu trúc các mạch được sắp xếp ngược chiều nhau đều đặn, nên ngoài
liên kết hydro trong một lớp và hệ chuỗi, nó còn có liên kết hydro giữa các lớp do các
chuỗi thuộc lớp kề bên nên rất bền vững. Do các mắc xích sắp xếp đảo chiều, xen kẽ
nhau nên rất thuận lợi về mặt không gian và năng lượng. đây cũng là một dạng phổ
biến trong tự nhiên [22].
β, γ – chitin do mắc xích ghép với nhau theo kiểu song song (β – chitin) và hai
song song một ngược chiều (γ – chitin) nên giữa các lớp không có loại liên kết hydro
nào. Dạng β – chitin cũng có thể chuyển sang dạng α – chitin nhờ quá trình acetyl hóa
cho cấu trúc bền vững hơn [22].
Công thức cấu tạo của chitin:

Hình 1.2. Công thức cấu tạo của chitin [26].
Tên gọi: poly (1,4) – 2 – acetamido – 2 – deoxy – β – D – glucose; poly (1,4) – 2acetamido – 2 – deoxe – β – D – glucopyranose.
Công thức phân tử: (C8H13O5N)n



thụ tia hồng ngoại ở bước sóng 884 ÷ 890 cm [13].


7
Chitin ổn định với chất oxy hóa như KMnO4, nước javen, NaClO… người ta lợi
dụng tính chất này để khử màu cho chitin.
Chitin là một polysaccharide nguồn gốc tự nhiên, có hoạt tính sinh học cao, có tính
hòa hợp sinh học và tự phân hủy cao. Chitin bị men lysozyme, một loại men chỉ có ở
cơ thể con người, phân giải thành monome N–acetyl–D–glucosamine.
Chitin kết tinh ở dạng vô định hình, khó hòa tan trong dung dịch ammoniac (NH3), không hòa tan trong thuốc thử Scheizer – Sacrpamonia. Điều này có thể là do sự
thay đổi nhóm hydroxyl (-OH) tại vị trí C2 bằng nhóm acetamic (NHCOCH3) đã ngăn
cản sự tạo thành các phức hợp cần thiết [17].
Khi nung nóng chitin trong dung dịch NaOH đặc thì chitin sẽ bị khử mất gốc acetyl
tạo thành chitosan.

 Lợi dụng tính chất này người ta điều chế ra chitosan – chất có nhiều ứng dựng
trong công nghiệp thực phẩm (màng bao gói, bảo quản thực phẩm), là chất
trung gian điều chế ra glucosamine có nhiều tác dụng trong y học.
Khi đun nóng chitin trong acid HCl đặc thì chitin sẽ thủy phân tạo thành

Glucosamine 85,5% và acid acetic 14,5%.
 Lợi dụng tính chất này người ta điều chế ra glucosamine là một loại thuốc có
tác dụng chống thoái hóa khớp.
Phản ứng este hóa:
-

Chitin tác dụng với HNO3 đậm đặc cho sản phẩm chitin nitrat.

-


Các phản ứng của nhóm - OH

 Dẫn xuất sunfat.
 Dẫn xuất O – axyl của chitosan
 Dẫn xuất O – tosyl hóa của chitosan
-

Phản ứng ở vị trí N

 Phản ứng N – acetyl hóa chitosan
 Dẫn xuất N – sunfat chitosan.


9
 Dẫn xuất N – glycochitosan (N – hydroxyl – etylchitosan).
 Dẫn xuất acroleylen chitosan.
 Dẫn xuất acroleylchitosan.
-

Phản ứng xảy ra ở vị trí O, N

 Dẫn xuất O, N – cacboxymetylchitosan.
 Dẫn xuất N, O – cacboxychitosan.
 Phản ứng cắt đứt liên kết β–1,4–glucoside.
 Chitosan phản ứng với acid đậm đặc tạo muối khó tan.
 Chitosan tác dụng với iod trong môi trường H2SO4 cho phản ứng lên màu tím.
Đây là phản ứng dùng trong phân tích định tính chitosan [24].
-

