Tác động của FDI tới mục tiêu phát triển bền vững của việt nam - Pdf 31

Vũ Thị Chung Đề án môn học
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang trên con đường bước vào thiên niên kỷ mới,
con đường đổi mới và hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Sự hội nhập đó đã
khép lại một thời kỳ kinh tế tự cung tự cấp, phát triển chậm chạp và lạc
hậu. Nhìn lại những năm qua, tốc độ đầu tư trong nền kinh tế nước ta có sự
tăng trưởng mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển cũng như cải thiện đời
sống xã hội. Lựa chọn xu hướng phát triển bền vững trong đó gắn chặt phát
triển kinh tế với phát triển văn hóa- xã hội và bảo vệ môi trường là một
trong những chính sách đúng đắn của đảng và nhà nước. Trong thời gian
qua nước ta đã đạt được một số thành tựu đáng khích lệ trong việc thực
hiện thành công mục tiêu này .Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều
vấn đề hạn chế cần sớm được khắc phục. Trong những thành tựu và hạn
chế đó có sự tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI).
Đề tài: “Tác động của FDI tới mục tiêu phát triển bền vững của việt
nam” nhằm xem xét các tác động đó đến mục tiêu phát triển bền vững của
việt nam để từ đó đưa ra được những giải pháp thích hợp nhằm phát huy
những mặt tích cực và hạn chế các mặt tiêu cực nâng cao hơn nữa vai trò
của FDI. Cấu trúc đề tài gồm 3 chương
Chương I: Lí luận chung về FDI và phát triển bền vững
Chương II: Thực trạng về FDI trong mục tiêu phát triển bền vững của
Việt Nam
Chương III: Định hướng và giải pháp thu hút FDI hướng đến mục tiêu
phát triển bền vững của Việt Nam
Em xin chân thành cảm ơn thạc sĩ Lương Hương Giang đã giúp đỡ em
hoàn thành đề tài này!
1
Vũ Thị Chung Đề án môn học
Chương I: Lí luận chung về FDI và phát triển bền vững
I.Tổng quan về FDI
1. Khái niệm

Vũ Thị Chung Đề án môn học
doanh nghiệp và quản lí đối tượng hợp tác tùy thuộc vào mức độ góp của
các bên khi tham gia còn đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì
người nước ngoài( chủ đầu tư) toàn quyền quản lí doanh nghiệp
2.3 Lợi nhuận của chủ đầu tư
Lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả sản xuất
kinh doanh . Kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh của dự án được
phân chia cho các bên theo tỉ lệ góp vốn và vồn pháp định sau khi nộp thuế
cho nước sở tại và trả lợi tức cổ phần nếu có.
2.4 Hình thức đầu tư
FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp
mới, mua lại toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc
mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sát nhập các doanh nghiếp với nhau.
2.5 Hoạt động chuyển giao công nghệ
FDI không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn gắn với chuyển giao
công nghệ ,chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý và tạo ra thị
trường mới cho cả phia đầu tư và phía nhận đầu tư. Nhà đầu tư cùng với
việc đưa vốn còn đưa cả công nghệ bí quyết công nghệ kỹ năng tiếp thị
quản lý đào tạo nhân công và các năng lực trong sản xuất kinh doanh cũng
như trong vấn đề quản lý dianh nghiệp cho nước tiếp nhận vốn .Vốn FDI
không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn
pháp định mà nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai
và mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư trích từ lợi nhuận thu được trong
quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Thông thường đi kèm với dự án fdi
là ba yếu tố hoạt động thương mại, chuyển giao công nghệ và di cư lao
động quốc tế. Di cư lao động quốc tế cũng góp phần vào việc chuyển giao
kỹ năng quản lý của doanh nghiệp FDI
2.6 FDI ít chịu sự chi phối của chính phủ
FDI do các nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp tư nhân thực hiện nên nó ít
chịu sự chi phối của chính phủ dặc biệt nó ít bị phụ thuộc vào mối quan hệ

