Ketnooi.com chia se
NHIỆM VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ VIỆT-ĐỨC
VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THEO NGHỊ ĐỊNH THƯ
BÁO CÁO TỔNG KẾT
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA NHIỆM VỤ
NGHIÊN CỨU TIẾN HOÁ ĐỚI VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU
LONG VÀ VÙNG THỀM LỤC ĐỊA KẾ CẬN TRONG HOLOCEN - HIỆN
ĐẠI PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG (2008-2009)
Cơ quan chủ trì: Viện Địa chất và Địa vật lý biển
Chủ nhiệm nhiệm vụ:
TS Phùng Văn Phách
8040
HÀ NỘI, 3 – 2010
Ketnooi.com chia se
NHIỆM VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ VIỆT-ĐỨC
VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THEO NGHỊ ĐỊNH THƯ
BÁO CÁO TỔNG KẾT
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA NHIỆM VỤ
NGHIÊN CỨU TIẾN HOÁ ĐỚI VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU
LONG VÀ VÙNG THỀM LỤC ĐỊA KẾ CẬN TRONG HOLOCEN - HIỆN
ĐẠI PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG (2008-2009)
Nghiêm Xuân Minh (Vụ trưởng Vụ KHXHTN Bộ KHCN), ông Lưu Trường Đệ
(Phó vụ trưởng Vụ KHXHTN Bộ KHCN), ông Lê Quang Thành (Phó vụ trưởng
Vụ KHXHTN Bộ KHCN), ông Nguyễn Thế Tiệp Viện trưởng Viện Địa chất và
Địa vật lý biển, Ông Thái Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Trung tá Cao Sỹ
Mạnh đồn trưởng đồn biên phòng 700, và nhiều cá nhân khác đã nhiệt tình giúp
đỡ chúng tôi trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ.
Thay mặt tập thể tác giả
Chủ nhiệm
TS Phùng Văn Phách
TẬP THỂ TÁC GIẢ
Chủ nhiệm: TS Phùng Văn Phách
Thư ký khoa học: ThS. Nguyễn Trung Thành
Những người tham gia:
1) Viện Địa chất và Địa vật lý biển: TS Nguyễn Thế Tiệp, TS Nguyễn Tiến
Hải, TS Nguyễn Văn Lương, TS Nguyễn Hồng Lân, TS Hoàng Văn Vượng,
TS Trần Tuấn Dũng, TS Nguyễn Thị Thu Hương, TS Ngô Văn Quảng, TS Lê
Ngọc Anh, TS Dư Văn Toán, KSCC Nguyễn Tứ Dần, ThS Bùi Việt Dũng, ThS
Dương Quốc Hưng, ThS Bùi Nhị Thanh, ThS Ngô Bích Hường, ThS Trần
Văn Lập, CN Nguyễn Hữu Cường, KS Nguyễn Huy Phúc, CN Phạm Thị
Tươi, CN Trần Văn Khá, CN Đào Thị Hà, CN Nguyễn Kim Dũng, CN Bùi
Thị Xuân, CN Đinh Tiến Dũng, CN Trần Xuân Lợi, ThS Bùi Thị Bảo Anh, KS
Nguyễn Đức Thành, CN Nguyễn Thị Ngọc, CN Đinh Thị Hồng.
2) Viện Địa chất: PGS-TSKH Nguyễn Địch Dỹ, TS Doãn Đình Lâm, TS Vũ
Văn Chinh, ThS Vũ Văn Hà.
3) Đại học KHTN TP Hồ Chí Minh: PGS-TS Nguyễn Thị Ngọc Lan, TS Lê
Xuân Thuyên, Trần Thị Hoàng Hà, Ngô Trần Thiện Quí.
HCM - Hồ Chí Minh.
LGM – Mực biển thấp nhất.
HST – Highstand System Tract: mực biển
đứng cao.
LST – Lowstand System Tract: Mực biển
đứng thấp.
BP – Trước thời điểm hiện tại.
TST – Trangressive System Tract: Mực biển
tiến.
KY- nghìn năm
SB – Sequennece boundary.
MIS-(marine isotope stage)- thời kỳ đồng
vị oxy biển.
MXFs – Maximum flooding Surface: bề mặt
ngập cực đại.
LK – Lỗ khoan.
TS – Trangressive surface : bề mặt biển tiến
SCL – Sông Cửu Long.
ĐN – đông nam.
TB – Tây bắc.
ĐB – Đông bắc.
TN – Tây nam.
LS – Lòng sông..
CSC - Cồn sông cổ.
ĐLH - Đồng lụt hở.
ĐL - đồng lụt trung tâm.
BSĐ – Bưng sau đê.
Bl – Bưng lầy.
GBC – Giant box corer
GS – Grap sample: Mẫu cuốc đại dương.
BC – Boxcore: mẫu thùng
GC – gravity corer: ống phóng trọng lực.
GPS – Geographic Positioning system (hệ
thông tin địa lý).
DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ
STT
1
Số hình
Tên hình
7
9
Hình 2.11
Sơ đồ chỉ ra nguyên lý hoạt động của thiết bị boomer để thu
được các số liệu địa chấn nông phân giải
34
14
Hình 2.12
35
15
Hình 2.13
Hình 3.1
Hình 3.2
Số liệu được thu thập từ các chuyến khảo sát dự án
hợp tác Việt-Đức : SO 140 (1999), VG5 (2004), VG9
(2005), SO187 (2006) and Mekong (2007, 2008)
Sơ đồ lưới tính khu vực nghiên cứu
Ranh giới châu thổ ngầm và một số tuyến đo địa chấn
Các dạng địa hình chính của phần châu thổ ngầm thuộc
châu thổ Cửu Long
Các sóng cát và hướng di chuyển ở trường C và D
Các sóng cát trường E và F
Sơ đồ vị trí các lòng sông cổ trên thềm trong và các
tuyến đo Parasound.
Hình 3.7
23
Hình 3.8
18
19
Khu vực nghiên cứu
Sơ đồ tài liệu thực tế
Máy phân tích độ hạt Mastersizer 2000
Nhiễu xạ lazer
Bơm thủy lực Hydro 2000G
Biểu đồ tam giác phân loại các trường trầm tích
biểu đồ khối hộp mẫu CM220308_05
Biểu đồ đường cong phân bố mẫu CM220308_05
Phép tam giác Delaunay với tất cả các đường tròn
ngoại tiếp và tâm
Mạng lưới đa giác Thiessen (màu đỏ) hay biểu đồ
Voronoi.
Một đa giác Theissen biến đổi sau khi chèn một điểm
mới Pn
Trang
15
32
33
33
33
35
Hình 4.12
36
Hình 4.13
37
Hình 4.14
38
Hình 4.15
Hình 4.16
Hình 4.17
Hình 4.18
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
Hình 4.27
Hình 4.28
Hình 5.1
42
49
50
51
52
Hoa sóng trạm Côn Đảo tháng 1 (1986-2005)
Hoa sóng trạm Côn Đảo tháng 7 (1986-2005)
Hoa gió trạm Côn Đảo tháng 1 (1986-2005)
Hoa gió trạm Côn Đảo tháng 7 (1986-2005)
Hoa sóng trạm Thổ Chu tháng 1
Hoa sóng trạm Thổ Chu tháng 7
Hoa sóng trạm Phú Quốc tháng 1
Hoa sóng trạm Phú Quốc tháng 7
Hoa gió trạm Phú Quốc tháng 1
Hoa gió trạm Phú Quốc tháng 7
Hướng và vận tốc dòng chảy khi dòng triều rút ứng với
gió TN
Hướng và vận tốc dòng chảy khi dòng triều lên ứng với
gió TN
Hướng và vận tốc dòng chảy khi dòng triều rút ứng với
gió ĐB
Hướng và vận tốc dòng chảy khi dòng triều lên ứng với
gió ĐB
Hướng và vận tốc dòng chảy thường kỳ mùa đông
59
60
60
61
61
62
62
63
63
64
64
64
65
65
66
66
67
67
67
100
53
Hình 5.2
54
Hình 5.3
Hình 5.13
Hình 5.14
Hình 5.15
Hình 5.16
Hình 5.17
Hình 5.18
Hình 5.19
71
Hình 5.20
72
Hình 5.21
Hình 5.22
Hình 5.23
Hình 5.24
64
65
66
67
68
69
73
74
75
thổ
Tuyến địa chấn 21040801 gần tuyến lấy mẫu 01
Sự thay đổi thông số độ hạt trên tuyến đo 01
Hàm lượng cát, bột và sét trên tuyến 01
Tuyến địa chấn 15040801 và các vị trí lấy mẫu
Biến đổi thông số độ hạt trên tuyến đo 02
Biến đổi hàm lượng cát, bột và sét theo tuyến 02
Hàm lượng tổng cacbon hữu cơ (TOC) và hàm lượng
cacbonat
Các tuyến đo địa chấn 12040801, 11040804 và vị trí
lấy mẫu
Biến đổi thông số độ hạt trên tuyến đo 03
Biến đổi hàm lượng cát, bột và sét theo tuyến đo 03
Hàm lượng TOC và cacbonat theo tuyến 03
Mặt cắt địa chấn 11040803 và các vị trí lấy mẫu trên
tuyến 04
Sự thay đổi độ hạt theo tuyến 04 từ bờ ra phía biển
Sự biến đổi hàm lượng cát, bột và sét
Tuyến đo địa chấn 27030801, 27030802-4 và vị tri lấy
mẫu
Biến đổi thông số độ hạt trên tuyến mẫu 05
Biến đổi hàm lượng cát, bột và sét của tuyến 05
101
102
103
104
104
105
105
Hình 5.32
Hình 5.33
83
84
85
86
87
88
89
90
91
92
93
94
95
96
97
98
99
100
101
102
103
104
105
106
107
108
109
Hình 5.59
Hình 5.60
Hình 5.61
114
Hình 5.62
110
111
112
Các tuyến địa chấn 28030803 và 28030802
và các vị trí lấy mẫu
Biến thiên độ hạt theo tuyến 06
Hàm lượng cát, bột và sét theo tuyến 06
Hàm lượng cacbonat và tổng cacbon hữu cơ (TOC)
theo tuyến 06
Tuyến đo địa chấn 24032007-02
Biến đổi thông số độ hạt trên tuyến 07
Biến đổi hàm lượng cát, bột và sét theo tuyến 07
Tuyến địa chấn 25032007_03
Biến đổi thông số độ hạt theo tuyến 08
Hàm lượng cát, bột và sét trên tuyến 08
Tuyến địa chấn 31030805
Biến đổi thông số đột hạt theo tuyến 09
Hàm lượng cát, bột và sét theo tuyến 09
Tuyến địa chấn 2703200702
Biến đổi các thông số độ hạt trên tuyến 10
Biến đổi hàm lượng cát, bột và sét theo tuyến 10
115
116
116
116
117
117
117
118
118
118
118
119
119
119
120
120
121
121
121
122
122
123
123
124
125
115
116
117
Hình 6.6
125
Hình 6.7
126
Hình 6.8
127
Hình 6.9
128
Hình 6.10
129
Hình 6.11
130
131
Hình 6.12
Hình 6.13
132
Sông Hậu: (A, B, C). Nén TTB-ĐĐN tại Núi Sam
(Châu Đốc); D. Nén á kinh tuyến tại chùa Phước
Điền(phía tây Núi Sam)
Biểu hiện của đới đứt gãy Sông Hậu trong các thành
tạo granit Núi Sam (Châu Đốc, An Giang)
Biểu hiện các của đới đứt gãy Sông Hậu tại khối núi
granit Thoại Sơn, phía tây Long Xuyên (An Giang)
Sạt lở có hệ thống dọc đường quốc lộ từ Long Xuyên
đi Châu Đốc, trên đoạn dài An Châu-Bình Hoà-Bình
Thành.
Hệ thống phá hủy kiến tạo phương ĐB-TN Đảo Hòn
khoai
Trũng Cửu Long và khối nâng Côn Sơn
Bản đồ cấu trúc kiến tạo vùng đồng bằng Sông Cửu
Long và phụ cận
Mặt cắt địa chất Núi Sam –Tây Ninh, ngang qua đồng
125
126
126
127
127
140
141
142
143
143
137
Hình 7.3a
Hình 7.3b
138
141
Hình 7.4
Hình 7.5
Hình 7.6
142
Hình 7.7
143
Hình 7.8
144
Hình 7.9
145
Hình 7.10
146
Đường cong dao động mực nước biển
Biến đổi đường cong mực biển trong Holocen ở vùng
cận, rìa băng hà, vùng chuyển tiếp và vùng xa
Quan hệ mực biển và cân bằng đẳng tĩnh
Sơ đồ đường cong mực nước biển trong Holocene
Đường cong mực biển xây dựng bằng các hàm đa thức
tương quan hồi quy bậc bẩy và bậc chín cho các số liệu
trong nằm trong vùng C
Đường cong mực nước biển trong Holocen cho khu
vực Nam Trung Bộ
Vết khắc chữ U ghi lại dấu ấn mực biển cổ cao 2.5m so
với mực nước biển hiện tại khu vực núi Bà Tài
Ngấn trên vách núi đá vôi ghi lại dấu ấn mực biển cổ
cao hơn mực nước biển hiện đại 2.5 m và 4.5 m khu
vực núi Bà Tài
Ngấn trên vách núi đá vôi ghi lại mực biển cổ cao hơn
mực nước biển hiện đại 2.5 m và 4.5 m khu vực núi
Hang Cá Sấu
Mô hình lý tưởng về hiệu ứng nhà kính tự nhiên
Xu hướng biến đổi nhiệt độ trái đất tại một số nơi trên
thế giới theo các tác giả khác nhau
Biến đổi mực nước biển theo thời gian
Xu hướng thay đổi mực nước biển tuyến tính theo chu
kỳ dài
Xu hướng biến đổi của mực mực biển theo chu kỳ ngắn
Bản đồ dự báo khả năng ngập lụt của đồng bằng SCL
trong tương lai (nguồn Internet).
150
1.1 Giai đoạn trước năm 1975……………………………………………….....
1.2. Giai đoạn sau 1975……………………………………………………….....
Chương 2: Phương Pháp Nghiên Cứu…………………………………………...
2.1.Nhóm phương pháp địa mạo-cổ địa lý, viễn thám……………………………
2.2. Nhóm phương pháp trầm tích ........................................................................
2.3 .Nhóm phương pháp phân tích cấu trúc, kiến tạo, địa động lực.......................
2.4.Nhóm phương pháp địa vật lý..........................................................................
2.5.Nhóm phương pháp thủy động lực...................................................................
Chương 3: Đặc điểm địa mạo đồng bằng sông Cửu Long và thềm lục địa kế
cận………………………………………………………………………………
3.1. Nhóm địa mạo châu thổ……………………………………………………
3.1.1. Phức hệ đồng lụt…………………………………………………………
3.1.2. Phức hệ lòng sông………………………………………………………..
3.1.3. Phức hệ ven biển…………………………………………………………..
3.2. Đơn vị địa mạo châu thổ ngầm………………………………………………
3.3. Thềm lục địa………………………………………………………………..
3.3.1. Đới bờ ngầm……………………………………………………………….
3.3.2. Vùng thềm trong (inner shelf) ……………………………………………
3.3.3. Vùng thềm giữa (middle shelf)……………………………………………
3.4. Sự biến đổi đường bờ cổ trong Holocen………………………………….....
Chương 4: Đặc điểm hình thái động lực khu vực ven biển đồng bằng Sông Cửu
Long và thềm lục địa kế cận……………………………………………… ……
4.1. Sóng………………………………………………………………………..
4.2. Thủy triều…………………………………………………………………..
4.2.1.Chế độ, biên độ thuỷ triều…………………………………………………
4.2.2. Dòng thủy triều……………………………………………………………
4.3. Dòng chảy bề mặt…………………………………………………………..
4.4. Dòng chảy đáy………………………………………………………………
4.5. Một số đặc trưng nhiệt muối và phân bố vật liệu lơ lửng………………......
4.6. Một số nhận định……………………………………………………………
51
55
55
55
56
56
57
57
68
Pleistocen muộn-Holocene……………………………………………………….
5.1.1. Đặc điểm địa chấn địa tầng………………………………………………..
5.1.2. Mô hình địa tầng phân tập giai đoạn Pleistocen muộn-Holocen……….....
5.2. Đặc điểm trầm tích bề mặt vùng thềm kế cận đồng bằng Sông Cửu Long….
5.3. Đặc điểm trầm tích vùng ven biển đồng bằng Sông Cửu Long……………..
5.3.1. Biến đổi trầm tích theo tuyến vuông góc với bờ biển…………………......
5.3.2. Quy luật phân bố…………………………………………………………..
5.4. Xu thế vận chuyển tích tụ trầm tích vùng Ven Biển Đồng bằng sông Cửu
Long và thềm lục địa kế cận………………………………………………….....
5.5. Một số nét tiến hóa cổ địa lý Holocen muộn-hiện đại vùng ven biển bán
đảo Cà Mau………………………………………………………………………
Chương 6: Đặc điểm kiến tạo - địa động lực khu vực ven biển đồng bằng Sông
Cửu Long và thềm lục địa kế cận trong giai đoạn Holocen – Hiện đại………….
6.1. Kiến tạo khu vực………………………………………………….................
6.1.1. Nền móng Mesozoi………………………………………………………..
6.1.2. Kiến tạo Kainozoi………………………………………………………….
6.2. Vị trí của đồng bằng sông Cửu Long trong bình đồ kiến tạo-địa động lực
khu vực…………………………………………………………………………...
128
128
128
129
131
132
134
135
135
136
138
151
151
155
159
161
172
174
175
MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh mực nước đại dương Thế giới không ngừng thay đổi các đồng
bằng châu thổ là những khu vực đặc biệt nhạy cảm và có những biến đổi sâu sắc. Việt
Nam được đánh giá là một trong 5 nước trên Thế giới bị thiệt hại nặng nề nhất từ quá
trình này. Những vùng thấp của các đồng bằng châu thổ ven biển là những khu vực có
nguy cơ bị nước biển xâm lấn. Đồng bằng Sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất của cả
nước, sản lượng lúa hàng năm từ 19-21 triệu tấn (riêng năm đạt 2009 đạt 20,7 triệu
tấn) trong tổng sản lượng lúa 33-34 triệu tấn/năm của Việt Nam (Website Chính phủ,
3
Từ những năm 1990 các chuyến khảo sát của tàu SONNE trên vùng Biển Đông
Việt Nam đã được thực hiện với sự chỉ đạo khoa học của GS Karl Stattegger. Một
trong những mục tiêu cơ bản của các chuyến khảo sát là nghiên cứu vùng thềm rộng
lớn Sundaland, từng là nơi cư trú của các cư dân của nền văn minh thời kì băng hà,
nhằm làm sáng tỏ đặc điểm tiến hoá của vùng lục địa bị ngập chìm này, trên cơ sở đó
đưa ra những dự báo khoa học cho xu hướng phát triển của nó trong tương lai. Nhiều
kết quả nghiên cứu đã được công bố dưới dạng các luận án thạc sĩ, tiến sĩ, các báo cáo
khảo sát, các bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành.
Giai đoạn 2006-2009 Viện Địa chất-ĐH TH Kiel và Viện Địa chất và Địa vật lý
Biển (Viện KHCN VN) tiếp tục triển khai nghiên cứu, lấy đồng bằng Sông Cửu Long
và thềm lục địa kế cận làm trọng tâm nghiên cứu. Đặc biệt giai đoạn này các nhà khoa
học cả hai phía xác định cho mình nhiệm vụ chính là nghiên cứu sự tiến hóa của châu
thổ Cửu Long trong giai đoạn Holocen muộn và Hiện đại.
Hai bên đã tổ chức được nhiều đợt khảo sát hỗn hợp dài ngày trên biển. Mở đầu
là chuyến khảo sát bằng tàu SONNE năm 2006, trong đó pha 3 (SONNE 187-3)
chuyên về khảo sát địa chất phục vụ cho tiểu dự án của hai viện. Liên tiếp các năm sau
đó 2007, 2008, 2009 các chuyến khảo sát hỗn hợp được thực hiện, với sự tham gia
đông đảo của các nhà khoa học từ hai phía Việt Nam và Đức. Thông qua các chuyến
khảo sát đó chúng ta đã đo được hàng ngàn km tuyến đo địa vật lý, môi trường, địa
hình. Đồng thời cũng đã thu thập được hàng trăm mẫu địa chất các loại. Các tài liệu
thu thập được có chất lượng rất cao, phục vụ tốt mục đích nghiên cứu của đề tài.
Trong quá trình thực hiện đề tài hai bên luôn trao đổi kết quả, tổ chức hội thảo để
kịp thời thông báo cho nhau những kết quả đạt được và những tồn tại cần giải quyết.
Thông qua Hội thảo khoa học tổng kết tháng 11-2009 tại Nha Trang chúng tôi tự đánh
giá tiểu đề án của chúng tôi (dự án số 4) là một trong các đề án có kết quả tốt nhất.
Báo cáo dưới đây phản ánh những kết quả đã đạt được trong khuôn khổ Nhiệm
vụ viện Địa chất và Địa vật lý Biển ký với Bộ KHCN, hợp đồng số: 41/2008/HĐNĐT, có hiệu lực từ ngày 10/3/2008, dưới tiêu đề “ Nghiên cứu tiến hoá đới ven biển
đồng bằng Sông Cửu Long và thềm lục địa kế cận.Tỷ lệ 1: 500 000.
6. Bản đồ hình thái động lực khu vực ven biển đồng bằng Sông Cửu Long và
thềm lục địa kế cận. Tỷ lệ 1: 1 000 000.
7. Sơ đồ hướng di chuyển trầm tích đáy của khu vực ven biển đồng bằng Sông
Cửu Long và thềm lục địa kế cận giai đoạn Hiện đại. Tỷ lệ 1: 1 000 000.
8. Các kết quả khoa học khác :
- Các báo cáo chuyên đề .
- 4 bài báo khoa học.
- Các báo cáo Hội nghị khoa học.
- Đào tạo 01 thạc sĩ và 01 tiến sĩ.
9. Báo cáo tổng hợp
Đề tài đã huy động được một lực lượng đông đảo cán bộ trong và ngoài viện
tham gia thực hiện. Đã thực hiện 30 nghiên cứu chuyên đề.
Đã tiến hành được hai đợt khảo sát dài ngày trên biển, với sự phối hợp của các
nhà khoa học từ các trường đại học của Đức, Ba Lan.
Riêng trong giai đoạn 2008-2010 đã đào tạo được 01 thạc sỹ (Nguyễn Trung
Thành) và luận án TS của Bùi Việt Dũng sẽ được bảo vệ trong tháng 6-2010.
Các kết quả của đề tài đã được trình bày trong 10 bài báo, đăng tải ở các tạp chí
trong và ngoài nước, các tuyển tập Hội nghị khoa học, như sau:
5
1.
Bùi Việt Dũng, Kart Stattegger, Phùng Văn Phách. Late pleistocene – Holocene
seimic stratigraphy on the South East Vietnam shelf. Trong “ Địa chất biển Việt
Nam và phát triển bền vững”. TT BC KH Hội nghị KH Địa chất biển toàn quốc
lần thứ nhất. Hạ Long 9-10/10/2008. Tr. 172-180.
2. Nguyễn Tiến Hải, Nguyễn Huy Phúc. Đặc điểm và phân bố các tướng trầm tích
press). Sandwaves on the Southeast Vietnam shelf recorded by high resolution
seismic profiles: formation and mechanism. Frontier of Earth Sciences in China.
Đề tài đã giải quyết được một loạt các vấn đề đặt ra trong đề cương và hợp đồng
với Bộ KHCN, về các lĩnh vực trầm tích, kiến tạo, địa mạo, môi trường, hình thái động
lực, sự gia tăng mực nước biển…Trên cơ sở các tài liệu phong phú về kết quả phân
tích mẫu trầm tích, tài liệu đo địa chấn nông phân giải cao, các đo đạc địa chất, môi
trường chi tiết, với các phương pháp, phần mềm xử lý hiện đại, đã giúp tổng hợp được
nhiều sản phẩm mới có chất lượng cao ngang tầm quốc tế. Điều đó cho phép chúng ta
6
có được một sự hiệu biết toàn diện và sâu sắc hơn về sự phát triển của đồng bằng châu
thổ Sông Cửu Long và thềm lục địa kế cận trong giai đoạn Pleistocen muộn-Holocen.
Từ đó có được những dự báo khoa học về tương lai của nó trong bối cảnh thay đổi khí
hậu toàn cầu.
Dưới đây là báo cáo tóm tắt những nét chính về kết quả đã đạt được của nhiệm
vụ.
Hình 0.1: Khu vực nghiên cứu của Nhiệm vụ
7
CHƯƠNG 1
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ VÙNG
THỀM LỤC ĐỊA KẾ CẬN TRONG HOLOCEN – HIỆN ĐẠI
Đồng bằng châu thổ là một đơn vị địa lý đặc biệt, được hình thành ở các cửa
sông lớn ven biển, với đường bờ cong lồi và phát triển ra phía biển, nhờ lượng phù sa
lớn của sông bồi đắp nên. Các con sông của Châu Á và châu Đại Dương cung cấp tới
70-80% lượng phù sa của Trái Đất (Saito Y., 2005) [86].
8
Nai và bậc thềm 40m ở Nha Bích- Sông Bé. Ông giải thích sự chênh cao của bậc thềm
này là do vận động tân kiến tạo. Tầng cuội kết cấu tạo thềm 100m được xác định tuổi
cổ hơn 650 000 năm trên cơ sở đối sánh bazan ở Cambodia với bazan chứa ziarcon ở
vùng Xuân Lộc - Đồng Nai.
Về kiến tạo Carbonnel J.P. ghi nhận đứt gãy sông Vàm Cỏ Đông (hướng Tây Bắc
- Đông Nam) là ranh giới phân chia delta Mê Công và delta Đồng Nai. Các nghiên cứu
của Saurin (1962-1969) cũng đã chỉ ra rằng dòng chảy Sông Hậu (Bassac) có dạng
tuyến và khá ổn định trong ít nhất là 2000 năm nay. Điều đó cho thấy nó trùng với một
đứt gãy trẻ đang hoạt động. Dựa trên bản đồ từ hàng không do hải quân Mỹ thực hiện
(1967) Busum W., Kind E.G. và Hồ Mạnh Trung đã xây dựng sơ đồ kiến tạo và cấu
trúc móng (1969). Trên đó có thể hiện các bồn trũng Cần Thơ, Cà Mau. Các đới nâng
Sóc Trăng, Hòn Khoai-Hòn Tre, Rạch Giá-Long Xuyên.
Trong giai đoạn này còn có một số công trình của các nhà địa chất Việt Nam như
các nghiên cứu về trầm tích ở lưu vực sông Đồng Nai của Trần Kim Thạch (1970), về
kiến tạo của Trần Kim Thạch, Đinh Thị Kim Phụng (1972). Liên quan đến việc đo vẽ
bản đồ địa chất ĐBNB có công trình “Bản đồ địa chất 1:25 000 các tờ Phú Cường,
Biên Hoà, Thủ Đức, Sài Gòn và Nhà Bè …” của Fontaine, H. và Hoàng Thị Thân
(1971), trong các công trình này các tác giả có đề cập đến hai thành tạo phù sa cổ và
trẻ tương tự như cách phân chia của Saurin E. Phù sa cổ chia làm nhiều lớp, phần trên
bao gồm các lớp từ trên xuống như sau:
- Lớp đất phủ
- Vỏ cứng laterit Biên Hoà
- Lớp lót dưới laterit và ranh giới laterit không rõ ràng.
