Khoá luận tôt nghiệp
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NHTM
: Ngân hàng thương mại
NHNN
: Ngân hàng nhà nước
VP BANK
: Vietnam joint - stock Comercial bank for Private
enterprises (Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam)
TSĐB
: Tài sản đảm bảo
TD
: Tiêu dùng.
CMTND
: Chứng minh thư nhân dân
công bước đầu. Đồng thời cũng cho thấy triển vọng tươi sáng của nền kinh tế
Việt Nam trong tương lai.
Trong sự phát triển chung của nền kinh tế, Tài chính - Ngân hàng nổi lên
là một lĩnh vực có sự phát triển sôi động nhất với việc ra đời hàng loạt ngân
hàng mới và sự thâm nhập của các ngân hàng nước ngoài nhằm đáp ứng nhu
cầu vốn của nền kinh tế đang ngày một gia tăng mạnh mẽ. Đứng trước những
yêu cầu của sự hội nhập và sự cạnh tranh trên thị trường tài chính, các NHTM
đang tìm cho mình những lối đi riêng để chứng tỏ năng lực bản thân và đứng
vững trên thị trường. Ngân hàng Thương mại cổ phần Các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh (VP Bank) cũng nằm trong xu thế đó. Với những nỗ lực
không ngừng, VP Bank đang dần khẳng định và củng cố uy tín của mình trên
thị trường tài chính nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Mục tiêu
của VP Bank là ưu tiên hướng tới đối tượng khách hàng cá nhân, doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Độ rộng thị trường với nhóm đối tượng này là rất lớn, nhu
cầu đa dạng và thường xuyên gia tăng. Đó vừa là thuận lợi cũng vừa là thách
thức đối với VP Bank.
Cho vay mua nhà trả góp là một trong những hoạt động truyền thống của
VP Bank. Những năm gần đây, nhu cầu nhà ở và đầu tư bất động sản trong
các tầng lớp dân cư tăng cao, cho vay mua nhà trả góp ra đời đã giúp giải
SV: Nguyễn Thị Thu Trang
Lớp: Ngân hàng 46B
Khoá luận tôt nghiệp
4
quyết nhiều khó khăn về tài chính cho khách hàng. Quá trình thực tập tại VP
hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục
tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân
hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác
và các loại hình ngân hàng khác"
Hoạt động ngân hàng là " hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp
tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán". Vì vậy hoạt động ngân hàng
được chia thành hai mảng huy động vốn và sử dụng vốn. Trong hoạt động sử
dụng vốn, cho vay được xem là nghiệp vụ truyền thống, chiếm tỷ trọng cao
nhất trong số các nghiệp vụ của ngân hàng. Cho vay tạo ra lợi nhuận và tạo
nên các loại tài sản lớn đối với một ngân hàng.
Với những vai trò quan trọng nêu trên, cho vay là loại tài sản lớn nhất
trong khoản mục tín dụng. Quyết định 1627/2001 - NHNN quy định tại Mục
2 - Điều 3: " Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng
giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời
gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi ".
SV: Nguyễn Thị Thu Trang
Lớp: Ngân hàng 46B
Khoá luận tôt nghiệp
6
1.1.1.2. Đặc điểm
Thực chất cho vay của NHTM là hoạt động chuyển giao quyền sử dụng
vốn cho khách hàng - người đi vay với điều kiện sau một thời gian họ phải
Khoá luận tôt nghiệp
7
ra và đảm bảo an toàn cho ngân hàng. Nếu phát hiện khách hàng vi phạm
nguyên tắc này (rủi ro đạo đức), ngân hàng có quyền thu hồi nợ trước hạn và
nếu khách hàng không có tiền thì chuyển nợ quá hạn để đảm bảo an toàn.