Trong quá trình thực hiện các dự án FDI có sự cọ xát giữa các nền văn
hóa khác nhau sự cọ xát này đòi hỏi cần có sự giao hòa văn hóa giữa các
bên liên quan từ đó có được sự hợp tác tốt đẹp. Điều này lí giải hiện tượng
khi mới đầu tư vào thị trường nào đó các nhà đầu tư nước ngoài thường lựa
chọn hình thức doanh nghiệp liên doanh để giảm bớt rủi ro .Nhưng khi đã
tìm hiểu và rõ hơn về thị trường đầu tư thì họ lại có xu hướng đầu tư theo
4
Vũ Thị Chung Đề án môn học
hình thức 100% vốn nước ngoài để có thể toàn quyền quyết định mà không
có sự phụ thuộc hay tranh chấp trong các quyết định đầu tư.
3. Hình thức đầu tư
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể chia theo nhiều tiêu thức khác nhau
Nếu căn cứ vào tính pháp lí của đầu tư trực tiếp nước ngoài thì FDI bao
gồm
Hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài, hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
(BOT), xây dựng- chuyển giao- kinh doanh (BTO), xây dựng – chuyển
giao (BT)
Nếu căn cứ vào tính chất đầu tư bao gồm :
• đầu tư tập trung trong khu công nghiệp khu chế xuất và
• đầu tư phân tán
Nếu căn cứ vào quá trình tái sản xuất bao gồm:
• đầu tư vào nghiên cứu và triển khai,
• đầu tư vào cung ứng nguyên liệu,
• đầu tư vào sản xuất,
• đầu tư vào tiêu thụ sản phẩm,….
Nếu căn cứ vào lĩnh vực đầu tư bao gồm: đầu tư vào công nghiệp, nông
nghiệp, dịch vụ,….
Nếu căn cứ vào động cơ đầu tư bao gồm:
• FDI vì động cơ tìm kiếm nguồn lực

FDI là một rong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về
vốn ngoại tệ của các nước nhận đầu tư đặc biệt là đối với các nước đang
phát triển. Hầu hết các nước đang phát triển đều rơi vào cái vòng luẩn quẩn
đó là “ thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp vì vậy đầu tư thấp rồi hậu quả
lại là thu nhập thấp. tình trạng luẩn quẩn này chính là “ điểm nút” khó khăn
nhất mà các nước này phải vượt qua để hội nhập vào quỹ đạo tăng trưởng
kinh tế hiện đại. Nhiều nước lâm vào tình trạng của sự nghèo đói bởi lẽ
không lựa chọn và tạo ra được điểm đột phá chính xác một mắt xích của
6
Vũ Thị Chung Đề án môn học
vòng luẩn quẩn này. Trở ngại lớn nhất để thực hiện điều đó đối với các
nước đang phát triển là vốn đầu tư và kỹ thuật. Vốn đầu tư là cơ sở để tạo
ra công ăn việc làm trong nước, đổi mới công nghệ, kỹ thuật tăng năng
suất lao động,.. Từ đó tạo tiền đề tăng thu nhập tăng tích lũy cho sự phát
triển của xã hội. Tuy nhiên để tạo vốn cho nền kinh tế nếu chỉ trông chờ
vào tích lũy nội bộ thì hậu quả khó tránh khỏi sẽ tụt hậu trong sự phát triển
chung của thế giới. Do đó vốn nước ngoài sẽ là một cú hích để góp phần
đột phá cái vòng luẩn quẩn đó. Đặc biệt FDI là một nguồn quan trọng để
khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không gây nợ cho nước nhận đầu tư.
Hơn nữa luồng vốn này có lợi thế hơn đối với vốn vay ở chỗ: thời hạn trả
nợ vốn vay thường cố định và đôi khi quá ngắn so với một số dự án đầu tư
còn thời hạn của fdi thì linh hoạt hơn
Theo mô hình lí thuyết hai lỗ hổng của Cherery và Strout có hai cản trở
chính cho sự tăng trưởng của một quốc gia đó là (1). Tiết kiệm không đủ
đáp ứng cho nhu cầu đầu tư được gọi là lỗ hổng tiết kiệm (2). Thu nhập
của hoạt động xuất khẩu không đủ đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho hoạt động
nhập khẩu được gọi là lỗ hổng thương mại. Hầu hết ở các nước đang phát
triển hai lỗ hổng trên rất lớn vì vậy FDI còn là một nguồn quan trọng
không chỉ để bổ sung nguồn vốn nói chung mà cả sự thiếu hụt về ngoại tệ
nói riêng. Bởi vì FDI góp phần nhằm tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng

R&D của các chi nhánh TNCs ở nước ngoài là cải biến công nghệ cho phù
hợp với điều kiện sử dụng của địa phương. Dù vậy các hoạt động cải tiến
công nghệ của các doanh nghiệp ĐTNN đã tạo ra nhiều mối quan hệ liên
kết cung cấp dịch vụ công nghệ từ các cơ sở nghiên cứu ứng dụng công
nghệ trong nước. Nhờ đó đã gián tiếp tăng cường năng lực phát triển công
nghệ của địa phương. Mặt khác trong quá trình sử dụng công nghệ nước
ngoài các nhà đầu tư và phát triển công nghệ trong nước học được cách
thiết kế chế tạo….công nghệ nguồn sau đó cải biến cho phù hợp với điều
kiện sử dụng của địa phương và biến chúng thành công nghệ của mình.
Nhờ có những tác động tích cực trên khả năng công nghệ của nước chủ nhà
được tăng cường vì thế nâng cao năng suất các thành tố nhờ đó thúc đẩy
được tăng trưởng
4.1.5 Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm
Nguồn nhân lực có ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động sản xuất các
vấn đề xã hội và mức độ tiêu dùng của dân cư. Việc cải thiện chất lượng
cuộc sống thông qua đầu tư vào các lĩnh vực sức khỏe dinh dưỡng, giáo
dục, đào tạo nghề nghiệp và kỹ năng quản lí sẽ tăng hiệu quả sử dụng
nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động và các yếu tố sản xuất khác
nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng
8
Vũ Thị Chung Đề án môn học
Ngoài ra tạo việc làm không chỉ tăng thu nhập cho người lao động mà
còn góp phần tích cực giải quyết các vấn đề xã hội. đây là các yếu tố có
ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ tăng trưởng
FDI ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội tạo ra công ăn việc làm thông qua
việc cung cấp việc làm trong các hang có vốn đầu tư nước ngoài. FDI còn
tạo ra những cơ hội việc làm trong các tổ chức khác khi các nhà đầu tư
nước ngoài mua hàng hóa dịch vụ từ các nhà sản xuất trong nước hoặc thuê
họ thông qua các hợp đồng gia công chế biến. Thực tiễn ở một số nước cho
thấy fdi đã đóng góp tích cực tạo ra việc làm trong các ngành sử dụng

nước ngoài ở nước chủ nhà. Việc hình thành các kiên kết này là cơ sở quan
trong để chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy
xuất nhập khẩu của nước chủ nhà
Cụ thể qua hoạt động cung ứng nguyên vật liệu dich vụ cho các công ty
nước ngoài sản xuất hàng xuất khẩu các doanh nghiệp nội địa phát triển
năng lực sản xuất của mình ( mở rộng sản xuất, bắt chước quy trình sản
xuất và mẫu mã hàng hóa…). Sau một thời gian nhất định các doanh
nghiệp trong nước có thể tự xuất nhập khẩu được
4.1.8 Tác động hai mặt đến đàu tư trong nước
Các dòng FDI dẫn đến gia tăng dòng đầu tư trong nước theo các lĩnh
vực : trở thành kênh phân phối cho các TNC nhà cung cấp cho các TNC
hoặc thích ứng cạnh tranh với TNC. Bên cạnh tác động tích cực FDI có thể
hạn chế đầu tư trong nước do bị cạnh tranh nguông lực thị trường
4.1.9 Các tác động quan trọng khác
Ngoài những tác động kể trên FDI còn tác động đáng kể dến các yếu
tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế như : chất lượng môi trường, cạnh
trạnh và độc quyền, chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, hội nhập khu vực và
quốc tế
Mặc dù chất thải của các công ty nước ngoài nhất là trong các ngành
khai thác và chế tạo là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên
tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng ở các nước đang phát triển tuy
nhiên có nhiều nghiên cứu cho thấy các TNCs rất chú trọng và tích cực bảo
vệ môi trường hơn các công ty nội địa. Bởi vì quy trình sản xuất của họ
thường được tiêu chuẩn hóa cao nên dễ dàng đáp ứng các tiêu chuẩn bảo
vệ môi trường của nước chủ nhà. Hơn nữa các TNCs thường có tiềm lực
tài chính lớn do đó có điều kiện thuận lợi trong xử lý các chất thải và tham
gia góp quỹ hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường
FDI tác động mạnh đến cạnh trạnh và độc quyền thông qua việc thêm
vào các đối thủ cạnh trạnh hoặc sử dụng sức mạnh của mình để khống chế
10