Khả năng hấp thụ tạo phức với các ion kim loại chuyển tiếp

triển tăng sinh của tế bào, có khả năng nuôi dưỡng tế bào trong điều kiện nghèo dinh
dưỡng, tác dụng cầm máu, chống sung u [7].
Chitosan không những ức chế vi khuẩn gram+, gram- mà cả nấm men, nấm mốc.
Khả năng kháng khuẩn của chitosan phụ thuộc một vài yếu tố như loại chitosan sử
dụng (độ deacetyl, trọng lượng phân tử), pH môi trường, nhiệt độ, sự có mặt của một
số thành phần thực phẩm. Khả năng kháng khuẩn của chitosan và dẫn xuất của nó đã
được nghiên cứu bởi một số tác giả như Trần Thị Luyến và cộng sự (2005), Shimahara
và cộng sự (1982). Mặc dù chưa có một giải thích đầy đủ cho khả năng kháng khuẩn
liên quan đến mức độ hấp thụ chitosan lên bề mặt tế bào. Trong đó, chitosan hấp phụ
lên bề mặt tế bào vi khuẩn gram- tốt hơn vi khuẩn gram+. Một số cơ chế được giải
thích như sau:
+ Nhờ tác dụng của những nhóm NH3+ trong chitosan lên các vị trí mang điện tích
âm ở trên màng tế nào vi sinh vật, dẫn tới sự thay đổi tính thấm của màng tế bào làm
cho quá trính trao đổi chất qua màng tế bào bị ảnh hưởng. Lúc này, vi sinh vật không
thể nhận các chất dinh dưỡng cơ bản cho sự phát triển bình thướng bên trong và bên
ngoài tế bào và cuối cùng dẫn đến sự chết của tế bào.


11
+ Chitosan có thể ngăn cản sự phát triển của vi khuẩn do có khả năng lấy đi các ion
kim loại quan trọng như Cu2+, Co2+, Cd2+ của tế bào vi khuẩn nhờ hoạt động của các
nhóm amino trong chitosan có thể tác dụng với các nhóm anion của bề mặt thành tế
bào. Như vậy, vi sinh vật sẽ bị ức chế phát triển do sự mất cân bằng liên quan đến các
ion quan trọng.
+ Điện tích dương của những nhóm NH3+ của glucosamine monome ở pH < 6.3 tác
động lên các điện tích âm ở thành tế bào của vi khuẩn, dẫn đến sự rò rỉ các phần tử ở
bên trong màng tế bào. Đồng thời gây ra sự tương tác giữa sản phẩm của quá trình
thủy phân có khả năng khuếch tán bên trong tế bào vi sinh vật với DNA dẫn đến sự ức
chế mRNA và sự tổng hợp protein tế bào.
+ Chitosan có khả năng phá hủy màng tế bào thông qua tương tác của những nhóm

dưới da, mà còn ứng dụng an toàn trong ghép mô.
Chitosan với trọng lượng phân tử thấp để tiêm tĩnh mạch, không thấy tích lũy ở gan.
Loại chitosan có DD = 50% có khả năng phân hủy sinh học cao, sau khi tiêm vào ổ
bụng chuột, nó được thải trừ dễ dàng, nhanh chóng qua thận và nước tiểu, chitosan
không phân bổ tới gan và lá lách.
Những ưu điểm của chitosan: tính cơ học tốt, không độc, dễ tạo màng, có thể tự
phân hủy sinh học, hòa hợp sinh học không những đối với động vật mà còn đối với các
mô thực vật, là vật liệu y sinh tốt làm mau liền vết thương.
Chitosan không độc hoặc độc tính rất thấp trên động vật thí nghiệm và nó có thể sử
dụng an toàn trên cơ thể con người [25].
1.2.

