BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HOÀNG GIA KỲ
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ƯƠNG, TẦN SUẤT
CHO ĂN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ TĂNG TRƯỞNG CỦA
CÁ RÔ ĐẦU VUÔNG (Anabas testudineus)
GIAI ĐOẠN TỪ 0 ĐẾN 60 NGÀY NUÔI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Vinh, 10/2012
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ƯƠNG, TẦN SUẤT
CHO ĂN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ TĂNG TRƯỞNG
CỦA CÁ RÔ ĐẦU VUÔNG (Anabas testudineus)
GIAI ĐOẠN TỪ 0 ĐẾN 60 NGÀY NUÔI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
MÃ SỐ: 60.62.70
HOÀNG GIA KỲ
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
CHỮ VIẾT TẮT
DIỄN TẢ NGHĨA
1
mm
milimet
2
MĐ
Mật độ
3
TSCA
Tần suất cho ăn
4
RGR
Tốc độ tăng trưởng tương đối
10
TN
Thí nghiệm
12
SR
Tỉ lệ sống
13
NTTS
Nuôi trồng thuỷ sản
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN...........................................................................................................i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT.........................................................................ii
DANH MỤC CÁC BẢNG....................................................................................vii
MỞ ĐẦU
nhiễm mà còn gồm cả vấn đề về dinh dưỡng và môi trường ảnh hưởng
đến năng suất. Tác hại của bệnh đối với cá nuôi là: Cá chậm lớn, giảm tỷ
lệ sống, gia tăng hệ số thức ăn, làm cá thay đổi màu sắc, thức ăn, làm cá
thay đổi màu sắc, hình dạng, giảm chất lượng thịt cá dẫn đến giảm năng
xuất và hiệu quả kinh tế. Theo Snieszko (1974), bệnh trên động vật thuỷ
sản xảy ra khi kết hợp đồng thời các yếu tố như: mầm bệnh( virus, vi
khuẩn, nấm. ký sinh trùng), vật nuôi ( tôm, cá) và yếu tố môi trường
(nhiệt độ, pH, khí độc…). Trong nuôi thuỷ sản khi đối tượng nuôi bị bệnh
thì hiệu quả chữa bệnh thấp, chi phí cao, do đó, nên áp dụng quy tắc
phòng bệnh tổng hợp [14], [15].........................................................12
1.8 Ảnh hưởng của mật độ ương lên tốc độ tăng trưởng.......................................13
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng mật độ có những ảnh hưởng nhất định tới tỷ lệ sống
và tăng trưởng của cá và qua đó ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất, do vậy,
trong mỗi điều kiện ương nuôi cần xác định được mật độ ương cho phù
hợp.....................................................................................................13
1.9Ảnh hưởng của tần suất cho ăn đến tốc độ tăng trưởng....................................13
Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, tần suất cho ăn có những ảnh hưởng nhất định tới
tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá và qua đó ảnh hưởng tới hiệu quả sản
xuất, do vậy, trong mỗi điều kiện ương nuôi cần xác định tần suất cho ăn
cho phù hợp.......................................................................................13
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..........................13
2.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu.........................................................................13
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu...................................................................................13
Là cá rô đầu vuông (Anabas testudineus) từ 15 ngày tuổi đến 75 ngày tuổi.........14
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm........................................................................................14
2.1.3. Thức ăn, bể và các dụng cụ thí nghiệm khác...............................................14
2.2. Phương pháp nghiên cứu................................................................................15
2.2.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm.....................................................................15