1.1.2. Một số loại hình cho vay phổ biến tại NHTM
1.1.2.1. Căn cứ theo thời hạn vay
Phân chia thời hạn cho vay theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với
ngân hàng vì kỳ hạn cho vay liên quan trực tiếp đến tính an toàn và sinh lợi
của các khoản cho vay cũng như khả năng hoàn trả của káhch hàng. Theo tiêu
thức này có 3 loại hình cho vay:
Cho vay ngắn hạn
Các khoản cho vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống với mục đích chủ
yếu là bù đắp sự thiếu hụt vốn tạm thời, tài trợ cho vốn lưu động của các
doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
Cho vay trung hạn
Là các khoản cho vay có thời hạn từ 1năm đến 5năm, với mục đích tài
trợ cho các tài sản cố định như phương tiện vận tải, trang thiết bị, máy móc...
Cho vay dài hạn
Gồm các khoản vay có thời hạn trên 5 năm, thường cấp cho các khách
hàng có nhu cầu xây dựng nhà xưởng, dự án lớn có thời hạn thu hồi vốn dài.
Hiện nay ở các nước đang phát triển, cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỷ
trọng lớn trong danh mục cho vay của các NHTM bởi vì rủi ro của loại cho
vay này đối với ngân hàng thấp hơn so với cho vay trung và dài hạn, thu hồi
vốn nhanh hơn, tất nhiên lợi nhuận thu được thấp hơn so với cho vay trung và
dài hạn. Mục đích của cách phân loại này chủ yếu giúp các NHTM dự kiến và
đề phòng rủi ro liên quan khi căn cứ vào thời hạn cho vay.
Việc xác định thời hạn cho vay trên chỉ mang tính chất tương đối, có nhiều
mức thấu chi. Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng
phương án sử dụng vốn vay. Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng
sẽ thu gốc và lãi. Trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ
kiểm soát mục đích và hiệu quả sử dụng.
Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của
hàng hoá. Doanh nghiệp khi mua hàng hoá có thể thiếu vốn, lúc đó ngân hàng
có thể cho vay và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Ngân hàng và káhch
SV: Nguyễn Thị Thu Trang
Lớp: Ngân hàng 46B
Khoá luận tôt nghiệp
9
hàng thoả thuận với nhau về hònh thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn
cung cấp hàng hoá và khả năng tiêu thụ. Cho vay luân chuyển rất thuận tiện
cho các khách hàng, thủ tục vay chỉ cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay,
khách hàng được cung ứng vốn kịp thời. Ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong
việc thu hồi vốn nếu doanh nghiệp chậm tiêu thụ hàng hoá, do thời hạn khoản
vay không quy định rõ ràng.
Cho vay theo dự án đầu tư
Ngân hàng cho vay theo dự án đầu tu với mục đích phục vụ nhu cầu thực
hiện dự án đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án phục
vụ đời sống. Ngân hàng có thể giải ngân theo từng hạn mục mà dự án đang
thực hiện khi khách hàng cung cấp đủ các tài liệu, chứng từ ngân hàng yêu
cầu cho lần giải ngân đó.
Cho vay hợp vốn
bởi rất nhiều đối tượng tham gia vay vốn.
1.1.2.4. Căn cứ vào TSĐB vốn vay
Nhìn chung, các khoản vay của ngân hàng đều phải có bảo đảm. Tuy
nhiên trên hợp đồng tín dụng, ngân hàng chỉ ghi vào loại đảm bảo mà ngân
hàng có thể bán đi để thu nợ nếu khách hàng không trả nợ.
Cam kết đảm bảo là cam kết của người nhận tín dụng về việc dùng tài
sản mà mình đang sở hữu hoặc sử dụng hoặc khả năng trả nợ của người thứ
ba để trả nợ cho ngân hàng.
Theo căn cứ này, cho vay được phân thành
Cho vay dựa trên cam kết bảo đảm
Loại hình cho vay này dựa trên cơ sở các đảm bảo như cầm cố, thế chấp
hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Việc cho vay này nhằm hạn chế rủi ro cho ngân
hàng bằng cách thực hiện phát mại tài sản khi khách hàng mất khả năng thanh
toán khi đến hạn trả nợ. Ngân hàng phải kiểm tra, đánh giá được tình trạng
của TSĐB, có khả năng giám sát việc sử dụng hoặc có khả năng bảo quản
TSĐB. TSĐB phải có giá trị lớn hơn giá trị của khoản vay.
Cho vay không cần TSĐB
Đây là hình thức thường được cấp cho những khách hàng có uy tín cao,
khách hàng truyền thống, tình hình tài chính lành mạnh, thường xuyên có
SV: Nguyễn Thị Thu Trang
Lớp: Ngân hàng 46B
Khoá luận tôt nghiệp
11
lãi... Đây là hình thức mang tính rủi ro cao do không có tài sản cầm cố, thế
chấp hay bảo lãnh của bên thứ ba. Vì vậy ngân hàng cần thẩm định kỹ khách
Khoá luận tôt nghiệp
12
người dân một cách đáng kể.
1.2.1.2. Đối với NHTM
Là một hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động tín dụng của
ngân hàng. Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với NHTM được thể hiện rõ nét.
Trước hết, cho vay tiêu dùng cũng như các dịch vụ khác của ngân hàng
phải mang lại nguồn lợ nhuận cho ngân hàng. Với số lược lớn và tỷ trọng cao
trong cho vay tiêu dùng, chắc chắn cho vay tiêu dùng đóng góp một phần
không nhỏ vào nguồn thu lợi nhuận của ngân hàng.
Thứ hai, cho vay tiêu dùng giúp ngân hàng tăng khả năng cạnh tranh trên
thị trường tài chính. Cùng với quá trình mở cửa, hội nhập với nên kinh tế thế
giới, sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng tài chính là vô cùng gay gắt. Bên
cạnh các sản phẩm cho vay truyền thống, cho vay tiêu dùng đã và đang trở
thành một công cụ để các ngân hàng khẳng định vị thế và khả năng của mình
trên thị trường.
Thứ ba, cho vay tiêu dùng tạo sự gắn bó và mở rộng quan hệ đối với
khách hàng cá nhân. Đối tượng khách hàng này thường nhỏ, lẻ, phân tán tuy
nhiên lại là đối tượng có số lượng lớn. Vì vậy cho vay tiêu dùng đánh vào đối
tượng khách hàng cá nhân là rất hiệu quả.
Ngoài ra, cho vay tiêu dùng còn giúp các ngân hàng phân tán rủi ro. Khi
càng có nhiều hoạt động kinh doanh, đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ thì
mức độ rủi ro cũng được hạn chế bớt do rui ro đã được phân tán cho các hoạt
động khác nhau thay vì tập trung vào một hoặc một số hoạt động như ban đầu.
1.2.1.3. Đối với khách hàng ( người tiêu dùng )
Người tiêu dùng cũng chính là khách hàng của ngân hàng và họ là người
được hưởng lợi trực tiếp từ hoạt động cho vay tiêu dùng. Tại thời điểm ban
- Cho vay tiêu dùng trả góp ( Installment Consumer Loan ) : Đây là hình
thức cho vay tiêu dùng mà trong đó người đi vay trả nợ gốc và lãi cho ngân
hàng nhiều lần theo từng kỳ hạn nhất định trong thời hạn vay. Hình thức này
thường áp dụng cho những khoản vay có giá trị tương đối lớn để mua những
vật dụng đắt tiền như mua ôtô, mua nhà...Loại hình cho vay này hiện nay
đang rất phổ biến ở các NHTM Việt Nam.
- Cho vay tiêu dùng phi trả góp ( Noninstallment Consumer Loan ) :
Theo hình thức này khách hàng thanh toán cho ngân hàng chỉ một lần khi đến
hạn. Vì vậy phương thức nàu chỉ có thể áp dụng đối với những khoản vay có
SV: Nguyễn Thị Thu Trang
Lớp: Ngân hàng 46B
Khoá luận tôt nghiệp
14
giá trị nhỏ, thời gian vay dưới 12 tháng.
