Đề án môn học
PHẦN MỞ ĐẦU
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu xuất hiện từ cuối năm 2008 và bùng phát vào
đầu năm 2009 đã có những tác động không nhỏ tới các quốc gia trên thế giới, trong đó
có Việt Nam và gây ra nhiều tác động tiêu cực đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế,
suy thoái kinh tế khiến cho kế hoạch phát triển của hầu hết các ngành kinh tế đều bị ảnh
hưởng.
Đối với ngành công nghiệp năng lượng nói chung và ngành điện lực nói riêng,
khủng hoảng đã gây ra những khó khăn đáng kể, ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh
doanh của ngành. Đặc biệt là với điện lực, đây là ngành công nghiệp trọng yếu của quốc
gia, phục vụ cho hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, một thay đổi nhỏ trong khả năng
cung ứng của ngành này cũng gây ra tổn thất lớn cho quốc gia. Mặt khác, trước khủng
hoảng, vốn vẫn là bài toán khó tháo gỡ của ngành điện, dưới tác động của khủng hoảng
kinh tế việc tìm vốn cho đầu tư phát triển ngành điện lại càng khó khăn, trong khi yêu cầu
mở rộng sản xuất gia tăng sản lượng điện cung ứng cho nền kinh tế vẫn ngày càng tăng
cao. Tình trạng thiếu điện cho sinh hoạt và sản xuất vốn đã là sức ép lớn đối với ngành
điện thì với tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế việc đầu tư mở rộng sản xuất đối với
ngành điện đã và đang gặp phải những chướng ngại lớn. Đối với ngành điện lực nước
ta,Tập đoàn điện lực Việt Nam là đơn vị cung ứng lớn nhất và độc quyền phân phối trên
cả nước. Do đóng vai trò chủ đạo, nên hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn
quyết định toàn bộ tình hình sản xuất kinh doanh của cả ngành điện lực Việt Nam.
Chính vì vậy để làm rõ các vấn đề liên quan đến đầu tư phát triển ngành điện
trong giai đoạn khủng hoảng và sau khủng hoảng, đặc biệt là việc tìm ra các hạn chế và
tháo gỡ những khó khăn nhằm đạt hiệu quả đầu tư tốt nhất, em đã tiến hành nghiên cứu
đề tài “ Đầu tư phát triển tại tập đoàn Điện lực Việt Nam: thực trạng và giải pháp”. Đề
án gồm có 3 chương:
Chương I : Những lý luận chung về đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
Chương II : Thực trạng hoạt động đầu tư phát triển tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam
Chương III : Giái pháp đối với hoạt động đầu tư phát triển tại Tập đoàn Điện lực Việt
Nam.
Em xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Nguyễn Bạch Nguyệt đã tận tình chỉ dẫn,
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, một hình thức của đầu tư trực tiếp, là
việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo
ra những tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị...) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng...), gia
tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển. Đầu tư phát triển bao
gồm các hoạt động chuẩn bị đầu tư, mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình đầu tư, thi
công xây lắp công trình, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và xây lắp cơ bản khác
có liên quan đến sự phát huy tác dụng sau này của công cuộc đầu tư phát triển. Hoạt
động đầu tư này nhằm tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh
hoạt đời sống xã hội.
Như vậy chỉ những hoạt động đầu tư nào mà sự hy sinh các nguồn lực gắn liền trực tiếp
với sự gia tăng các năng lực của nền kinh tế mới được coi là đầu tư phát triển. Những
kết quả được tạo ra từ hoạt động đầu tư phát triển không chỉ mang lại lợi ích trực tiếp
cho chủ đầu tư mà còn đem lại lợi ích, hiệu quả cho toàn bộ nền kinh tế xã hội. Bởi vậy
đầu tư phát triển đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển của nền
kinh tế tại mỗi quốc gia. Hình thức đầu tư này là tiền đề cơ sở cho các hoạt động đầu tư
khác. Các hoạt động đầu tư không thể tồn tại và vận động nếu không có đầu tư phát triển.
Ngược lại, các hoạt động đầu tư khác hỗ trợ và tạo điều kiện để tăng cường đầu tư phát
triển. Như vậy luôn có mối quan hệ và tác động qua lại giữa các hình thức đầu tư. Tuy
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
2
Đề án môn học
nhiên đầu tư phát triển vẫn là loại đầu tư quyết định trực tiếp cho sự phát triển của nền
kinh tế xã hội, là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời, tồn tại và tiếp tục phát triển của các
cơ sở sản xuất kinh doanh.
Hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp là một nhân tố có thể được coi là quyết
định sự ra đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để tạo dựng cơ sở vật chất kĩ
thuật cho bất kì cơ sở, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ nào đều cần phải xây dựng
nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị, tiến hành công tác xây
dựng cơ bản và thực hiện các chi phí gắn liền với hoat động trong cùng một chu kì.
Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động, hoạt động đầu tư phát triển có thể là việc tiến
đầu tư phát triển có thể chia thành các nội dung cơ bản sau: vốn đầu tư xây dựng cơ bản
và sửa chữa lớn tài sản cố định; vốn lưu động bổ sung; vốn đầu tư phát triển khác (đây
là tất cả các khoản đầu tư của xã hội nhằm gia tăng năng lực phát triển của xã hội, nâng
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
3
Đề án môn học
cao trình độ dân trí, cải thiện chất lượng môi trường…). Trong đó, vốn đầu tư xây dựng
cơ bản chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Nguồn vốn đầu tư phát triển là thuật ngữ để chỉ các nguồn tích luỹ, tập trung và
phân phối cho đầu tư phát triển kinh tế, đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và xã hội.
Với các doanh nghiệp, việc nghiên cứu nội dung, tính chất của nguồn vốn sẽ là cơ sở
cho việc lựa chọn, khai thác, huy động và sử dụng vốn một cách phù hợp với nhu cầu
vốn và khả năng cho phép của mình. Đứng trên góc độ vi mô, nguồn vốn đầu tư của các
DN, các đơn vị thực hiện đầu tư bao gồm hai nguồn chính là nguồn vốn bên trong và
nguồn vốn bên ngoài. Nguồn vốn bên trong được hình thành từ phần tích luỹ nội bộ DN
(vốn góp ban đầu, thu nhập giữ lại…) và phần khấu hao hàng năm. Nguồn vốn này có
vai trò rất lớn đối với hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh của mọi DN, nó tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp thực hiện thêm các hoạt động đầu tư mới khác, tạo cho các
doanh nghiệp vị thế vững chắc bằng chính khả năng của mình. Ở các nước phát triển, sự
lớn mạnh của nhiều Công ty, Tổng công ty, tập đoàn đã chứng tỏ khả năng tạo chỗ đứng
vững chắc trên trường quốc tế chính bằng tiềm lực tích luỹ của họ. Tuy nhiên, trong một
số trường hợp, nếu chỉ dựa vào nguồn vốn này thì sẽ tạo ra cản trở cho hoạt động đầu tư
của DN.
Nguồn vốn bên ngoài được hình thành từ việc vay nợ hoặc phát hành chứng
khoán ra công chúng thông qua hai hình thức tài trợ chủ yếu là tài trợ gián tiếp thông
qua các trung gian tài chính (ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng…) hoặc tài trợ
trực tiếp qua thị trường vốn (như thị trường chứng khoán, hoạt động tín dụng thuê
mua…). Với các DN có quy mô trung bình thì nguồn vốn bên ngoài luôn đóng vai trò
quan trọng thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tạo tiền đề để DN có thể
phát triển, mở rộng hơn về quy mô. Các DN Việt Nam hiện nay thường lựa chọn hình
phí xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, chi phí mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện
vận tải, chi phí lắp đặt máy móc thiết bị, chi phí đầu tư sửa chữa TSCĐ…
2.2.Đầu tư bổ sung hàng tồn trữ:
Hàng tồn trữ trong DN là toàn bộ nguyên vật liệu, bán thành phẩm và sản phẩm
hoàn thành được tồn trữ trong DN. Với mỗi loại hình DN khác nhau thì những yêu cầu
về hàng tồn trữ cũng khác nhau. Nhưng có thể nói rằng, hàng tồn trữ đóng một vai trò
khá quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, góp phần đảm bảo cho quá
trình kinh doanh được tiến hành liên tục. Chính vì thế, đầu tư vào hàng tồn trữ là điều
không thể thiếu đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi một doanh nghiệp. Do vậy, việc
xác định quy mô đầu tư hàng dự trữ tối ưu cho doanh nghiệp là rất cần thiết. Mỗi doanh
nghiệp đều cần phải xác định một lượng hàng dự trữ hợp lý. Lượng hàng tồn kho
dự trữ hợp lý là lượng dự trữ vừa đáp ứng được nhu cầu kinh doanh liên tục, vừa không
gia tăng chi phí tồn kho gây ứ đọng vốn.