3.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tần suất cho ăn đến tỷ lệ sống và tăng trưởng
của cá Rô đầu vuông giai đoạn 0 đến 60 ngày nuôi..........................27
3.3.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tần suất cho ăn đến tỷ lệ sống của cá Rô đầu
vuông giai đoạn 0 đến 30 ngày nuôi..................................................27
3.3.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tần suất cho ăn đến tỷ lệ sống của cá Rô đầu
vuông giai đoạn 30 đến 60 ngày nuôi................................................29
3.3.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tần suất cho ăn đến tăng trưởng của cá Rô
đầu vuông..........................................................................................30
3.3.3.2. Tăng trưởng về khối lượng của cá Rô đầu vuông ương giai đoạn 30 đến 60
ngày nuôi...........................................................................................33
Qua đồ thị ở hình 3.16 cho thấy tăng trưởng tương đối ở.....................................41
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ...................................................................................41
Kết luận
41
- Thức ăn cho cá Rô đầu vuông là các loại thức ăn có hàm lượng protêin cao(30%35%N).Trong thí nghiệm tôi dùng thức ăn CP.9950s cho giai đoạn từ 130 ngày nuôi.Giai đoạn 31-60 cho ăn loại CP9950 có kích thước hạt lớn
hơn.....................................................................................................42
- Trong ương nuôi ta nên áp dụng mật độ 200con/lít cho giai đoạn 1-30 ngày ương(1545 ngày tuổi)......................................................................................42
- Cần chú ý về ảnh hưởng của tần suất cho ăn trong quá trình nuôi đến tỷ lệ sống và
tăng trưởng của cá Rô đầu vuông đạt kết quả tốt hơn. Nên sử dụng tần
suất cho ăn ngày 4 lần sẽ mang lại hiệu quả ương nuôi tốt nhất.......42
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................43
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
trong thời gian từ 5 – 30 ngày nuôi...................................................28
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của tần suất cho ăn khác nhau lên tỷ lệ sống của cá Rô đầu
vuông trong giai đoạn 30 đến 60 ngày nuôi......................................29
Đơn vị tính: %........................................................................................................29
Hình 3.7. Tỷ lệ sống của cá Rô đầu vuông thí nghiệm từ 30 đến 60 ngày...........30
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của TSCA lên tốc độ tăng trưởng chiều dài của cá Rô đầu
vuông giai đoạn từ 5 đến 30 ngày nuôi.............................................30
10
30
15
30
20
31
25
31
30
31
Hình 3.8. Tăng trưởng chiều dài của cá Rô đầu vuông giai đoạn 5 đến 30 ngày. .31
Qua hình trên thể hiện tăng trưởng chiều dài giai đoạn từ 5 – 25 ngày nuôi không có
biến động nhiều giữa các tần suất ăn khác nhau. Từ ngày 25 – 30 TSCA
đầu vuông ở giai đoạn từ 5 – 30 ngày nuôi sử dụng TSCA I (4 lần/ngày)
đạt tỷ lệ sông cao hơn TSCA II (3 lần/ngày) và TSCA III(2 lần/ngày)33
Hình 3.10 tốc độ tăng trưởng tương đối của cá Rô đầu vuông giai đoạn 5 đến 30 ngày
nuôi....................................................................................................33
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của tần suất cho ăn khác nhau lên tăng trưởng khối lượng của
cá Rô đầu vuông giai đoạn 30 đến 60 ngày nuôi...............................33
Đơn vị tính: g.........................................................................................................33
40
34
45
34
50
34
55
34
60
34
Hình 3.11. Tăng trưởng khối lượng của cá từ 30 đến 60 ngày..............................34
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của TSCA khác nhau lên tăng trưởng khối lượng tuyệt đối của
