Đặc điểm từ ngữ và câu văn trong tiểu thuyết Thời của thánh thần của Hoàng Minh Tường - Pdf 31

bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh

TRầN THị NGọC ANH

ĐặC ĐIểM Từ NGữ Và CÂU VĂN TRONG
TIểU THUYếT ThờI CủA THáNH THầN
CủA HOàNG MINH TƯờNG
chuyên ngành: ngôn ngữ học
mã số: 60.22.02.40

luận văn thạc sĩ ngữ văn

Ngi hng dn khoa hc:

TS. Nguyn Hoi Nguyờn

NGH AN - 2012


LỜI CẢM ƠN
Thực hiện luận văn này, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.
Nguyễn Hoài Nguyên - người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn tôi. Xin được chân thành
cảm ơn các thầy giáo, cô giáo thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học, trường Đại học Vinh;
những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ và đóng góp nhiều ý
kiến quý báu cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Vinh, tháng 9 năm 2012
Tác giả
Trần Thị Ngọc Anh



2.3. Tiểu kết chương 2...................................................................................................................58


Chương 3: CÂU VĂN TRONG TIỂU THUYẾT THỜI CỦA THÁNH THẦN..........................59
3.1. Một số vấn đề về câu..............................................................................................................59
3.1.1. Vấn đề định nghĩa câu.........................................................................................................59
3.1.2. Vấn đề phân loại câu............................................................................................................62
3.2. Đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết Thời của thánh thần xét theo cấu tạo ngữ
pháp ........................................................................................................................................65
3.2.1. Kết quả thống kê phân loại .................................................................................................65
3.2.2. Đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết Thời của thánh thần xét về mặt cấu tạo...........................65
3.3. Đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết Thời của thánh thần xét theo mục đích nói ............................89
3.3.1. Kết quả thống kê, phân loại.................................................................................................89
3.3.2. Đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết Thời của thánh thần xét theo mục đích
nói........................................................................................................................................89
3.4. Tiểu kết chương 3.................................................................................................................101
KẾT LUẬN ................................................................................................................................103
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................................105


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của một tác phẩm văn học, là chất liệu để
xây dựng và sáng tạo hình tượng văn học. Mỗi nhà văn có một cách sử dụng vốn
ngôn ngữ khác nhau nhằm tạo ra phong cách và diện mạo riêng của mình. Bởi
vậy, thông qua việc tìm hiểu ngôn ngữ, chúng ta có thể nhận biết được phong
cách và cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn. Ngôn ngữ cũng là nơi in đậm dấu ấn
thể loại. Mỗi thể loại văn học có những đặc điểm riêng về mặt ngôn ngữ. Ngôn
ngữ tiểu thuyết khác ngôn ngữ truyện ngắn, ngôn ngữ văn xuôi khác ngôn ngữ
thơ ca…Tìm hiểu ngôn ngữ là hướng đi đúng đắn nhất nhằm xác lập đặc trưng

thuyết Việt Nam đương đại theo hướng hiện đại hóa, là cơ sở để tìm hiểu tốt
hơn các tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
2. Lịch sử vấn đề
Ra mắt độc giả từ năm 2008, Thời của thánh thần đã gây được tiếng
vang lớn và thu hút sự quan tâm, chú ý của giới nghiên cứu, phê bình văn học.
Đã có khá nhiều bài viết về cuốn tiểu thuyết này, chủ yếu đăng trên báo điện tử
và các tạp chí. Đầu tiên, phải nói tới bài viết của nhà nghiên cứu Vũ Nho đăng
trên vunho.com. Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra những nhận định khá đầy
đủ, chính xác về giá trị nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết “Thời của thánh
thần”. Tiếp đến là bài Thời của thánh thần - tiếng nổ của văn xuôi Việt Nam
2008? của Phương Ngọc đăng trên vietnam.net. Như tên gọi của bài viết, tác
giả đã mạnh dạn gọi Thời của thánh thần là tiếng nổ của văn xuôi Việt Nam
năm 2008. Đánh giá một vài giá trị cơ bản của cuốn tiểu thuyết, Phương Ngọc
cho rằng thành công lớn nhất của Thời của thánh thần là “dám đối diện với
những vùng khuất lấp, những mảng đời sống mà lâu nay nhiều người coi như
vùng cấm kị, bất khả tri”[46]. Các bài viết của Vũ Nho và Phương Ngọc là
những bài viết sớm nhất và hiếm hoi, mở đường cho việc nghiên cứu tiểu
thuyết Thời của thánh thần.