chất lượng lao động của mỗi cá nhân. Do hoạt động trong môi trường cạnh
tranh gay gắt, những người làm việc trong các dự án đtnn phải có thái độ
nghiêm túc với công việc và đảm bảo uy tín cao đối với khách hàng. Nhờ
đó góp phần quan trọng trong hình thành nên phong cánh kinh doanh có
văn hóa
11
Vũ Thị Chung Đề án môn học
Đầu tư nước ngoài đã làm thay đổi đáng kể lối sống tập quán của các
tầng lớp dân cư theo kiểu hiện đại tiêu dung công nghiệp. Tác phong công
nghiệp đã buộc người lao động phải tiết kiệm thời gian cho các gia đình và
sinh hoạt cá nhân
Đầu tư nước ngoài tác động tích cực đến văn hóa giao tiếp ứng xử ở
nước chủ nhà. Những người làm việc trong khu vực ĐTNN hoặc có quan
hệ với các công ty nước ngoài thường có phong cách giao tiếp lịch sự và
thái độ ững xử hòa nhã tôn trọng đồng nghiệp và khách hàng. Phong cách
này dần lan tỏa ra các cá nhân trong toàn xã hội
4.2.2 Chủ quyền và an ninh quốc gia
ĐTNN chủ yếu được thực hiện bởi các TNCs có tiềm lực mạnh về tài
chính khoa học công nghệ và mạng lưới phân bố trên phạm vi toàn cầu. do
đó khi tiếp nhận đtnn các nước đang phát triển rất lo ngại trước sức mạnh
của các công ty này có thể can thiệp vào chủ quyền lãnh thổ đe dọa an ninh
chính trị và làm lũng đoạn nền kinh tế của mình
Về mặt lí thuyết ĐTNN có đe dọa đến an ninh kinh tế của nước chủ
nhà thông qua thao túng mốt số ngành sản xuất quan trọng những hàng hóa
thiết yếu hoặc đẩy mạnh cơ cấu đàu cơ, buôn lậu rút chuyển vốn đi nơi
khác…Vì mục tiêu theo đuổi lợi nhuận cao nên không loại trừ một số
TNCs có thể can thiệp một cách gián tiếp vào các vấn đề chính trị của
nước chủ nhà. Do đó đảm bảo tôn trọng chủ quyền lãnh thổ là nguyên tắc
hàng đầu trong các chính sách luật pháp thu hút ĐTNN của nước chủ nhà.
Hơn nữa mặc dù có tiềm lực mạnh nhưng các TNCs là những nhà kinh