cá Rô đầu vuông giai đoạn 30 đến 60 ngày nuôi...............................34
ngày nuôi...........................................................................................36
Đơn vị tính: mm.....................................................................................................37
35
37
40
37
45
37
50
37
55
38
Hình 3.14. Tăng trưởng chiều dài trung bình cá Rô đầu vuông giai đoạn 30 đến 60
ngày...................................................................................................38
Đơn vị tính: mm/ngày............................................................................................38
36 - 40
38
41 - 45
nước ngọt được nuôi thương phẩm ở các vùng nước như: ao hồ kênh rạch cũng
như nuôi lồng trên sông và là đối tượng nuôi hấp dẫn cho các cơ sở nuôi thuỷ sản
cũng như các hộ dân ở quy mô nhỏ hay quy mô công nghiệp, có thể nuôi ghép với
một số loài cá khác như: cá Mè, cá Chép, cá Trắm…. Đây là đối tượng dễ nuôi bởi
chúng có thể sống được trong các môi trường khắc nghiệt ở ao hồ nước ngọt, ao tù
nước đọng, kênh rạch. Tuy nhiên, trong mấy năm gần đây khi người dân đưa vào
nuôi thương phẩm ồ ạt thường gặp khó khăn về vấn đề con giống [11]. Tại vùng
(ĐBSCL) từ năm 2008 các hộ dân đã bắt đầu nuôi thử nghiệm. Sau đó tốc độ phát
triển nuôi đối tượng này rất nhanh.Trong khi đó nhu cầu về con giống để nuôi
thương phẩm rất lớn nên một số Trung tâm khuyến ngư phải nghiên cứu sinh sản
con giống và hoàn thiện quy trình kỹ thuật để đưa vào chương trình phổ biến cho
nông dân. Sự phát triển nhanh ở các tỉnh phía Nam như: Tiền Giang , Đồng tháp,
TP Hồ Chí Minh, An Giang… cho đến các tỉnh phía Bắc như: Thanh Hóa, Hải
Phòng, Thái Bình đã làm cho nhu cầu con giống ngày càng tăng.
Năm 2012, Sở NN&PTNT Hà Tĩnh đã phê duyệt cho Trung tâm giống
thuỷ sản Hà Tĩnh thực hiện đề tài: “Ứng dụng công nghệ, xây dựng mô
hình nuôi khảo nghiệm cá Rô đầu vuông (Anabas testudineus) tại Hà Tĩnh”.
Sau khi triển khai thực hiện nhóm đề tài đã sản xuất được 1,4 tấn cá và hoàn
thành các mục tiêu và nội dung đề ra. Để triển khai nhân rộng mô hình, từ
năm 2013 - 2014,Trung tâm giống thuỷ sản Hà Tĩnh tiếp tục thực hiện dự án:
“Xây dựng mô hình sinh sản nhân tạo và nuôi thương phẩm giống cá Rô
đầu vuông (Anabas testudineus) trong điều kiện tại Hà Tĩnh” thuộc chương
trình phát triển kinh tế xã hội nông thôn và miền núi đến năm 2015. Tuy
2
nhiên, trong quá trình ứng dụng công nghệ vào sản xuất thực tiễn thường gặp
những khó khăn trong giai đoạn ương nuôi từ giai đoạn 0 đến 60 ngày nuôi.
Giai đoạn 0 đến 30 ngày nuôi, cá còn nhỏ nên tỷ lệ hao hụt lớn. Giai đoạn cá
30 đến 60 ngày nuôi cá đã lớn, nên dễ nuôi hơn và dễ theo dõi. Khi ương
05’50” đến 16030’20” kinh độ Đông, chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa.
Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, gió Đông Bắc thịnh hành làm nhiệt độ
giảm thấp. Từ tháng 4 đến tháng 10 có gió Tây Nam thịnh hành, nhiệt độ
trung bình cao hơn nhưng cũng là thời kỳ chiếm tới 80% lượng mưa cả năm.
* Địa hình
Nằm ở phía đông dãy Trường Sơn, có địa hình bề ngang hẹp và dốc
thoải từ phía Tây sang Đông được chia làm 3 dạng như sau:
+ Vùng núi: thuộc sườn Đông của dãy Trường Sơn, có nhiều núi cao.
+ Vùng Trung du bán sơn địa: chạy dọc theo phía Tây nam đường 15, là
địa hình núi trung bình xuống vùng đồng bằng có xen lẫn các đồi trung bình
và thấp với ruộng, địa hình không bằng phẳng .
+ Vùng đồng bằng – ven biển: chạy dọc giữa đường quốc lộ 15 và 1A,
theo chân núi Trà Sơn và ven biển. Địa hình vùng này tương đối bằng phẳng
dân cư đông đúc. Do có nhiều của sông cửa lạch tạo nên những bãi triều rộng
lớn có khả năng phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ, mặn, ngọt. Vùng có
thế mạnh về tiềm năng tốt nhất cho phát triển thủy sản tạo sản phẩm xuất
khẩu có giá trị cao.