1.3. Khái quát hoạt động cho vay mua nhà trả góp
1.3.1.Hoạt động cho vay trả góp
1.3.1.1. Khái niệm cho vay trả góp
Cho vay trả góp được quy định trong QĐ 1627/2001 ( Quy chế cho vay
của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng ) như sau:
" Khi vay vốn tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số
lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ
hạn trong thời hạn cho vay ". Do đó, ngân hàng và khách hàng có thể thoả
thuận với nhau về các phương thức hoàn trả sao cho phù hợp với khả năng trả
nợ của khách hàng.
Theo quyết định 284/2000 - QĐ - NHNN, cho vay trả góp được hiểu như
thu nhập đều đặn của người vay. Do đó thường thì các khoản cho vay trả góp
có lãi suất cao nhất trong khung lãi suất của ngân hàng.
1.3.1.3. Phương pháp tính số tiền trả góp hàng kỳ
Phương thức trả góp đều
Với phương thức trả góp này, khách hàng phải trả cho ngân hàng một số
tiền cố định hàng tháng ( hoặc hàng năm ) mà trong đó đã bao gồm cả gốc và
lãi vay ( trả theo niên kim cố định )
SV: Nguyễn Thị Thu Trang
Lớp: Ngân hàng 46B
Khoá luận tôt nghiệp
17
Số tiền này được tính như sau:
Tk = C
i
1 − (1 + i ) − n
Với : T k : Số tiền trả hàng kỳ
C : Số vốn vay ban đầu
i : Lãi suất
n : Kỳ hạn vay ( tính theo tháng hoặc năm )
Trong đó: Số tiền lãi phải trả hàng kỳ được tính theo công thức:
TLk = C × i
SV: Nguyễn Thị Thu Trang
Lớp: Ngân hàng 46B
Khoá luận tôt nghiệp
18
Khi đó số tiền hàng kỳ khách hàng phải trả là
1 i
Tk = C i + − (k − 1)
n n
Trong đó, nợ gốc phải trả là
TGk =
C
n
Và lãi phải trả
i
TLk = C i − (k − 1)
n
những ưu đãi đặc biệt về chính sách cho vay mua nhà và xây dựng nhà ở dành
cho đối tượng có thu nhập thấp.
Tại Việt Nam hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang đẩy mạnh chính sách
cho thuê, xây dựng nhà ở cho những người có thu nhập thấp. Do đó nếu các
NHTM có thể liên kết được với các công ty xây dựng để tài trợ cho đối tượng
trên thì khách hàng đến với ngân hàng chắc chắn sẽ tăng nhanh.
- Đối tượng có thu nhập trung bình: Đây được coi là những khách hàng
mục tiêu coau mỗi ngân hàng vì đối tượng này chiếm đa số trong xã hội, đặc
biệt là ở các đô thị. Thu nhập của họ thường là nguồn thu nhập ổn định,
thường xuyên, do đó phù hợp với phương thức vay trả góp của ngân hàng.
Mặt khác, nhu cầu về nhà ở của đối tượng này ở các khu đô thị là rất lớn.
Nhóm khách hàng này có xu hướng tăng mạnh, đặc điểm là muốn vay tiêu
dùng hơn là dùng chính tiền tích luỹ của mình để tiêu pha.