6


Không chỉ đi sâu vào phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của Thời của
thánh thần, các nhà nghiên cứu còn chú ý tới một phương diện rất đặc sắc của tác
phẩm là hệ thống nhân vật. Tác giả Nguyễn Duy Liễm trong bài Về một vài nhân
vật trong Thời của thánh thần đăng trên quanvan.net đã phân tích khá kĩ lưỡng về
các nhân vật chính của tác phẩm, nêu lên những điểm hạn chế và vai trò của mỗi
nhân vật trong việc tạo dựng cốt truyện. Cũng nghiên cứu về nhân vật trong tiểu
thuyết Thời của thánh thần nhưng trong bài viết Thời của thánh thần qua cái nhìn
phản biện xã hội đăng trên dangvansinh.blgospot.com, tác giả Đặng Văn Sinh lại

người viết. Đặc biệt, chưa có một bài viết hay công trình nào nghiên cứu một
cách có hệ thống phương diện ngôn ngữ của tác phẩm. Luận văn của chúng tôi,
thông qua việc khảo sátvà phân tích giá trị biểu đạt của từ ngữ và câu văn trong
tiểu thuyết Thời của thánh thần của Hoàng Minh Tường, hi vọng sẽ cung cấp
cho người đọc một cái nhìn hệ thống về ngôn ngữ - một phương diện đặc sắc
của cuốn tiểu thuyết này.
3. Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là từ ngữ và câu văn trong tiểu thuyết
Thời của thánh thần của Hoàng Minh Tường.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Từ việc tìm hiểu thể loại tiểu thuyết, ngôn ngữ tiểu thuyết, xác lập cách

hiểu về tiểu thuyết và ngôn ngữ tiểu thuyết Việt Nam đương đại, luận văn khảo
sát cách tổ chức ngôn ngữ trong tiểu thuyết Thời của thánh thần.
- Khảo sát một số lớp từ tiêu biểu trong tiểu thuyết Thời của thánh thần.
- Khảo sát cách tổ chức câu văn trong tiểu thuyết Thời của thánh thần.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu chính của luận văn là cuốn tiểu thuyết Thời của thánh thần
của Hoàng Minh Tường, (2009), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

8


4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê ngôn ngữ học
- Các thủ pháp miêu tả, phân tích và tổng hợp
- Phương pháp so sánh đối chiếu

phải tạo ra những điều phi thực; có văn phái lại khẳng định tiểu thuyết trước hết
phải là một câu chuyện tưởng tượng có đầu, cuối hẳn hoi; trong khi văn phái
khác lại không câu nệ trong lề lối như thế. Với họ, tiểu thuyết cần phải linh hoạt,
sống động và phức tạp như cuộc đời.
Nhóm tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa tiểu thuyết (tiếng
Pháp: roman, tiếng Anh: novel, fiction) là “tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng
phản ánh đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian. Tiểu thuyết có thể
phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã
hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng”
[19, 328]
Theo quan niệm truyền thống, tiểu thuyết thường được viết bằng văn xuôi
và mang tính cách hiện thực nhằm miêu tả một cách đầy đủ, trung thực toàn bộ
đời sống xã hội. Một cuốn tiểu thuyết được xem như “tấm gương lớn đi trên
đường cái” và nhà tiểu thuyết là “người thư kí trung thành của thời đại”. Thực
tiễn phát triển của tiểu thuyết Việt Nam thế kỉ XIX đã chứng minh điều đó. Tiểu
thuyết thời kì này đã tái hiện lại một cách đầy đủ, toàn diện và sâu sắc bức tranh
10


đời sống xã hội rộng lớn và phức tạp,“bộc lộ toàn bộ những nguyên tắc thẩm mỹ
của những đặc tính loại hình của chủ nghĩa hiện thực”. Đời sống được nhìn qua
lăng kính hiện thực của nhà văn. Sự trung thành với thực tại trở thành yêu cầu
chủ đạo của một tác phẩm văn học. Sự miêu tả không còn mang màu sắc ước lệ
tượng trưng mà nhìn thẳng vào hiện thực, phản ánh đúng hiện thực, nhất là hiện
thực đấu tranh và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân. Tính hư cấu của một tác phẩm
nghệ thuật phải nhường chỗ trước sự tái hiện các sự việc và con người mà tác giả
biết rõ, lựa chọn vào tác phẩm của mình những sự kiện và con người có thực.
Nhà văn không có nhu cầu hướng nội mà hướng ngoại, hướng đến cộng đồng,
tập thể. Thực tiễn thời đại yêu cầu các nhà tiểu thuyết phải thể hiện trong tác
phẩm của mình “cái lập trường xã hội của tác giả”.

còn thế giới nội tâm phong phú, phức tạp bên trong thường ít khi được chú ý
đến. Bởi vậy, tiểu thuyết cổ điển chỉ hướng đến giọng văn đơn thanh và không
xác lập được giọng văn đa thanh trong tác phẩm. Người đọc hoàn toàn thụ động
trong việc tiếp nhận nội dung tác phẩm. Họ không có quyền đối thoại mà chỉ như
“cỗ máy” làm theo lập trình đã định sẵn, đọc và chiếm lĩnh tác phẩm theo những
gì mà nhà văn đã vạch ra. Với người đọc tiểu thuyết truyền thống, nội dung tác
phẩm là chân lí, họ bắt buộc phải tin theo nội dung đó. Tiểu thuyết truyền thống
hấp dẫn độc giả bởi cách “kể” nội dung của tác giả hơn là vẻ đẹp của nghệ thuật
ngôn từ.
Với những đặc điểm cơ bản trên, tiểu thuyết truyền thống đã hạn chế rất
nhiều cá tính sáng tạo của nhà văn. Những quan niệm truyền thống về tiểu thuyết
dần dần không còn phù hợp với thời đại mới. Bởi thế, văn học hiện đại trên cơ sở
kế thừa những đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết đã xác lập những điểm mới của thể
loại này nhằm đáp ứng nhu cầu của người đọc về một nền tiểu thuyết hiện đại.
1.1.1.2. Tiểu thuyết theo quan niệm hiện đại
Thế giới ngày một biến đổi kéo theo sự thay đổi của tư duy nghệ thuật. Là
loại hình văn học trung tâm, tiểu thuyết cũng không nằm ngoài quy luật đó. Sự

12


thay đổi tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết bắt nguồn từ yêu cầu tái hiện triệt để
cuộc sống đầy phong phú, phức tạp, dang dở. Bên cạnh đó, nó cũng gắn liền với
việc thay đổi tư duy nghệ thuật của nhà văn, thể hiện cách nhìn nhận, tiếp cận
mới của nhà văn đối với cuộc sống và con người.
Nếu tiểu thuyết truyền thống xem cốt truyện là yếu tố cơ bản, mọi vấn đề
đều xoay quanh cốt truyện thì các quan niệm hiện đại lại cho rằng nhà văn có
nhiệm vụ tái hiện cuộc sống với tất cả màu vẻ phong phú của nó và không nhất
thiết phải xây dựng tác phẩm theo một cốt truyện định sẵn. Tác phẩm không còn
tuân thủ theo lối viết cũ (ra đời, phát triển và kết thúc) mà có thể được viết dựa