* Khí tượng
Hà Tĩnh nằm trong khu vực Bắc Trung Bộ, mang đặc trưng của khí hậu
nhiệt đới gió mùa, tương đối khắc nghiệt. Nhiệt độ cao tập trung vào các
tháng V – VIII, đặc biệt doảnh hưởng của dãy núi Trường Sơn ở phía Tây
chạy dọc theo chiều dài tỉnh. Do đó, trong thời gian từ tháng V đến tháng VII
có gió Nam Lào rất khắc nghiệt, thời gian này lượng mưa thấp, tổng lượng
4
bốc hơi cao và độ ẩm thấp... ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động sản xuất,
đặc biệt là Nông – Lâm – Ngư nghiệp. Mặc dầu, trên toàn tỉnh có trên 266 hồ
chứa nhưng vào mùa khô nhiều hồ thường bị khô hạn, thiếu nước cho sinh
hoạt và sản xuất.
Giới (regnum): Animalia
Ngành(phylum):Chordata
Lớp(Class):
Bộ(ordo):
Osteichthyes
Perciformes
Bộ phụ(subordo): Anabantoidei
Họ(familia):
Anabantidae
Giống(Genus):
Loài(Species):
Anabas
Anabas sp
Tên tiếng Anh: Square-head anabas /Climbing perch square head
Tên tiếng Việt: Cá rô đầu vuông
Hình 1.1. Cá Rô đầu vuông
1.2.2. Hình thái và đặc điểm nhận dạng
Đây là loài cá rô đồng, tuy nhiên do đột biến mà cá có tốc độ lớn nhanh
và to hơn nhiều so với cá rô đồng, cá rô đầu vuông được ông Nguyễn Văn
6
Khải, thuộc ấp 5, xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thuỷ phát hiện đầu tiên năm
Hình 1.2. Phân bố của cá Rô theo vùng địa lý
Cá rô Đầu vuông phân bố ở Miền tây Nam Bộ(Việt Nam) nói riêng,cá rô
đồng nói chung được phân bố chủ yếu ở vùng Đông Nam Á và Đông Bắc Ấn
Độ Dương.
Cá rô thường sinh sống được ở các loại hình mặt nước: ruộng lúa, ao,
mương, rãnh, hào, đầm, sông rạch... Trên thế giới, cá rô phân bố trong khoảng
vĩ độ 28°Bắc - 10° Nam, chủ yếu ở miền nam Trung Quốc, Việt
Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma, Ấn Độ, Philippines, châu Phi và
các quần đảo giữa Ấn Độ và châu Úc là những khu vực có nhiệt độ trung bình
thích hợp cho sự sinh trưởng (từ 22 - 30°C). Độ sâu sinh trưởng: - 0 m. Chúng
được biết đến với khả năng di cư từ ao hồ này sang ao hồ khác bằng cách
vượt cạn (cá rô rạch), nhất là trong mùa mưa và thông thường diễn ra trong
đêm.
Ở Việt Nam cá phân bố khắp các sông suối ao hồ đầm lầy, lạch, tập
trung nhiều ở các tỉnh Miền Tây Nam Bộ và một số tỉnh Đồng Bằng Bắc Bộ
[1].