- Đối tượng có thu nhập cao: Tại các đô thị lớn, đối tượng có thu nhập
cao ngày càng tăng lên rõ rệt cùng với sự tăng lên về mức sống xã hội. Nhóm
đối tượng có thu nhập cao thường coi việc vay mượn là nhằm tăng thêm khả
năng thanh toán và coi nó như những khoản chi tiêu ứng trước khi mà vốn
tích luỹ đã được đầu tư trung hoặc dài hạn. Họ sẽ hoàn trả các khoản vay dựa
vào doanh thu và lợ nhuận của các khoản đầu tư trên mang lại. Loại hình nhà
mà đối tượng có thu nhập cao quan tâm thường là chung cư có diện tích lớn,
biệt thự, nhà riêng. Trong một số trường hợp, việc vay mua nhà của đối tượng
có thu nhập cao không phải với mục đích tiêu dùng cho sinh hoạt mà có thể
để đầu cơ, kinh doanh, cho thuê nhà đất...Các NHTM rất quan tâm tới đối
tượng khách hàng này vì đây là những khách hàng với những khoản tiền vay
SV: Nguyễn Thị Thu Trang
Lớp: Ngân hàng 46B
tiêu về khả năng thanh toán, hệ số nợ... của doanh nghiệp, mà còn liên quan
SV: Nguyễn Thị Thu Trang
Lớp: Ngân hàng 46B
Khoá luận tôt nghiệp
21
đến số thu nhập doanh nghiệp họ phải nộp
Nghiệp vụ cho vay trả góp của ngân hàng với đối tượng khách hàng là
doanh nghiệp được thực hiện bằng các hợp đồng vay trả, gồm những cam kết
của khách hàng trên cơ sở ngân hàng đã hiểu biết về năng lực kinh doanh và
khả năng tài chính của khách hàng. Vì vậy trong nghiệp vụ cho vay mua nhà
trả góp nói riêng và nghiệp vụ cho vay của ngân hàng nói chung, việc xây dựng
chiến lược về khách hàng và những biện pháp quản lý tiền vay là rất quan
trọng, có ý nghĩa xuyên suốt qua trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
1.3.2.2. Đặc điểm về rủi ro của món vay
Rủi ro của hoạt động cho vay mua nhà trả góp là tương đối lớn. Trước
hết phải kể đến rủi ro chứa đựng trong tính chất của loại hình cho vay trả góp
tiếp đến là những rủi ro từ phía bản thân loại hình cho vay mua nhà. Có
thể chia rủi ro ra thành 3 nhóm : rủi ro từ khách hàng vay vốn, rủi ro từ phía
thị trường, và rủi ro của bản thân ngân hàng.
Xuất phát từ phía khách hàng là rủi ro về khả năng không hoàn trả nợ
gốc và lãi cho ngân hàng. Rủi ro này thường hay xảy ra với đối tượng khách
hàng cá nhân.
Với khách hàng cá nhân rủi ro có thể xảy ra khi khách hàng gặp một trong
các tình trạng: thất nghiệp; vi phạm pháp luật ở mức độ hình sự; chết, mất tích,
suất thả nổi hoặc lãi suất cố định ( trong những năm gần đây phổ biến là lãi
suất thả nổi ). Lãi suất dành cho các khoản vay này tương đối cao so với các
món tín dụng khác. Lãi suất thả nổi được điều chỉnh theo một mức lãi suất cơ
sở ( do NHTM lựa chọn ) hoặc theo mức lãi suất cho vay mua nhà quốc gia.
Ngân hàng ký với khách hàng hợp đồng tín dụng có thể quy định mức lãi suất
năm đầu nhất định, những năm sau đó lấy một lãi suất làm cơ sở ( thường là
lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau ) cộng với một mức lãi suất cố
định. Chính vì vậy lãi suất cảu khoản vay mua nhà trả góp cung chứa đựng rất
nhiều rủi ro.
Nhưng nguy cơ rủi ro tăng lên cũng đồng thời giúp ngân hàng gia tăng
thêm lợ nhuận, một phần là do lãi suất của loại hình cho vay này cao hơn các
loại hình khác. Tuỳ vào từng giai đoạn chuyển đổi khác nhau của nền kinh tế
mà ngân hàng có những chính sách khuyến khích khác nhau vềloại hình cho
vay này.
1.3.2.4. Đặc điểm về quy mô và thời hạn của món vay
Đối tượng tài trợ của các khoản vay là căn hộ, nhà, chi phí xây dựng nhà
SV: Nguyễn Thị Thu Trang
Lớp: Ngân hàng 46B
Khoá luận tôt nghiệp
23
cửa... với giá trị lớn. Vì vậy quy mô của khoản vay mua nhà thường lớn hơn
rất nhiều so với quy mô trung bình của các khoản cho vay tiêu dùng trả góp
thông thường khác. Do đó khoản mục cho vay mua nhà trả góp sẽ đóng một
tỷ trọng đáng kể trong tín dụng của ngân hàng.