cũng là mối quan tâm hàng đầu của các tổ chức quốc tế từ sau đại chiến thế
giới II (UNDP, UNESCO, WHO, FAO, và ICSU). Các tổ chức này đã phối
hợp chặt chẽ trong việc tìm hiểu diễn biến môi trường tự nhiên, từ đó đưa
ra chương trình hành động hướng các quốc gia phát triển theo mô hình bền
vững. Năm 1951, UNESCO đã xuất bản một tài liệu đáng lưu ý với tiêu đề
"Thực trạng bảo vệ môi trường thiên nhiên trên thế giới vào những năm
50". Tài liệu này được cập nhật vào năm 1954 và được coi là một trong số
những tài liệu quan trọng của "Hội nghị về môi trường con người" (1972)
do Liên hiệp quốc tổ chức tại Stockholm (Thuỵ Điển) và cũng được xem
như là "tiền thân" của báo cáo Brunđtland.
Thập kỷ 70, thuật ngữ xã hội bền vững tiếp tục xuất hiện trong các công
trình nghiên cứu của các học giả phương Tây, với công trình của Barry
Cômmner "Vòng tròn khép kín" (1971), Herman Daily "Kinh tế học nhà
nước mạnh" (1973) và công trình "Những con đường sử dụng năng lượng
mềm: về một nền hoà bình lâu dài" của Amory Lovins (1977). Khái niệm
phát triển bền vững tiếp tục được đề cập và bổ sung với những đóng góp
quan trọng thể hiện trong các tác phẩm của Maurice Strong (1972), và
Ignacy Sachs (1975). Đặc biệt khái niệm này được đề cập toàn diện nhất
trong công trình của Laster Brown "Xây dựng một xã hội bền vững"
(1981).
13
Vũ Thị Chung Đề án môn học
Đầu thập niên 80, thuật ngữ phát triển bền vững lần đầu tiên được sử
dụng trong chiến lược bảo tồn thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và
tài nguyên thiên nhiên quốc tế, Quỹ động vật hoang dã thế giới và Chương
trình môi trường Liên hiệp quốc đề xuất, cùng với sự trợ giúp của
UNESCO và FAO. Tuy nhiên. khái niệm này chính thức phổ biến rộng rãi
trên thế giới từ sau báo cáo Brundrland (1987). Kể từ sau báo cáo
Brundtland, khái niệm bền vững trở thành khái niệm chìa khoá giúp các
quốc gia xây dựng quan điểm, định hướng, giải pháp tháo gỡ bế tắc trong

Vũ Thị Chung Đề án môn học
2. Qúa trình hoàn thiện quan niệm
Tháng 4 năm 1968: Tổ chức The Club of Rome được sáng lập, đây là một
tổ chức phi chính phủ hỗ trợ cho việc nghiên cứu "Những vấn đề của thế
giới" - một cụm từ được đặt ra nhằm diễn tả những vấn đề chính trị, văn
hóa, xã hội, môi trường và công nghệ trên toàn cầu với tầm nhìn lâu dài.
Tổ chức này đã tập hợp những nhà khoa học, nhà nhiên cứu, nhà kinh
doanh cũng như các nhà lãnh đão của các quốc gia trên thế giới (bao gồm
cả Tổng thống Liên xô Mikhail Sergeyevich Gorbachyov và Rigoberta
Menchú Tum). Trong nhiều năm, The Club of Rome đã công bố một số
lượng lớn các báo cáo, bao gồm cả bản báo cáo The Limits to Growth (Giới
hạn của sự tăng trưởng) - được xuất bản năm 1972 đề cập tới hậu quả của
việc tăng dân số quá nhanh, sự hữu hạn của các nguồn tài nguyên...
Tháng 6 năm 1972: Hội nghị của Liên Hợp Quốc về con người và môi
trường được tổ chức tại Stockhom, Thụy Điển được đánh giá là là hành
động đầu tiên đánh dấu sự nỗ lực chung của toàn thể nhân loại nhằm giải
quyết các vấn đề về môi trường. Một trong những kết quả của hội nghị lịch
sử này là sự thông qua bản tuyên bố về nguyên tắc và kế hoạch hành động
chống ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, Chương trình Môi trường của Liên
Hợp Quốc cũng được thành lập.
Năm 1984: Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã ủy nhiệm cho bà Gro Harlem
Brundtland, khi đó là Thủ tướng Na Uy, quyền thành lập và làm chủ tịch
Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (World Commission on
Environment and Development - WCED), nay còn được biết đến với tên Ủy
ban Brundtland. Tới nay, ủy ban này đã được ghi nhận có những công hiến
rất giá trị cho việc đẩy mạnh sự phát triển bền vững.
Năm 1987: Hoạt động của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới trở
nên nóng bỏng khi xuất bản báo cáo có tựa đề "Tương lai của chúng ta"
(tựa tiếng Anh: Our Common Futur và tiếng Pháp là Notre avenir à tous,
ngoài ra còn thường được gọi là Báo cáo Brundtland). Bản báo cáo này lần

mối quan hệ với thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp
lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi
trường sống.”
3. Nội dung phát triển bền vững
Môi Trường Bền Vững : Khía cạnh môi trường trong phát triển bền vững
đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với
sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm
mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn
nhất định cho phép môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con
người và các sinh vật sống trên trái đất
Xã Hội Bền Vững : Khía cạnh xã hội của phát triển bền vững cần được chú
trọng vào sự phát triển sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận
lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ
hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được.
Kinh tế Bền Vững : Yếu tố kinh tế đóng một vai trò không thể thiếu trong
phát triển bền vững. Nó đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó
cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi
và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động
kinh tế được chia sẻ một cách bình đẳng. Khẳng định sự tồn tại cũng như
16
Vũ Thị Chung Đề án môn học
phát triển của bất cứ ngành kinh doanh , sản xuất nào cũng được dựa trên
những nguyên tắc đạo lý cơ bản. Yếu tố được chú trọng ở đây là tạo ra sự
thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi
nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như
không xâm phạm những quyền cơ bản của con người.
4. Việt Nam với vấn đề phát triển bền vững
Khái niệm “Phát triển bền vững” được biến đến ở Việt Nam vào những
khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90. Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam
khá muộn nhưng nó lại sớm được thể hiện ở nhiều cấp độ.

17
Vũ Thị Chung Đề án môn học
kinh tế, bảo vệ môi trường, phát triển chính trị, tinh thần, trí tuệ, và cuối
cùng là chỉ báo quốc tế về phát triển. Trong một bài viết gần đây đăng trên
Tạp chí Xã hội học (2003) của tác giả Bùi Đình Thanh với tiêu đề "Xã hội
học Việt Nam trước ngưỡng của thế kỷ XXI" tác giả cũng chỉ ra 7 hệ chỉ
báo cơ bản về phát triển bền vững: Chỉ báo kinh tế, xã hội, môi trường,
chính trị, tinh thần, trí tuệ, văn hoá, vai trò phụ nữ và chỉ báo quốc tế. Nhìn
chung các công trình nghiên cứu này có một điểm chung là thao tác hoá
khái niệm phát triển bền vững theo Brundtland, tuy nhiên cần nói thêm
rằng những thao tác này còn mang tính liệt kê, tính thích ứng của các chỉ
báo với thực tế Việt Nam, cụ thể là ở cấp độ địa phương, vùng, miền, hay
các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội vẫn chưa được làm rõ.
Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp quy nhằm đẩy mạnh và
hướng dẫn thực hiện phát triển bền vững. Năm 1991, Việt Nam là một
trong những quốc gia đầu tiên ban hành "Kế hoạch quốc gia về Môi trường
và Phát triển bền vững giai đoạn 1991-2000. Ở cấp quốc gia, văn bản có ý
nghĩa quan trọng nhất là Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02 tháng
12 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược bảo
vệ Môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Nghị
quyết số 41/NQ-TƯ ngày 15 tháng 11 năm 2004 về bảo vệ Môi trường
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá; Luật bảo vệ Môi
trường sửa đổi năm 2005 và Kế hoạch hành động Đa dạng sinh học đang
trình Chính phủ.
Chiến lược PT KT – XH 2001 – 2010 xác định quan điểm số 1: “Phát
triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện
tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”.
Tháng 4 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số
153/2004/QĐ-TTg phê duyệt Định hướng Chiến lược phát triển bền vững
ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam). Chiến lược nêu lên