Hàng tồn trữ nhằm bảo đảm yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất cũng như góp
phần ổn định mức sản xuất của đơn vị trong khi nhu cầu biến đổi. Ngoài ra, hàng tồn trữ
còn giúp bảo vệ DN trước những dự báo thấp về nhu cầu…
Đầu tư vào hàng tồn trữ tức là đầu tư vào các nguyên vật liệu của quá trinhg sản
xuất cũng như các thành phẩm, bán thành phẩm… Như thế có nghĩa là các chi phí liên
quan đến hàng tồn trữ chủ yếu bao gồm chi phí đặt hàng, chi phí liên quan đến hàng tồn
trữ trong kho và giá vốn hàng hoá. Tóm lại, đầu tư vào hàng dự trữ là điều không thể
thiếu của một doanh nghiệp. Nhưng dự trữ bao nhiêu là đủ. Đầu tư vào hàng dự trữ tạo
ra doanh thu cho doanh nghiệp nhưng nó cũng có thể làm gia tăng chi phí cho doanh
nghiệp.Vì thế, việc xác định quy mô đầu tư vào hàng dự trữ có vai trò rất quan trọng
trong quay vòng vốn, tiết kiệm chi phí, ổn định sản xuất và đáp ứng được nhu cầu luôn
biến đổi của khách hàng.
2.3. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực:
Đứng trên góc độ vĩ mô, nguồn nhân lực đựợc hiểu là nguồn lực con người của
một quốc gia, vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động,
quản lí để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội như nguồn lực vật chất, nguồn
lực tài chính…
2.5. Một số hoạt động đầu tư khác:
Đó là các hoạt động đầu tư vào tài sản vô hình khác của DN như đầu tư cho hoạt
động Marketing, việc mua hoặc thuê quyền sử dụng đất, đầu tư vào tài sản trí tụê, các
yếu tố vô hình của sản nghiệp thương mại…
III. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động đầu tư:
3.1. Kết quả của hoạt động đầu tư phát triển
3.1.1. Khối lượng vốn đầu tư thực hiện
* Xét về mặt giá trị
Khối lượng vốn đầu tư thực hiện bao gồm tổng số tiền đã chi để tiến hành các
hoạt động của các công cuộc đầu tư, bao gồm các chi phí cho công tác chuẩn bị đầu tư
xây dựng nhà cửa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt máy móc thiết bị để tiến hành
các công tác xây dựng cơ bản và chi phí khác theo quy định của thiết kế dự toán và
được ghi trong dự án đầu tư được duyệt.
- Đối với các dự án đầu tư xây dựng hoặc lắp đặt do Ngân sách Nhà nước tài trợ, để số
vốn đã chi được tính vào khối lượng vốn đầu tư thực hiện thì các kết quả của quá trình
đầu tư được tách theo phương pháp đơn giá với công thức sau:
I
V
= ∑Q
i
P
i
+ C
in
+ W
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
6
Đề án môn học
Trong đó:
I
3.1.2. Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm
Tài sản cố định huy động là công trình hay hạng mục công trình đối tượng xây
dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập đã kết thúc quá trình xây dựng, mua sắm, đã
làm xong thủ tục nghiệm thu sử dụng, có thể đưa vào hoạt động được ngay.
Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất, phục
vụ của các TSCĐ đã được huy động vào sử dụng chúng để sản xuất ra sản phẩm hoặc tiến
hành các hoạt động dịch vụ theo quy định được ghi trong dự án đầu tư.
Các TSCĐ được huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là các sản
phẩm cuối cùng của các công cuộc đầu tư, chúng có thể được biểu hiện bằng tiền mặt
hoặc bằng hiện vật. Các chỉ tiêu biểu hiện bằng hiện vật như số lượng các TSCĐ được
huy động, công suất hoặc năng lực phát huy tác dụng của các TSCĐ được huy động, mức
tiêu dùng nguyên vật liệu trong một đơn vị thời gian...
Công thức tính giá trị TSCĐ huy động được của một dự án đầu tư:
F = Iv
o
- C
Trong đó: F: Giá trị TSCĐ được huy động.
Iv
o
: Vốn đầu tư đã được thực hiện của các đối tượng, hạng mục công trình đã được
huy động.
C: Các chi phí không làm tăng giá trị TSCĐ bao gồm: chi phí đào tạo cán bộ, nhân
viên; chi phí quản lý công trình xây dựng, chi phí cho chuẩn bị sản xuất, chuẩn bị xây
dựng...