8
+ Phân bố theo vùng sinh thái:
Cá trưởng thành
Di cư ngược dòng
Trứng nổi có dọt dầu,
cá bột phát triển
Bãi sinh trưởng, thuỷ vực
Chiều dài trung bình
Khối lượng cơ
(mm)
thể trung bình
8,49
9,20
13,61
18,12
20,36
28,92
42,85
0,1
0,5
1,2
3,5
1.4. Sản xuất nhân tạo giống cá Rô đầu vuông
* Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Nghề nuôi cá Rô thương phẩm ở Việt Nam đã có từ lâu nhưng đối với cá
rô đầu vuông thì mới được phát hiện ở huyện Vị Thuỷ - Hậu Giang vào năm
2008, con giống được đưa vào nuôi thương phẩm chủ yếu khai thác từ tự
nhiên hoặc sinh sản nhân tạo. Vì vậy, sản lượng hàng năm đạt thấp, chỉ tiêu
dùng nội địa. Từ năm 2009, Viện Nghiên cứu NTTS II và Đại học Cần Thơ
đã tiến hành nghiên cứu sinh sản đối tượng này bằng việc thu thập đàn cá bố
Chiều dài thân
Mật độ ương
Tỷ lệ sống
11
(ngày nuôi)
(cm)
(con/m3)
(%)
1 ÷ 14
1,5 ÷ 5
60 000 ÷ 100 000
70 ÷ 80
15 ÷ 20
5÷8
20 000 ÷ 40 000
%.
Theo Ngô Tuấn Tính(Trung Tâm khuyến nông An Giang) và ctv [12].
Cá Rô đầu vuông được ương trong mương nổi bố trí trong ao Cá Rô đầu
vuông giống 30 ngày tuổi, có chiều dài từ 15 đến 22 mm (17,8 ± 2,0 mm),
khối lượng từ 0,04 đến 0,18 g (0,08 ± 0,03 g), mức độ phân đàn (CV) về
chiều dài là 11,4%, mật độ cá thả là 10 con/lít.
Theo nghiên cứu của tác giả Dương Nhật Long[9]. Không có sự khác
nhau về sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá Rô đầu vuông ương ở các mật độ 20
con/lít, 50 con/lít và 100 con/lít nếu lượng thức ăn cho ăn tăng tỉ lệ thuận theo
mật độ và có thể ương cá Rô đầu Vuông ở mật độ cao (100đến 200 con/lít)
với việc tăng lượng thức ăn, áp dụng kỹ thuật phối trộn thức ăn công nghiệp
với Vitamin-khoáng, sử dụng chế phẩm vi sinh trong môi trường nuôi.
1.5.3. Lọc và phân cỡ cá
Theo Bùi Viết Hùng, từ ngày thứ 21 cá phân đàn rõ rệt, để quá trình
chăm sóc hợp lý cần tiến hành lọc phân cỡ cá, công việc này được tiến hành
định kỳ 7 ngày/lần. Khi cá đạt cỡ 2.0 ÷ 2.2cm, cá bắt đầu tấn công, cắn lẫn
nhau. Ta tiến hành lọc cá, phân cỡ để bể sung thức ăn hợp lý, nâng cao tỷ lệ
sống. Dùng các rổ lọc bằng nhựa hoặc Inox có kích cỡ mắt lưới khác nhau
12
thích ứng với từng cỡ cá. Ở giai đoạn cá trên 45 ngày tuổi định kỳ từ 5 đến 7
ngày phân cỡ, lọc cá một lần. [18]
1.6. Dinh dưỡng của cá hương giống
Dinh dưỡng được xem là yếu tố quan trọng quyết định tốc độ tăng
trưởng và tỷ lệ sống của cá Rô đầu vuông. Thức ăn chủ yếu cho cá giai đoạn
cá hương là thức ăn tổng hợp (CP). Tuy nhiên, để cá tăng trưởng và đủ dinh
dưỡng để vượt qua các giai đoạn phát triển thì các acid béo không no như
ARA, EPA, DHA là không thể thiếu. Thiếu EPA có thể gây những rối loạn
như: Thối loét vẩy, vây, tăng tỷ lệ tử vong, viêm cơ tim, giảm sinh trưởng và
1.9
Ảnh hưởng của tần suất cho ăn đến tốc độ tăng trưởng.
Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, tần suất cho ăn có những ảnh hưởng
nhất định tới tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá và qua đó ảnh hưởng tới hiệu quả
sản xuất, do vậy, trong mỗi điều kiện ương nuôi cần xác định tần suất cho ăn
cho phù hợp.
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu