Đặc điểm đoạn văn kết thúc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp - Pdf 31

Trờng Đại học Vinh
Khoa ngữ văn
====*****====

Đặc điểm đoạn văn kết thúc
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: ngôn ngữ

Giáo viên hớng dẫn:
Sinh viên thực hiện:

pgs.ts. phan mậu cảnh
nguyễn thị thủy

Lp:

47B2 - Ng vn

Vinh - 2010


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm khoá luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi
đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của PGS. TS. Phan Mậu Cảnh, sự
đóng góp ý kiến thiết thực của các thầy cô trong tổ Ngôn ngữ, khoa Ngữ văn Trường Đại học Vinh, cũng như sự động viên, chia sẻ của gia đình, bạn bè và
những người thân.
Với tình cảm chân thành, cho phép tôi gửi lời cảm ơn đến Ban chủ
nhiệm khoa, tổ Ngôn ngữ, cùng các thầy cô giáo trong khoa, bạn bè và người
thân, đặc biệt là thầy giáo, PGS. TS. Phan Mậu Cảnh - Người đã trực tiếp
hướng dẫn tôi hoàn thành khoá luận này.

1.2.
Truyện ngắn và những đặc điểm của truyện ngắn.......Error: Reference
source not found
1.2.1. Khái niệm........................................ Error: Reference source not found
1.2.2. Đặc điểm của truyện ngắn:..............Error: Reference source not found
1.3.
Vấn đề đoạn văn..............................Error: Reference source not found
1.3.1. Khái niệm........................................ Error: Reference source not found
1.3.2. Phân loại đoạn văn.......................... Error: Reference source not found
1.4.
Đoạn văn kết thúc truyện ngắn........Error: Reference source not found
1.4.1. Nhận xét chung................................Error: Reference source not found
1.4.2. Một số đặc điểm đoạn văn kết thúc. Error: Reference source not found
1.4.3. Vai trò của đoạn văn kết thúc truyện ngắn Error: Reference source not
found
Tiểu kết chương 1............................................................................................27
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC ĐOẠN VĂN KẾT THÚC
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP....Error: Reference
source not found
2.1.
Dẫn nhập............................................................................................29


2.2.

Cấu tạo đoạn văn kết thúc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.........Error:
Reference source not found
2.2.1. Đoạn kết có cấu tạo bình thường.....Error: Reference source not found
2.2.2. Đoạn kết có cấu tạo đặc biệt............Error: Reference source not found
2.3.

đã mang đến cho văn học Việt Nam một diện mạo mới: Từ cách chọn đề tài,
cách xây dựng nhân vật, cách dựng truyện, lối hành văn …đều mới, để cuối
cùng diễn đạt những chủ đề, tư tưởng mới.
Và cũng từ khi Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện đã làm dấy lên làn sóng phê
bình, bình luận văn học. Các nhà phê bình văn học trong nước cũng như nước
ngoài cũng đã tranh cãi đặt ra nhiều cách đọc, cách hiểu khác nhau về tác
1


phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, chẳng hạn như các truyện ngắn: Vàng lửa,
Kiếm sắc, Phẩm tiết … rồi cách nhìn nhận vấn đề văn - sử bất phân trong các
truyện lịch sử của tác giả. Nguyễn Huy Thiệp với tác phẩm của mình đang trở
thành một hiện tượng được đông đảo giới phê bình nghiên cứu quan tâm.
1.2. Đoạn văn là đơn vị quan trọng, tồn tại thường trực và ổn định trong
văn bản, là đơn vị trực tiếp cấu tạo văn bản, giúp người đọc phát hiện, tìm chủ
đề văn bản. Đứng ở những vị trí khác nhau, đoạn văn đảm trách những vai trò
khác nhau. Đoạn văn (dù là bình thường hay bất thường) bao giờ cũng mang
trong mình nó lượng thông tin cần thiết làm nên tính hoàn chỉnh của văn bản.
Đoạn văn kết thúc có vai trò quan trọng là đóng khép văn bản và nó chứa một
lượng thông tin quan trọng cho toàn bộ văn bản.
Việc nghiên cứu đoạn văn kết thúc văn bản nghệ thuật, cụ thể là đoạn
văn kết thúc truyện Nguyễn Huy Thiệp sẽ giúp chúng ta làm rõ hơn sự độc
đáo trong quan điểm nghệ thuật của ông qua cách xác định đoạn văn. Đồng
thời qua đó chúng ta có cơ sở cắt nghĩa, lý giải mối quan hệ đa chiều giữa
đoạn văn kết thúc văn bản với các yếu tố ngoài nó. Mặt khác, chúng tôi mong
muốn tìm được những cứ liệu xác đáng, những sáng tạo của nhà văn để góp
phần hiểu sâu hơn về bản chất của đoạn văn trong văn bản.
2. Lịch sử vấn đề:
2.1. Khái quát về tình hình nghiên cứu tác giả Nguyễn Huy Thiệp
2.1.1. Từ góc độ văn học

Nam nhưng ý thức, trách nhiệm ngòi bút của nhà văn rất cao. Và những sáng
tác của ông đã trở thành đối tượng nghiên cứu, phê bình của nhiều tác giả. Có
thể kể đến một số bài viết như: “Tướng về hưu - một tác phẩm có tính nghệ
thuật” của tác giả Trần Đạo, ý kiến của Nguyễn Hoà đăng trên báo “Văn
nghệ” (5/9/1987) tỏ ra sắc sảo khi nhận xét “Tướng về hưu là truyện ngắn hay
với lối viết khách quan rất có hiệu quả thẩm mỹ. Tác giả miêu tả mà không
đưa ra một lời bình luận, một cách giải quyết nào, người đọc trong khả năng
của mình tự suy ngẫm, tự đánh giá, tự rút ra kết luận cần thiết” [ 13,159]
“Đọc truyện Nguyễn Huy Thiệp” Nguyễn Thanh Sơn - nhà phê bình văn
học đã chỉ ra: Nguyễn Huy Thiệp “căm thù sâu sắc những kết thúc truyền
3


thống (Trương Chi) hay chính xác hơn, ông căm thù tất cả những bức màn mà
thói đạo đức giả đã căng ra trước mắt con người không cho họ nhìn thẳng vào
sự thật” [13,12].
Trong “Về cái “ma lực” trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” Đông La
có nhận xét: truyện của anh thường không có cốt truyện, là truyện của nhiều
vấn đề. Nó chảy như một dòng chảy tự nhiên”.
Nguyễn Huy Thiệp là một người có tài kể chuyện, ngòi bút sôi nổi, trầm
tĩnh mà lạnh lùng, truyện của ông lôi cuốn người đọc ngay từ những phần đầu
câu chuyện. Có thể thấy: Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp thường không
dịu ngọt mà thường rât gay go, dữ dội với những tình tiết li kì và những xung
đột chứa nhiều kịch tính.
2.1.2. Từ góc độ ngôn ngữ
Vấn đề ngôn ngữ thì theo chúng tôi được biết đến nay chưa có một công
trình nào đề cập đến một cách trọn vẹn. Các bài viết hoặc chỉ đặt ra vấn đề
trong một tác phẩm như: “Lời thoại trong truyện ngắn Tướng về hưu” của
Nguyễn Thị Hương, hoặc là một vấn đề về ngôn ngữ như “Độc thoại - định
hướng hành động nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp” của Lê Thị Sao Chi.

- Diệp Quang Ban với công trình “Văn bản và liên kết trong Tiếng
Việt’’: Đã thâu tóm một cách hệ thống những vấn đề về ngữ pháp văn bản.
Như vậy, các nhà ngữ pháp văn bản đã quan tâm nghiên cứu khá đầy đủ
những biểu hiện về nội dung và hình thức của đơn vị đoạn văn. Ở những mặt
nào đó, các ý kiến chưa hoàn toàn thống nhất nhưng những tiền đề lí thuyết
họ đưa ra có ý nghĩa rất lớn đối với ngôn ngữ học.
2.2.2. Khái quát về tình hình nghiên cứu đoạn văn kết thúc văn bản
nghệ thuật.
Vấn đề đoạn văn kết thúc văn bản nghệ thuật nói chung và đoạn văn kết
thúc truyện ngắn nói riêng từng được một số người đề cập đến.
Trước hết cần kể đến bài viết “Các kiểu kết thúc truyện ngắn hôm nay”
của Lê thị Hường (Tạp chí văn học số 4. 1995) ở đây tác giả bàn đến các kiểu
kết thúc chung thường gặp như:
Kết thúc để ngỏ
Kết thúc có nhiều đoạn kết
5


Kết thúc đối nghịch
Loại truyện có mở đầu mà không có kết thúc
Trong quan niệm của các tác giả bài viết, đoạn kết thúc trùng với phần kết
Ở bài “Nơi tác phẩm kết thúc là cuộc sống bắt đầu” (Tạp chí văn học số
9. 1998) tác giả Bùi Việt Thắng đề cập tới vai trò của đoạn kết thúc truyện
ngắn. Ông đã chứng minh sự tồn tại của các kiểu kết thúc khác nhau: kết
khép, kết mở, kết bất ngờ và kiểu truyện không có kết.
Tác giả công trình “Văn bản và liên kết trong Tiếng Việt” (Nxb Giáo
dục, 1998) cho rằng: “Đoạn văn kết thúc có chức năng đóng khép văn bản”.
Qua tình hình nghiên cứu đoạn văn kết thúc văn bản, chúng tôi thấy rằng:
Phương diện được nhiều người quan tâm là các kiểu đoạn kết thúc - xét trong
mối quan hệ ngữ nghĩa với toàn bộ văn bản. Tình hình trên đặt ra vấn đề cần

7. Những người thợ xẻ

18. Không khóc ở California

8. Những bài học nông thôn

19. Nguyễn Thị Lộ

9. Kiếm sắc

20. Trương Chi

10.Vàng lửa

21. Thiên văn

11. Phẩm tiết

22. Đời thế mà vui
6


23. Tội ác và trừng phạt

29. Bài học Tiếng Việt

24. Thương cả cho đời bạc

30. Sống dễ lắm


ngắn hôm nay nói chung. Đồng thời góp phần vào việc dạy học văn bản nghệ
thuật trong nhà trường.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện khoá luận này, chúng tôi đã sử dụng những
phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu

7


5. Đóng góp mới của khoá luận
Với đề tài này, khoá luận đã làm rõ các đặc điểm về nội dung, hình thức
các đoạn văn kết thúc truyện ngắn của Nguyễn Huy Thịêp, qua đó phần nào
làm rõ bản chất, đặc trưng của đoạn kết, và chứng minh sự phong phú đa dạng
của nó trong truyện ngắn về mặt hình thức và nội dung, góp phần làm rõ
phong cách ngôn ngữ của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp.
6. Cấu trúc của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết thúc, khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1. Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2. Đặc điểm hình thức đoạn văn kết thúc truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp
Chương 3. Đặc điểm nội dung đoạn văn kết thúc truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp

8


Chương 1


Những tác phẩm đã xuất bản:
- Một số truyện ngắn:
Những ngọn gió Hua Tát - Nxb Văn hoá Hà Nội 1989
Con gái Thuỷ thần - Nxb Hội Nhà văn Hà Nội 1993
Mưa Nhã Nam - Nxb Văn học Hà Nội 2001
Thương cho cả đời bạc - Nxb Văn hoá Thông tin 2000
Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp - Nxb Trẻ 2003
- Một số tiểu thuyết:
Tiểu Long Nữ - Nxb Công an nhân dân 1996
Gạ tình lấy điểm - Nxb Hội Nhà văn 2007
- Kịch
Suối nhỏ êm đềm - Báo văn nghệ California 2001
- Phê bình tiểu luận:
Tác phẩm và dư luận - Tạp chí sông Hương - Nxb Trẻ Huế 1989
Tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp đã đươc dịch ra nhiều thứ ngôn ngữ: Anh,
Pháp, Hà Lan, Thuỵ Điển, Đan Mạch …
Ông được chính phủ Pháp trao huân chương văn học nghệ thuật.
1.1.3. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Huy Thiệp đặc biệt thành công với truyện ngắn, ông đựơc xem
là nhà văn truyện ngắn bậc thầy và dường như ông chỉ thành công ở loại này.
Với hơn 50 truyện ngắn ông trở thành nhà văn quan trọng trong nền văn học
Việt Nam đương đại.
Mảng đề tài nhà văn hướng đến rât đa dạng gồm: lịch sử và văn học, hơi
hướng huyền thoại và cổ tích, xã hội Việt Nam đương đại, xã hội làng quê và
những người lao động.
Đọc truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp ta bắt gặp một lối viết khá độc
đáo. Với ngòi bút sáng tạo mạnh mẽ, nhà văn đã không ngần ngại phô bày tất
cả những cái “khác thường” mà rất bình thường của cuộc sống. Người đọc đi
từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác bởi lối dẫn dắt truyện rất đặc biệt của

Nhà văn Nguyên Ngọc lại cho rằng: “Truyện ngắn là bộ phận của tiểu
thuyết nói chung” vì thế “Không nên nhất thiết trói buộc truyện ngắn vào
những khuôn mẫu gò bó. Truyện ngắn vốn nhiều vẻ. Có truyện viết về cả một
đời người, lại có truyện chỉ ghi lại một vài giây phút thoáng qua [14, 28]. Ở
11


đây, tác giả chỉ rõ sức ôm chứa và khả năng khái quát hiện thực của truyện
ngắn. Quan niệm này có điểm gặp gỡ với quan niệm của nhà văn Nguyễn
Quang Thân “Một khoảnh khắc cực ngắn hay một ngàn năm, truyện ngắn
chuyên chở hết” [15, 62].
“Từ điển văn học” (Tập 2 - Nxb Khoa học xã hội, H, 1984) của Đỗ Đức
Hiểu lại cho rằng: Truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ, truyện ngắn khác
truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảng của cuộc sống,
một biến cố hay một vại biến cố xảy ra trong một vài đoạn nào đó của đời
sống, nhân vật biểu hiện một mặt nào đó vấn đề của xã hội. Cốt truyện thường
diễn ra trong một không gian, thời gian hạn chế. Kết cấu truyện ngắn cũng
không chia thành nhiều tuyến phức tạp. Truyện ngắn viết ra để tiếp thu liền một
mạch đọc một hơi không nghỉ nên đặc điểm của truyện ngắn là tính ngắn gọn.
Nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn
“Từ điển thuật ngữ văn học”, mục truyện ngắn định nghĩa: “Truyện ngắn là
tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung của truyện ngắn bao trùm hầu hết cá phương
diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn.
Truyện ngắn viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ”.
Trở lên là những ý kiến về truyện ngắn của những người sáng tác, người
nghiên cứu, tiếp nhận. Các ý kiến rất đa dạng nhưng nhìn chung đều xoay
quanh những khía cạnh chính: Dung lượng, kết cấu, độ dồn nén, sức khái quát
hiện thực, hình thức biểu đạt …
1.2.2. Đặc điểm của truyện ngắn:
Từ các ý kiến của các tác giả ta có thể rút ra đặc điểm của truyện ngắn

Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng cho rằng: “Trong thực tiễn sáng tác
truyện ngắn thì thường các nhà văn chú ý đến hai khâu quan trọng nhất khi
xây dựng cốt truyện: chi tiết và đoạn kết” [16, 84]. Điều đó cho thấy, đoạn
văn kết thúc có vai trò to lớn trong việc kiến tạo tác phẩm.
1.3. Vấn đề đoạn văn
1.3.1. Khái niệm
Trên thực tế cho thấy đoạn văn và những biểu hiện về hình thức và nội
dung giữ một vai trò khá quan trọng. Tuy nhiên, trên phương diện lý thuyết,
xung quanh khái niệm đoạn văn còn có nhiều tranh cãi.

13


Trần Ngọc Thêm cho rằng: Đoạn văn là một bộ phận của văn bản, gần
một chuỗi phát ngôn được xây dựng theo một cấu trúc và mang một nội dung
nhất định được tách ra một cách hoàn chỉnh về hình thức: ở dạng nói, nó có
kiểu ngữ điệu nhất định và kết thúc bằng quãng ngắt dài; ở dạng viết, nó bắt
đầu bằng dấu mở đoạn và kết thúc bằng dấu ngắt đoạn.
Giáo trình “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” (Bùi Tất Tươm, Nguyễn
Văn Bằng, Hoàng Xuân Tâm - Nxb GD. 1997) quan niệm: “Đoạn văn là một
tập hợp nhiều câu thể hiện một chủ đề.”
Diệp Quang Ban xác nhận “Đoạn văn thường được hiểu là một phần của
văn bản tách từ chỗ viết hoa thường lui vào ở đầu dòng cho đến chỗ chấm
xuống dòng” [2, 203].
Phan Mậu Cảnh trong cuốn “Lý thuyết và thực hành văn bản Tiếng Việt”
(Nxb ĐHQG, H. 2008) cho rằng: “Đoạn văn là một bộ phận của văn bản do
câu tạo thành theo một cấu trúc nhất định, biểu thị một nội dung tương đối
độc lập, có hình thức rõ ràng.” [4, 126].
Nhìn chung, hiện nay vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về đoạn văn,
song các nhà nghiên cứu đã thống nhất với nhau ở mấy điểm:

Được thiết lập ngược chiều với đoạn văn diễn dịch. Là đoạn văn có câu
chủ đề đứng cuối, các câu trước có nhiệm vụ nêu lên hiện tượng, dẫn chứng
để câu sau tóm lại vấn đề. Đây là kiểu trình bày nội dung từ cụ thể đến khái
quát, có quan hệ phụ - chính.
Ví dụ:
Chiều vàng mặt trời, phu tầng đã về hết, những phát mìn ở tầng trên thi
nhau nổ để phá đất và đá. Người đi lại thưa thớt, lờ đờ, cửa các nhà đã đóng,
chỉ còn mở một cánh. Phố mỏ đang sống những ngày như bị bệnh dịch tả
hoành hành.
(Vùng mỏ - Võ Huy Tâm)
Câu cuối mang ý nghĩa khái quát toàn đoạn. Ba câu trước là những biểu
hiện cụ thể của không khí nặng nề, u ám ở vùng mỏ. Nhịp sống giảm dần,
bóng dáng cuộc sống mờ nhạt được chốt lại ở câu cuối.
• Đoạn văn song hành
Là đoạn văn không có câu chủ đề. Các câu trong đoạn có quan hệ bình
đẳng không phụ thuộc chặt chẽ vào nhau.
15


Ví dụ:
Cây đa già cỗi và quán gạch vẫn đứng đợi nàng ở đầu làng. Đường ngõ
vẫn lồi lõm vó trâu đi, hai bên vệ vẫn mùi bèo và mùi dạ ướp. Trong làng
chẳng có gì thay đổi khi nghe thiếng bà Tư đón hỏi trên thềm. Tiếng thằng Ái
và em bé reo mừng chị. Lòng Tâm dịu lại như ngày còn gánh hàng về bước
vào ngồi lên phản canhl mẹ, căn nhà đối với nàng hình như rộng rãi và lặng
lẽ hơn trước.
(Cô hàng xén - Thạch Lam)
• Đoạn văn móc xích
Là đoạn văn mà các câu trong đoạn có quan hệ nối tiếp nhau, kéo theo
nhau theo một trình tự nhất định. Câu trước làm tiền đề cho câu sau xuất hiện,

Buổi sáng.
Nó tỉnh dậy vào lúc 10 giờ sáng. Nó tự dằn vặt mình vì đã ngủ quên.
Thật là thảm hại vì chỉ có việc thức cũng không xong. Thế là toi một đêm.
(Phù Thuỷ - Nguyễn Thị Thu Huệ)
Đoạn văn thứ nhất và thứ hai ở ví dụ trên chỉ gồm một từ
• Đoạn văn đăc biệt một cụm từ
Ví dụ:
Đêm rằm tháng Giêng.
Ngược dòng người đi lễ chùa dập dìu là hai ông già cầm can lập cập
bước ra từ những tủ kinh phủ bụi.
(Bán cốt - Võ Thị Hảo)
Đoạn thứ nhất gồm một cụm từ, nó nhấn mạnh khoảng thời gian xảy ra
sự kiện đáng nhớ trong cuộc đời một hoạ sĩ tài hoa nhưng nghèo xơ xác.
• Đoạn văn đặc biệt một câu
Ví dụ:
Năm bảy mươi tuổi, cha tôi về hưu với hàm thiếu tướng.
(Tướng về hưu - Nguyễn Huy Thiệp)
Như vậy, văn bản có sự đan xen giữa đoạn văn bình thường và đoạn văn
đặc biệt. Sự xuất hiện ít hoặc nhiều một kiểu loại đoạn văn xét về mặt cấu tạo
là do sự chi phối của đặc trưng phong cách chức năng và phong cách tác giả.
17


1.3.2.2. Dựa vào chức năng đoạn văn
Xét chức năng của đoạn văn trong văn bản ta có thể nhận diện được ba
loại: đoạn văn mở đầu ; đoạn văn luận giải ; đoạn văn kết thúc.
* Đoạn văn mở đầu
Là đoạn văn mở đầu văn bản, có nhiệm vụ đặt vấn đề hay giới thiệu
khung cảnh chung. Nó là một phần trong bố cục của văn bản, có nội dung liên
quan chặt chẽ với phần luận giải và kết luận. Đoạn văn mở giúp người tạo văn

(Chí Phèo - Nam Cao)
Đoạn kết gợi ra sự suy tưởng, từ đó làm cho tác phẩm có khoảng trống
trong suy nghĩ của bạn đọc về một cuộc đời tiếp theo đang dần hình thành.
Ví dụ:
Vợ chồng nhà giàu không chối được đằng nào, lại cũng muốn sống yên
lành liền đem ngọc ra trả. Anh ta cầm chắc hòn ngọc trong tay, mới đưa cành
hoa đỏ cho cả nhà bố vợ ngửi. Tức thì mũi ngắn laị như trước. Chúng mừng
như cha chết sống lại. Nhưng người vợ ấy anh ta bỏ, và đi tìm người vợ khác
có tình nghĩa hơn.
(Hòn ngọc ước - Truyện cổ tích Việt Nam)
Đoạn văn nêu lên kết cục của câu chuyện và kết thúc văn bản
1.3.2.3. Dựa vào nội dung - ý nghĩa
Gồm hai kiểu: đoạn văn tự nghĩa và đoạn văn hợp nghĩa
* Đoạn văn tự nghĩa
Là đoạn văn biểu đạt một nội dung thông tin nhất định, hoàn chỉnh và
tương đối độc lập. Những đoạn văn tự nghĩa khi tách khỏi văn bản vẫn không
gây cách hiểu mơ hồ về nội dung. Đoạn văn tự nghĩa không chứa những từ
ngữ chuyển tiếp hay những từ ngữ liên đới phụ thuộc.
Ví dụ:
Xóm Nhài nằm bên sông Canh, con sông nhỏ, mùa nước cạn, người lội
qua sông được, chỗ sâu nhất chỉ llọi đến ngực thôi. Nhà Lâm ở cuối xóm, sâu
trong ngõ nhỏ có hàng rào trồng cây khúc tần. Nhà lợp rạ, tường đất, ba gian
hai chái. Đồ đạc trong nhà chẳng có gì: giữa nhà kê một hòm gian đựng
thóc, hai bên bốn cái giường tre, quần áo vắt trên sào buộc dọc tường...
(Những bài học nông thôn - Nguyễn Huy Thiệp)

19


Tính độc lập của đoạn văn tự nghĩa chỉ mang ý nghĩa tạm thời, nó luôn ở



* Phần kết nằm ngoài chính văn: Có tính độc lập với văn bản, nó có
thể là lời tác giả hay lời người khác “nói thêm” cho chính văn.
Ví dụ:
… Đọc văn có người cảm bằng trái tim, có người luận bằng trí tuệ,
Nguyễn Trọng Tạo cảm và luận bằng “trí tuệ của trái tim”. Luận của anh ở
ngay trong sự cảm của anh
Bằng trí tuệ và cảm xúc, Nguyễn Trọng Tạo đưa ra những nhận xét tinh tế,
hồn hậu thường là xác đáng, hàng chục năm sau đọc vẫn thấy đúng, anh không
bị luẩn quẩn với những “định nghĩa” và “luận điểm” chỉ có giá trị nhất thời.
(Văn chương cảm và luận - Nguyễn Trọng Tạo)
Đây là lời bàn của Hoàng Ngọc Hiến viết cuối cuốn sách để nhận xét về
cách cảm và luận văn chương của Nguyễn Trọng Tạo.
* Phần kết của tác giả văn bản: Phần kết này thường rất phổ biến. Đây
là phần hữu cơ của văn bản nằm trong cấu trúc nội tại của văn bản. Nó có thể
là một hay nhiều đoạn văn.
Ví dụ: Phần kết là một đoạn văn
Sau lần ấy, số phận đẩy tôi sang bước ngoặt khác, tôi không đi xẻ gỗ
nữa, chuyển sang làm việc khác
(Những người thợ xẻ - Nguyễn Huy Thiệp)
Ví dụ: Phần kết có nhiều đoạn văn
Mị Nương sống suốt đời xung sương và hạnh phúc
Điều ấy vừa tàn nhẫn, vừa phi lý
Lẽ đời là thế.
(Trương Chi - Nguyễn Huy Thiệp)
1.4.2. Một số đặc điểm đoạn văn kết thúc
1.4.2.1. Khái niệm
Đoạn văn kết thúc là một phần trong bố cục của văn bản, có nội dung
liên quan trực tiếp chặt chẽ với các phần triển khai và mở đầu, có vị trí đứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status