3.1.3. Chỉ tiêu phản ánh mức độ đạt được kết quả cuối cùng trong số vốn đầu tư
đã được thực hiện.
Hệ số này càng lớn thì chứng tỏ dự án mang lại kết quả về giá trị TSCĐ huy
động được lớn. Cũng đồng nghĩa với dự án là một dự án mang tính vững chắc cao.
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
7
theo các tiêu thức sau đây:
- Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội có hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả
kĩ thuật hiệu quả quốc phòng.
- Theo phạm vi tác dụng của hiệu quả, có hiệu quả đầu tư của từng dự án, từng
doanh nghiệp, từng ngành, địa phương và toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
- Theo phạm vi lợi ích có hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế-xã hội. Hiệu quả
tài chình là hiệu quả kinh tế được xem xét trong phạm vi một doanh nghiệp còn hiệu
quả kinh tế-xã hội là hiệu quả tổng hợp được xem xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế.
-Theo cách tính toán có hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối .Hiệu quả tuyệt
đối là hiệu quả được tính bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí. Còn hiệu quả tương đối
được tính bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí.
3.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư :
2.2.1. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư :
Hiệu quả tài chính (E
tc
) của hoạt động đầu tư là mức độ đáp ứng nhu cầu phát
triển hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và nâng cao đời sống của người lao động
trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên cơ sở vốn đầu tư mà cơ sở đã sử dụng
so với các kì khác, các cơ sở khác hoặc so với định mức chung. Việc phân tích đánh giá
hiệu qủa tài chính của dự án đầu tư dựa trên các báo cáo tài chính của Công ty về tình
hình hoạt động tài chính tại doanh nghiệp. Trong quá trình phân tích bằng các chỉ tiêu
giá trị cần phải tính tới giá trị thời gian của tiền. Bởi vì, các kết quả do hoạt động đầu tư
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
8
Đề án môn học
đem lại rất đa dạng và trong một thời gian dài, trong khi đó giá trị của tiền lại hay thay
đổi theo thời gian.
Etc được coi là hiệu quả khi E
tc
>E
−
+
=
n
i
n
i
i
i
i
i
r
C
r
B
NPV
0 0
11
Đây là chỉ tiêu vô cùng quan trọng khi đánh giá các dự án đầu tư. Một dự án được coi là
có hiệu quả tài chính khi NPV > 0.
b, Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư:
Nếu tính cho từng năm hoạt động:
RR
i
= W
ipv
/ Iv
o
RR
i
: Vốn tự có bình quân năm i
W
i
: Lợi nhuận thuần năm i
- Nếu tính cho cả đời dự án: npv
E
= NPV / E
pv
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
9
Đề án môn học
trong đó : npv : mức thu nhập thuần tính trên một đơn vị vốn tự có
E
pv
: Vốn tự có bình quân năm của đời dự án tính ở thời điểm dự án bắt đầu đi
vào hoạt động
Chỉ tiêu này phản ánh mức thu nhập của đời dự án tính ở thời điểm dự án bắt đầu đi vào
hoạt động.
d, Tỷ suất giữa giá trị gia tăng với tổng vốn
Giá trị gia tăng
Tỷ suất giữa giá trị gia tăng với tổng vốn = ------------------ x100%
Tổng vốn
Chỉ tiêu này phản ảnh cứ một đồng vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh
tạo ra bao nhiêu đồng giá trị gia tăng nhằm thực hiện tái sản xuất mở rộng doanh nghiệp,
đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống nguời lao
động. Tỷ suất giá trị gia tăng phản ảnh một cách tổng quát và đầy đủ nhất hiệu quả sản
xuất kinh doanh đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, phản ảnh cả hiệu quả kinh tế lẫn xã
hội mà doanh nghiệp nhà nước tạo ra trong quá trình hoạt động.
e, Tỷ suất giữa thuế với tổng vốn
dụng.
h, Tỷ số nợ
Nợ phải trả
Tỷ số nợ = -------------------x 100%
Tổng vốn
Chỉ tiêu này cho thấy tỷ lệ phần trăm sử dụng nợ (vay dài hạn, ngắn hạn, chiếm
dụng) để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tỷ số nợ là chỉ tiêu phản
ánh cơ cấu, không trực tiếp phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng sự
thay đổi của nó ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
i, Hệ số khả năng thanh toán
Hệ số khả năng thanh toán là công cụ đo lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
nó là điều kiện, là cơ sở đầu tiên để doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Tùy theo khả
năng chuyển hóa thành tiền mặt của các loại tài sản trong năm thực tế của mỗi doanh
nghiệp, có thể sử dụng các hệ số khả năng thanh toán sau đây: hệ số khả năng thanh
toán hiện hành, hệ số khả năng thanh toán nhanh, hệ số khả năng thanh toán bằng tiền.
Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
Hệ số khả năng = ------------------------------------------ x100%
thanh toán ngắn hạn Nợ ngắn hạn
Hệ số này càng cao, khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn. Nếu hệ số
này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp có khả năng không hoàn thành được nghĩa vụ trả nợ của
mình khi tới hạn. Mặc dù với tỷ lệ nhỏ hơn 1, có khả năng không đạt được tình hình tài
chính tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là công ty sẽ bị phá sản vì có rất nhiều cách để
huy động thêm vốn.
Ngoài ra, còn có một số chỉ tiêu khác nhằm đánh giá hiệu quả tài chính của hoạt
động đầu tư như: Hệ số huy động TSCĐ (so với vốn đầu tư thực hiện trong kỳ hay so
với toàn bộ vốn đầu tư thực hiện), mức chi phí đầu tư tiết kiệm được so với tổng mức
dự toán; thời gian hoàn thành sớm so với thời gian dự kiến đưa công trình vào hoạt động
song vẫn đảm bảo chất lượng công trình và chi phí trong phạm vi được duyệt.
2.2.2 Hiệu quả kinh tế - xã hội:
Một số chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả kinh tế xã hội của đầu tư trong doanh
Việc thực hiện dự án đầu tư có thể sẽ góp phần phát triển ngành chủ quản hoặc các
ngành khác, có thể thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, góp phần phát triển địa
phương tăng thêm thu nhập, điều chỉnh thu nhập, điều chỉnh cơ cấu kinh tế góp phần
thực hiện chủ trương phát triển của Nhà nước. Các chỉ tiêu này không thể định lượng
được nhưng không thể không tính tới chúng.
Kết luận Chương I:
Chương này đề cập đến những khái niệm cơ bản về đầu tư phát triển trong doanh
nghiệp cũng như các cách đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động này. Năm vững
được các lý luận chung nêu trên sẽ giúp các doanh nghiệp nhận thức đầy đủ và đúng đắn
hơn về hoạt động đầu tư của doanh nghiệp mình, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
12
Đề án môn học
Chương II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TẠI TẬP
ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM (EVN)
I. Giới thiệu về tập đoàn Điện lực Việt Nam
1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Tổng Công ty Điện lực Việt Nam được chuyển đổi thành Tập đoàn Điện lực Việt
Nam – EVN từ năm 2006 theo Quyết định số 48/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ. EVN là đơn vị kinh doanh đa ngành nghề, đa lĩnh vực. Trong đó, sản xuất, kinh
doanh điện năng, viễn thông công cộng và cơ khí điện lực là ngành nghề kinh doanh
chính; gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, kinh doanh với khoa học, công nghệ, nghiên cứu
triển khai, đào tạo.
Mục tiêu hoạt động của EVN thể hiện rõ qua 3 tiêu chí: Kinh doanh có lãi, bảo
toàn và phát triển vốn chủ sở hữu nhà nước đầu tư tại EVN và vốn của EVN đầu tư vào
các doanh nghiệp khác; Giữ vai trò trung tâm để phát triển một Tập đoàn Điện lực Quốc
gia Việt Nam đa sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước là chi phối; Tối đa hóa hiệu quả hoạt
động của EVN.
Hiện nay, EVN có 11 công ty điện lực kinh doanh điện năng đến khách hàng,
Theo Quyết định số 163/2007/QĐ-TTg ngày 22/10/2007 về Điều lệ tổ chức và
hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), EVN là công ty mẹ trong Tập đoàn
Điện lực Quốc gia Việt Nam, có tư cách pháp nhân, thuộc sở hữu nhà nước, được thành
lập theo Quyết định số 148/2006/QĐ-TTg ngày 22/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ.
Cơ cấu tổ chức quản lý và điều hành của EVN gồm Hội đồng quản trị (HĐQT),
Ban kiểm soát, Tổng giám đốc, các Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và bộ máy giúp
việc. HĐQT là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại EVN, thực hiện các
quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với các công ty con do EVN nắm giữ 100% vốn
điều lệ và chủ sở hữu đối với cổ phần, vốn góp của EVN tại các doanh nghiệp khác. Ban
kiểm soát có tối đa 5 thành viên do HĐQT thành lập để giúp HĐQT kiểm tra, giám sát
tính hợp pháp, chính xác và trung thực trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh,
sổ sách kế toán, báo cáo tài chính và việc chấp hành Điều lệ của EVN, nghị quyết, quyết
định của HĐQT.
1.3 Tổng quan về hoạt động sản xuất kinh doanh
Được hình thành trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Tổng công ty Điện lực Việt Nam
và các đơn vị thành viên Tập đoàn Điện lực Việt Nam. (EVN) là Tập đoàn kinh tế đa sở
hữu có trình độ công nghệ tiên tiến, trình độ quản lý hiện đại và chuyên môn hóa cao,
kinh doanh đa ngành. Trong đó, sản xuất và kinh doanh điện năng, viễn thông công
cộng, cơ khí điện lực, tài chính, ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm là những ngành
kinh doanh chính, gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất kinh doanh với khoa học, công nghệ,
nghiên cứu triển khai, đào tạo, làm nồng cốt để ngành công nghiệp điện lực Việt Nam
phát triển nhanh và bền vững, đủ sức cạnh tranh và hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế có
hiệu quả.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam tiếp tục nắm giữ 100% vốn điều lệ đối với những
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực truyền tải hệ thống điện quốc gia, sản xuất điện
quy mô lớn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh; nắm
giữ hơn 50% tổng số cổ phần những doanh nghiệp có vai trò bảo đảm cân đối lớn của
nền kinh tế, bình ổn thị trường hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh điện.
Chỉ trong giai đoạn từ 1995-2008, tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm ở nước
ta luôn ở mức cao nhất trong khu vực và trên thế giới, bình quân đạt 15,06%, tăng gấp 2
Do nguồn và hệ thống lưới điện phát triển mạnh và tăng nhanh, EVN đã đặc
biệt chú trọng công tác đào tạo lại và đào tạo mới nguồn nhân lực để đáp úng nhu cầu
nhân lực cho vận hành các nhà máy và hệ thống lưới điện. EVN hiện có Trường đại học
Điện lực Hà Nội, Trường cao đẳng Điện lực TP Hồ Chí Minh, Trường cao đẳng Điện
lực miền trung và đang hoàn tất hồ sơ để nâng cấp Trường đào tạo nghề Điện hiện nay
thành Trường cao đẳng nghề Điện. Các trường này đã mở thêm sáu ngành nghề đào tạo
hệ đại học, 15 ngành nghề hệ cao đẳng, 10 ngành nghề hệ trung cấp.
II. Thực trạng hoạt động đầu tư phát triển tại tập đoàn Điện lực Việt Nam
2.1 Đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển tại tập đoàn điện lực Việt Nam
Giữ vai trò chủ đạo trong lĩnh vực trọng yếu của quốc gia, đầu tư phát triển tại
EVN đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng cho phát triển kinh
tế và đời sống nhân dân. Trong cơ cấu ngành điện hiện nay, do EVN đang quản lý toàn
bộ hệ thống truyền tải điện quốc gia, hệ thồng điều độ quốc gia, hệ thống phân phối
điện, chính vì thế đầu tư phát triển tại tập đoàn Điện lực Việt Nam được định hướng bởi
các kế hoạch và chính sách của Nhà nước với mục tiêu đáp ứng cơ bản nhu cầu điện cho
phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo điện cho sản xuất và xuất khẩu; đảm bảo tiến độ đầu
tư cho các công trình nguồn và lưới điện trong Quy hoạch điện VI (QHĐVI).
Tập trung đầu tư chủ yếu vào các lĩnh vực sản xuất và truyền tải điện năng, mở
rộng quy mô sản lượng điện, mở rộng mạng lưới điện nông thôn, không ngừng khai thác
và mở rộng các nguồn điện, nâng cao năng lực cung ứng đảm bảo nguồn điện cho phát
triển kinh tế.
Đối với các lĩnh vực kinh doanh khác, như ngân hàng, tài chính, viễn thông…đầu
tư với kế hoạch hợp lý. Tập trung sắp xếp lại tổ chức kinh doanh viễn thông công cộng,
tăng cường sự phối hợp giữa EVNTelecom và các đơn vị khác. Đầu tư nâng cao chất
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
15