phát triển sản xuất theo hướng thân thiện môi trường, công nghiệp hóa, phát
triển nông nghiệp - nông thôn bền vững, phát triển công nghiệp sạch. Nguồn
vốn đầu tư phải là đầu tư kinh doanh và không nhằm mục đích trục lợi nào
khác. Một số tổ chức lợi dụng danh nghĩa đầu tư dưới dạng FDI nhưng
thực chất là để rửa tiền, hoặc một số khác có đầu tư kinh doanh nhưng với
mục đích khai thác những nguồn tài nguyên thiên nhiên.
1.2 Đảm bảo lợi ich xã hội
FDI với các lợi thế của nó như đã được phân tích ở trên là một trong
những lợi thế giúp cho nước tiếp nhận thúc đẩy được sự phát triển bền
vững của đất nước thông qua việc giải quyết các vấn đề xã hội cấp bách.
Tuy nhiên để làm được điều đó một cách có hiệu quả thì các dự án fdi phải
bao hàm các yếu tố thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm các mục tiêu:
tiến bộ và công bằng xã hội; xóa đói giảm nghèo; giải quyết việc làm, tăng
thu nhập; nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao dân trí, trình độ nghề
nghiệp, chăm sóc sức khỏe…
1.3 Đảm bảo môi trường
Có chính sách phát triển lâu dài và thân thiện với môi trường sinh thái.
Vấn đề này là hết sức quan trọng để cấu thành nên một FDI thân thiết với
môi trường. Các dự án FDI không chỉ có phương án đầu tư mà phải kèm
19
Vũ Thị Chung Đề án môn học
theo phương án bảo vệ môi trường , xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và
cải thiện chất lượng môi trường, phòng chống cháy và chặt phá rừng khai
thác tài nguyên bừa bãi.
2. Nhân tố quyết định ảnh hưởng
2.1 Cơ chế chính sách thông thoáng, khuyến khích đầu tư để thu hút và
giữ chân nhà đầu tư
Chính sách quản lý ngoại tệ của một quốc gia tác động trực tiếp tới tâm
lí của nhà đầu tư nước ngoài ,một quốc gia quản lí ngoại hối theo nguyên
tắc thả nổi theo thị trường sẽ dẫn đến sự thay đổi liên tục của tỷ giá hối

vững
2.3 Môi trường cạnh tranh , những sức ép từ thị trường thế giới và thị trường
nội địa
Đây là các nhân tố thúc đẩy sự phát triển thông qua việc hoàn thiện gia tăng
năng lực của doanh nghiệp bao gồm : đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực của
đội ngũ lao động, thực hiện chính sách thân thiện môi trường , đáp ứng các tiêu
chuẩn của thị trường,…tất cả các yếu tố này có mối liên hệ trực tiếp tới cac mục
tiêu phát triển bền vững và cho thấy được tính chặt chẽ và hoàn thiện của các dự
án đầu tư nước ngoài điều mà các nước tiếp nhận đều mong muốn.
2.4 Tầm nhìn mang tính dài hạn của nhà đầu tư
Như chúng ta biết mục tiêu của các dự án đầu tư nước ngoài là lợi nhuận và
chính vì theo đuổi mục tiêu này mà các dự án fdi thường chứa đựng nhiều hạn chế
ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế của nước chủ nhà. Tuy nhiên nếu như các nhà
đầu tư có chiến lược dài hạn trong việc đảm bảo nguồn lợi ích ổn định và lâu dài
thì khi đó các nhà đầu tư mới lưu tâm đến các nhân tố đảm bảo cho yếu tố dài hạn
đó. Ngược lại một dự án đầu tư nếu chỉ nhằm hướng tới lợi ích trước mắt thì nó sẽ
có tinh đánh đổi mà tổn hại sẽ thuộc về các nước tiếp nhận. vì vậy trong việc thu
21
Vũ Thị Chung Đề án môn học
hút các dự án fdi cần pahir xem xét nghiên cứu kĩ chiến lược phát triển của nó để
có thể thu hút được các dự án thực sự chất lượng
2.5 Những sáng kiến và cam kết hợp tác quốc tế
Trong bối cảnh nền kinh tế mang tính toàn cầu và có sự phân công lao động quốc
tế thì sự hợp tác giữa các quốc gia là không thể thiếu. Xét về khía cạnh đầu tư
nước ngoài thì yếu tố này lại càng đóng vai trò quan trọng hơn nữa. Một dự án
FDI muốn được thực hiện thì cần có sự phê duyệt của cả hai bên .Vì vậy nếu
trong các điều ước và cam kết giữa các quốc gia có đưa vào những quy định về
các tiêu chuẩn cần đạt được các dự án FDI nếu muốn đầu tư thì sẽ buộc các dự án
FDI sẽ phải quan tâm hơn tới các tiêu chuẩn về môi trường và xã hội.


FDI thực
hiện
(Triệu
USD)
Tỷ lệ
thực hiện
(%)
1988-
1990
21
1
1602,2 7,6
1991 152 1291,5 8,49 328,8 25,46
1992 196 2208,5 11,27 574,9 26,03
1993 274 3037,4 11,08 1.017,5 33,5
1994 372 4188,4 11,26 2.040,6 48,72
1995 415 6937,2 16,72 2556 36,84
1996 372 10164,1 27,32 2714 26,7
1997 349 5590,7 16,02 3115 55,72
1998 285 5099,9 17,9 2.367,4 46,42
1999 327 2565,4 7,85 2.334,9 91
2000 391 2838,9 7,26 2.413,5
85,01
2001 555 3142,8 5,66 2.450,5
77,97
23
Vũ Thị Chung Đề án môn học
2002 808 2998,8 3,71 2.591
86,40
2003 791 3191,2 4,03 2.650

triệu USD. Đặc biệt giảm mạnh vào năm 1999 chỉ còn 2.565,4 triệu USD
và tiếp tục ngưng trệ cho đến năm 2003.
24
Vũ Thị Chung Đề án môn học
Giai đoạn (2004- 2006): Đây là giai đoạn FDI phục hồi và phát triển. Năm
sau tăng gấp đôi so với năm trước. Năm 2004 chỉ mới đạt 4.547,6 triệu
USD thì năm 2006 lên tới 12.004 triệu USD tăng 264% so với 2004.
Giai đoạn (2007-2009): Sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại
WTO các chính sách ngoại thương cởi mở hơn, đã tạo điều kiện thuận lợi
cho các nhà đầu tư, nhờ đó đã tạo ra một hiệu ứng rất tốt trong việc thu hút
FDI, nó được phản ánh qua năm 2007, 2008. Năm 2007 Việt Nam đã thu
hút 1544 dự án và 21.347,8 triệu USD, tăng gần 2 lần năm 2006, đó mới
chỉ là kết quả của 1 năm gia nhập WTO. Chưa dừng lại ở đó qua năm 2008
Việt Nam đã thu hút một con số cực kỳ ấn tượng với 71.726 triệu USD gấp
hơn 3 lần so với năm 2007 bất chấp khủng hoảng tài chính toàn cầu và nền
kinh tế việt nam đã trải qua những biến cố đầy khó khăn. Qua đó lọt vào
top 10 nền kinh tế hấp dẩn vốn đầu tư FDI nhất.
Theo số liệu thống kê trong 9 tháng đầu năm 2010 cả nước có 720 dự án
mới được cấp GCNĐT với tổng vốn đăng ký 11.400 triệu USD, tăng
37,3% so với cùng kỳ 2009. Trong 9 tháng đầu năm 2010, có 153 dự án
đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 783 triệu USD,
giảm 13,8% so với cùng kỳ năm 2009.
Tình hình tăng, giảm vốn đầu tư giai đoạn 1988-2009
Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới, nhiều dự án sau khi hoạt
động có hiệu quả đã mở rộng quy mô sản xuất-kinh doanh, tăng thêm vốn
đầu tư, nhất là từ năm 2001 trở lại đây.
Tình hình tăng vốn đầu tư giai đoạn 1991-2009
Đơn vị tính:tỷ USD
Năm Số vốn tăng thêm
1991-1995 2,13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status