Quy trình sản xuất chitin – chitosan

Mặc dù chitin phân bố rộng rãi trong tự nhiên nhưng nó không được tìm thấy ở
dạng tinh khiết. Chitin ở trạng thái tự nhiên thì liên kết với protein, lipid, sắc tố và
canxi. Vì vậy, nó cần phải được làm sạch trước khi sử dụng cho bất kì mục đích
thương mại nào. Phương pháp dụng để phân tách và tinh sạch chitin phải đẩm bảo lấy
đi khoáng và tận dụng được các hợp chất có giá trị khác. Do đó, nhiều phương pháp đã
được áp dụng cho việc thu hồi chitin như phương pháp hóa học, phương pháp sinh học
hoặc phương pháp kết hợp hóa học với sinh học. Tuy nhiên, hiện nay các qui trình sản
xuất chitin ở qui mô lớn chủ yếu sử dụng phương pháp hóa học. Phương pháp hóa học
có ưu điểm như nhanh, đơn giản, dễ thực hiện ở qui mô lớn. Tuy nhiên, phương pháp
hóa học cũng có nhiều nhược điểm như sản phẩm chitin, chitosan có phân tử lượng
thấp, độ nhớt thấp, dư lượng hóa chất lớn, ô nhiễm môi trường, ăn mòn thiết bị [1].
Chitosan được sản xuất từ chitin qua quá trình tách nhóm acetyl (deacetylation).
Tất cả các công đoạn trên đều được xử lý bằng hóa chất, tùy theo loại nguyên liệu,


13

sản phẩm chitosan sản xuất từ chitin của qui trình bắt đầu bằng công đoạn khử khoáng
sau đó khử protein có độ nhớt cao hơn (Lertsutthiwong và cộng sự, 2002). Ngoài ra, để
nâng cao chất lượng chitin, người ta có thể tiến hành khử khoáng nhiều lần với nồng
độ acid xử lý thấp. Để xác định chế độ xử lý khử khoáng phù hợp có thể dùng phương
pháp thực nghiệm, kết hợp với tính toán dựa trên phương trình phản ứng hóa học [15].
1.2.2. Quá trình khử protein
Tương tự như quá trình khử khoáng, quá trình khử protein từ phế liệu thủy sản
cũng có thể thực hiện với nhiều hóa chất như NaOH, Na2CO3, NaHCO3, KOH, K2CO3,
Ca(OH)2. Tuy nhiên, NaOH là được sử dụng nhiều nhất, nồng độ từ 1 đến 10%, ở
nhiệt độ phòng hoặc nhiệt độ cao, có khi lên đến 100oC, thời gian xử lý từ vài giờ đến
vài ngày. Tùy theo tính chất của nguyên liệu mà chúng ta có chế chọn chế độ để khử
protein phù hợp [1].
Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình này là:
 Nhiệt độ: Đối với quá trình khử protein, nhiệt độ đóng vai trò quan trọng, ở
nhiệt độ thường, quá trình tách protein diễn ra chậm, thời gian thủy phân từ 1
ngày đến vài ngày. Khi nâng nhiệt độ xử lý thì thời gian cần thiết để tách
protein giảm đáng kể. Để rút ngắn thời gian tách protein chỉ còn vài giờ thì
nhiệt độ cần đạt khoảng 90-100oC. Ngoài ra, tỷ lệ giữa phế liệu với dung dịch
hóa chất cũng đóng vai trò quan trọng quyết định hiệu quả của quá trình tách
protein. Để tăng hiệu quả tách protein, trong nhiều nghiên cứu quá trình tách
protein được lập lại nhiều lần. Tuy nhiên, cần phải lưu ý là sử dụng nhiệt độ cao
hoặc thời gian xử lý dài sẽ dẫn đến quá trình cắt mạch của sản phẩm chitin.
 Nồng độ kiềm sử dụng ảnh hưởng đến chất lượng chitin và chitosan thu được.
Nồng độ cao thì khả năng thủy phân protein cao, thời gian xử lý ngắn, hàm
lượng protein còn lại trong sản phẩm chitin thấp. Tuy nhiên, gây ra hiện tượng
cắt mạch chitin và chitosan. Thông thường nồng độ kiềm sử dụng là 4%.


15
 Tỷ lệ giữa dung dịch kiềm và phế liệu cũng ảnh hưởng lớn đến hiệu quả tách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status