Khoản cho vay mua nhà trả góp thường có kỳ hạn dài từ 5 đến 30 năm,
(2) Tỷ trọng dư nợ cho vay mua nhà trong tổng dư nợ cho vay tiêu dùng
Công thức:
Tỷ trọng dư nợ cho vay mua
=
nhà trong cho vay tiêu dùng
Dư nợ cho vay mua nhà
Dư nợ cho vay tiêu dùng
× 100%
(3) Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay mua nhà
Công thức :
Tốc độ tăng trưởng dư = Dư nợ cho vay mua nhà kỳ này - kỳ trước
nợ cho vay mua nhà
Dư nợ cho vay mua nhà kỳ này
Chỉ tiêu này rất quan trọng đối với việc đánh giá mức độ phát triển của
hoạt động cho vay mua nhà vì nó cho biết mức gia tăng dư nợ cho vay mua
nhà qua các thời kỳ, giúp đánh giá hiệu quả của hoạt động cho vay mua nhà.
(4) Tỷ trọng dư nợ cho vay mua nhà trong tổng dư nợ
Việc tính toán chỉ tiêu này có thể thấy được tỷ trọng cho vay mua nhà
trong tổng dư nợ, từ đó thấy được cơ cấu dư nợ tín dụng của ngân hàng. Căn
cứ vào đó, ngân hàng sẽ xem xét mức độ mở rộng hoạt động cho vay mua nhà
trong cho vay để vừa đảm bảo an toàn tín dụng vừa khai thác có hiệu quả hoạt
động này.
Doanh số cho vay
Hệ số này cho biết chất lượng của các hoạt động cho vay nói chung. Việc
mở rộng quy mô phải gắn liền với chất lượng tín dụng tốt ( khả năng thu nợ
tốt ) thì hoạt động đó mới coi là hiệu quả.
(2)Tỷ lệ nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn và hệ số thu nợ là 2 chỉ tiêu có liên quan mật thiết với
nhau. Khi hệ số thu nợ cao thì nợ quá hạn cũng sẽ được hạn chế bớt. Tại một
thời điểm nhất định, tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh chất lượng cũng như các rủi ro
của hoạt động tín dụng.
(3)Tỷ lệ nợ bị mất trắng trên tổng dư nợ
Nợ bị mất trắng là khoản nợ nguy hiểm nhất trong số các khoản nợ quá
hạn của ngân hàng. Nợ quá hạn bao gồm:
- Nợ kém chất lượng : là những khoản nợ không đảm bảo đủ giá trị hiện
hành, người vay không có đủ khả năng trả các khoản nợ đến hạn. Lúc đó,
ngân hàng phải trông chờ vào nguồn trả nợ thứ hai là tài sản thế chấp. NHNN
quy định các khoản nợ quá hạn đến 90 ngày thuộc nhóm này.
- Nợ nghi ngờ : Các khoản nợ quá hạn có đầy đủ các nhược điểm của nợ
kém chất lượng, không đủ tài sản thế chấp nhưng vẫn có khả năng khắc phục
được nên chưa bị xếp vào loại nợ bị mất trắng. Bao gồm các khoản nợ quá
hạn từ 90 đến 180 ngày.
- Nợ bị mất trắng ( mất vốn ) : là những khoản nợ không có khả nanưg
thu hồi, không còn gia trị và không có lý do gì để tiếp tục là tài sản thế chấp
cho ngân hàng mặc dù không phải tuyệt đối không thu hồi được. Những
khoản nợ quá hạn trên 1 năm xếp vào loại này trừ những khoản nợ có đủ tư
cách thế chấp đang được xử lý theo quy định pháp luật hoặc cưỡng chế theo
SV: Nguyễn Thị Thu Trang
Lớp: Ngân hàng 46B