- Những lớp khác nữa sâu hơn không quan sát được.
Nhìn chung đây là bản đồ thể hiện các quan hệ địa tầng một cách sơ lược. Cũng
có thể nhận xét đây là một bản đồ địa chất về nội dung cũng như phương pháp trình
bày mang tính kế thừa khá rõ các nghiên cứu của Saurin, E.
01-07, Nguyễn Địch Dỹ chủ nhiệm, 1996), “Bản đồ vỏ phong hóa và trầm tích Đệ tứ
Việt Nam”, tỷ lệ 1/1.000.000 (Ngô Quang Toàn chủ biên, 2000)….
Trong các công trình kể trên, về địa tầng Đệ tứ các tác giả chủ yếu đã sử dụng
nguyên tắc tuổi và nguồn gốc để phân chia các phân vị. Các nhà địa chất đã thành lập
các hệ tầng có tuổi với các nguồn gốc khác nhau hoặc cùng tuổi cho một kiểu nguồn
gốc. Đối với vùng nghiên cứu có diện tích lớn và đặc biệt trong trầm tích Holocen
cách phân chia thứ nhất chi tiết hơn và hợp lý hơn vì trong cùng một hệ tầng có thể có
các nguồn gốc khác nhau.
Việc phân chia chi tiết các phân vị địa tầng làm cơ sở để liên kết các mặt cắt dọc
theo các tuyến khoan sâu. Hàng loạt các hệ tầng được thành lập như Hệ tầng Bà Miêu,
Cần Thơ, Bình Minh, Cà Mau, Đất Quốc, Long Toàn, Thủ Đức, Củ Chi, Hậu Giang,
Cần Giờ.... Gần đây nhất, trong Đề án “Phân chia địa tầng N-Q và nghiên cứu cấu trúc
địa chất đồng bằng Nam Bộ” Nguyễn Huy Dũng và các đồng nghiệp (2004) đã xây
dựng một thang địa tầng Đệ tứ sử dụng phân vị “bậc khu vực”, theo đó địa tầng Đệ tứ
được các tác giả chia thành 5 bậc sau:
- Bậc Cà Mau tuổi Pleistocen sớm.
- Bậc Long Toàn tuổi Pleistocen giữa- muộn.
- Bậc Mộc Hoá tuổi Pleistocen muộn.
- Bậc Hậu Giang tuổi Holocen sớm - giữa.
- Bậc Cần Giờ tuổi Holocen giữa - muộn.
10
Đồng thời việc nghiên cứu cấu trúc của ĐBNB đã được chú ý đúng mức, trong
các đề án đo vẽ, lập bản đồ địa chất-khoáng sản, có bản đồ kiến tạo, sơ đồ khối, sơ đồ
cổ địa lý... được thành lập ở các tỷ lệ khác nhau. Nhìn chung, trong giai đoạn này,
công tác nghiên cứu, phân chia, liên kết địa tầng và nghiên cứu cấu trúc trầm tích N-Q
đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Bước đầu đã xác lập được trật tự địa tầng trầm
tích N-Q và có sự nhìn nhận sơ bộ cấu trúc của ĐBNB. Đến nay, vùng ĐBNB đã được
đo vẽ lập bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản trên toàn diện tích (53.400 km2) ở tỷ
nằm phủ trực tiếp trên đất đá có tuổi Pliocen hoặc cổ hơn.
11
Ranh giới Pleistocen và Holocen ở Việt Nam lâu nay cũng đã được nhiều tác giả
đề cập tới trong các cuộc hội thảo được tổ chức giữa các nhà địa chất Đệ tứ với các
nhà khảo cổ học và các nhà sinh học với nhau. Các nhà địa chất Đệ tứ Việt Nam gần
như thống nhất với nhau vạch ranh giới dưới của Holocen theo đáy của hệ tầng Bình
Chánh (Q21-2bc) hay hệ tầng Hậu Giang (Q21-2hg) ở ĐBNB với mốc 10.000 năm, theo
thang địa tầng quốc tế (2008) ghi nhận vào 11.700 năm BP.
Về cổ sinh, trước 1975 chủ yếu có một vài công bố về thành phần động vật thân
mềm (Mollusca) trong trầm tích Holocen của Saurin, E.(1968), Fontaine,H.
(1971)…Thời kỳ này các nhóm cổ sinh khác hầu như chưa được quan tâm đến. Giai
đoạn sau 1975 một số nhóm cổ sinh Đệ tứ được chú ý đến như Foraminifera, tảo
Diatomeae, BTPH, động vật thân mềm. Hầu hết các kết qủa nghiên cứu mới chỉ dừng
ở việc phục vụ cho đo vẽ bản đồ địa chất hoặc có một vài bài báo công bố kết quả
phân tích của một hay một vài nhóm cổ sinh trong một số LK như LK8 Cần Thơ
(Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận, Nguyễn Đức Tùng, Nguyễn Ngọc, Đào Thị Miên,
Đỗ Long, Nguyễn Thị Á…-1980 -1985). Trong đề tài “Cổ Địa lý các đồng bằng ven
biển Việt Nam trong kỷ Đệ Tứ - 1986), và trong đề tài KT01-07 -1996) các nhóm cổ
sinh trong kỷ Đệ tứ đã ít nhiều được tổng hợp đánh giá dưới các góc độ như: Thành
phần giống loài, đặc điểm sinh thái, phân vùng cổ sinh. Tuy nhiên kết quả này mới chỉ là
những nét chấm phá ban đầu về thế giới sinh vật trong kỷ Đệ tứ của ĐBNB nói riêng
cũng như trên phạm vi các đồng bằng ven biển ở Việt Nam.
Trong những năm 1980, 1990 Phân viện địa lý Tp HCM đã có những nghiên cứu
khác chi tiết về quá trình trầm tích và tiến hoá đới ven bờ của đồng bằng SCL. TS
Nguyễn Văn Lập (1998) và Tạ Thị Kim Oanh (2001), trên cơ sở nghiên cứu bằng các
phương pháp phân tích ảnh viễn thám, phân tích mẫu khoan, xác định tuổi tuyệt đối và
phân tích cổ môi trường bằng phương pháp vi cổ sinh, đã có những kết quả đáng kể
của mực nước đại dương Thế giới, thì bộ ba các yếu tố: cố kết trầm tích + sụt lún kiến
tạo+sự dâng cao mực nước biển sẽ là những nguyên nhân gây nên sự xâm lấn nhanh
chóng của biển vào đồng bằng.
Công nghệ viễn thám cũng đã được ứng dụng rất hiệu quả trong việc nghiên cứu
địa chất, địa mạo, môi trường vùng đồng bằng SCL và thềm lục địa kế cận. Các nhà
khoa học thuộc Trung tâm ứng dụng công nghệ Vũ trụ-Viện Vật lý và Điện tử (Viện
KHCNVN) đã sử dụng dữ liệu ảnh của Nhật (MOS-MESSR and JERS-OPS) và công
nghệ GIS để xác định sự biến đổi trong sử dụng lãnh thổ dải ven biển đồng bằng SCL.
Vùng Duyên Hải-Cần Giờ được chọn làm vùng trọng điểm nghiên cứu. Loạt bản đồ về
hiện trạng sử dụng đất đã được thành lập cho các năm 1990-1994-1997-2001.
Matsubayashi O. (2004) đã sử dụng ảnh ASTER VNIR và SWIR để vẽ bản đồ về rừng
ngập mặn (mongrove) của đồng bằng SCL… Ảnh viễn thám cũng rất hữu hiệu trong
việc xác định đặc điểm phân toả phù sa của hệ thống Sông Cửu Long trên phạm vi đới
ven bờ. Trên các ảnh vệ tinh rất dễ dàng nhận thấy rằng phù sa SCL có xu hướng di
chuyển mạnh về phía nam, dọc theo bờ, đến tận mũi Cà Mau và xa hơn nữa.
Trong khuôn khổ hợp tác Nghị định thư Việt-Đức Phân viện Hải dương học tại
Hà Nội, nay là Viện Địa chất và Địa vật lý biển đã triển khai đề tài : Tiến hoá đới ven
biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong
Holocen ở thềm lục địa vùng biển giữa châu thổ Mê Công và Nha Trang , Đông Nam
Việt Nam (Nhiệm vụ hợp tác theo nghị định thư Việt Nam- CHLB Đức, 2003-2005).
Trong giai đoạn 2003-2005 đề tài chủ yếu tập trung vào vùng thềm lục địa Nha
Trang-Vũng Tàu và đã thu được một số kết quả quan trọng: như thiết lập biểu đồ dao
động mực biển cho vùng biển ĐN Việt Nam trong Holocen thông qua việc nghiên cứu
các đá bãi biển; Bước đầu đã xác định được xu thế vận chuyển trầm tích khu vực thông
qua tài liệu siêu âm quét suờn và phân tích mẫu trầm tích bề mặt. Đã xác định sơ bộ
lịch sử dao động mực nước biển, theo đó sau thời kỳ băng hà cuối cùng mực nước
13
dâng cao và đạt cực đại là + 1.5m (tính theo mực biển trung bình) vào khoảng 65005000 năm trước (Stattegger K., Maximiliano. M, 2008) [57, 92].