toan tính, âu lo. Những con người này cũng không sống trong một môi trường
điển hình nào đó mà hiện diện giữa nhịp sống thường nhật, có thể có mặt ở mọi
nơi và chuyển đổi bất kỳ khi nào nó muốn. Trong tiểu thuyết của các tiểu thuyết
gia đương đại như: Ma Văn Kháng, Hồ Anh Thái, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh,
Nguyễn Việt Hà, Hoàng Minh Tường… đã không còn bóng dáng của nhân vật
điển hình nữa, nếu có thì cùng chỉ được phác họa một cách rất mơ hồ, không rõ
nét. Mỗi con người hiện lên là một thế giới riêng với những suy nghĩ, hành xử
riêng, không trộn lẫn với bất cứ ai. Tiểu thuyết hiện đại rất chú trọng vào việc
miêu tả nội tâm nhân vật và dành sự quan tâm đặc biệt đối với những góc khuất
trong đời sống tâm hồn con người.
Không chỉ quan tâm đến việc đổi mới cách cấu tạo cốt truyện và xây
dựng nhân vật, tiểu thuyết hiện đại còn chú trọng vào việc thay đổi phương thức
phản ánh hiện thực. Nguyên tắc quan trọng của tiểu thuyết hiện đại là tìm kiếm
một phương thức phản ánh không lệ thuộc vào thực tại khách quan. Theo
M.Kundera, tiểu thuyết phải bóc trần tất cả những gì đằng sau tấm hào nhoáng
che phủ thế giới, nó không đơn thuần miêu tả hiện thực một chiều mà phải truy
tìm được những tầng sâu của ý thức con người trước những vấn đề xã hội. Bởi
thế giới bên trong con người là một cõi mênh mông và phong phú, nó chứa đựng
tất cả những mảnh đá sắc của hiện thực thế giới rộng lớn bên ngoài. Và chính

14


trong sự phơi bày và cùng với đó là sự phân tích và suy ngẫm về hiện thực mà
văn học tìm thấy được sự vật lộn, trăn trở của chính bản thân con người trước
những thử thách của đời sống. Trên tinh thần đó, ta có thể thấy hiện thực là cái
nền để bộc lộ số phận con người.
Như vậy, từ quan niệm truyền thống đến cái nhìn hiện đại về tiểu thuyết
đã cho thấy sự phát triển mạnh mẽ trong tư duy nghệ thuật. Trong cái nhìn dân
chủ của con người hôm nay thì sứ mệnh mà nó phải đảm nhận mang tính nhân

thể loại tiểu thuyết, xa rời những điều kiện tồn tại đặc thù của ngôn từ tiểu
thuyết” [5,89]. Bởi lẽ “chúng thâu tóm ngôn ngữ và phong cách nhà tiểu thuyết
không phải như ngôn ngữ và phong cách tiểu thuyết mà hoặc như những biểu
hiện của một cá tính nghệ thuật nhất định, cuối cùng, như một hiện tượng của
ngôn ngữ thi ca nói chung”[5,89].
Việc nghiên cứu tiểu thuyết nói chung, ngôn ngữ tiểu thuyết nói riêng là
một vấn đề phức tạp và hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Tuy vậy, có một điều
chắc chắn là ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ nghệ thuật và nó mang những đặc
trưng của ngôn ngữ nghệ thuật.
- Về hệ thống tín hiệu
Ngôn ngữ phi nghệ thuật (ngôn ngữ tự nhiên) là hệ thống tín hiệu thứ nhất,
mang tính toàn dân. Nó được xác định như là cái mã chung, phổ biến, giúp con người
diễn đạt suy nghĩ, tình cảm, là công cụ trực tiếp của giao tiếp và tư duy. So với ngôn
ngữ phi nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật phức tạp hơn nhiều. Ngôn ngữ nghệ thuật là
hệ thống tín hiệu thứ hai, được tạo thành nên từ hệ thống tín hiệu thứ nhất.
- Về chức năng xã hội
Nếu ngôn ngữ phi nghệ thuật đảm nhận chức năng giao tiếp và tư duy,
những phẩm chất thẩm mỹ nếu có thì chỉ đóng vai trò phụ, thứ yếu, thì ở ngôn
ngữ nghệ thuật nói chung, ngôn ngữ tiểu thuyết nói riêng, chức năng thẩm mỹ
luôn đóng vai trò chính yếu, nó đẩy chức năng giao tiếp xuống bình diện thứ hai.

16


Mặt khác, tính hệ thống đều có ở ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ phi nghệ
thuật song có sự khác nhau về chất. Tính hệ thống của một yếu tố ngôn ngữ nghệ
thuật được xác định bởi vị trí và vai trò của nó trong hệ thống các hình tượng của
tác phẩm và phong cách cá nhân tác giả. Còn đối với ngôn ngữ phi nghệ thuật,
tính hệ thống gắn với sự khu biệt của xã hội đối với ngôn ngữ.
- Về bình diện nghĩa

nghệ thuật nhưng nó vẫn có những đặc thù riêng, mang đậm dấu ấn thể loại.
Ngôn ngữ tiểu thuyết thuộc ngôn ngữ tự sự, xét trong sự khu biệt với ngôn
ngữ trữ tình và ngôn ngữ kịch. Ngôn ngữ của tác phẩm trữ tình là sản phẩm của
sự thăng hoa của chủ thể sáng tạo nên nó thấm đẫm cảm xúc của người viết. Đặc
biệt là ngôn ngữ thi ca, rất giàu tính nhạc, biểu hiện ở sự cân đối của vần, nhịp.
Nếu ngôn ngữ của tác phẩm kịch phải có tính hành động, tính khẩu ngữ thì ngôn
ngữ trong tác phẩm tự sự là ngôn ngữ khách quan, yên tĩnh. Do vậy, ngôn ngữ tự
sự thường có nhịp điệu khoan thai chứ không gấp gáp, chạy theo hành động của
nhân vật như ngôn ngữ kịch. Ngôn ngữ nhân vật có thể xuất hiện trực tiếp hoặc
gián tiếp qua lời người trần thuật hoặc được tách, ghép, đan xen trong ngôn ngữ
người trần thuật.
Trên đây là những đặc trưng của ngôn ngữ tiểu thuyết với vai trò là một thể
của loại hình tự sự. Tuy vậy, khi tìm hiểu đặc trưng của ngôn ngữ tiểu thuyết, phải
so sánh ngôn ngữ thể loại này với ngôn ngữ của các thể loại khác thuộc loại tự sự
như truyện ngắn. Ngôn ngữ tiểu thuyết cũng mang tính trầm tĩnh, khoan thai như
ngôn ngữ truyện ngắn nhưng phức tạp hơn. Ngôn ngữ tiểu thuyết thường mang
tính chất đa thanh. Theo M.Bakhtin, trong tiểu thuyết, không chỉ tác giả mới được
quyền nói mà nhân vật, với tư cách là một chủ thể độc lập, cũng có quyền sản sinh
ra các lời thoại, tranh cãi một cách bình đẳng với tác giả. Nếu như trong loại hình
văn xuôi đơn thanh, giọng điệu tác giả bao giờ cũng giữ vai trò thống trị, giọng
điệu nhân vật bị hòa lẫn trong giọng điệu của tác giả thì trong tiểu thuyết đa thanh,
mối quan hệ này rất bình đẳng. Nhân vật đối thoại với tác giả, tự mình bày tỏ quan

18


điểm trước các vấn đề của đời sống xã hội. Vì thế, nhân vật phải chịu trách nhiệm
về tiếng nói của mình, tác giả không thể áp đặt cái nhìn của mình vào nhân vật mà
buộc phải đối thoại không dứt với các nhân vật.
Bên cạnh đó, ngôn ngữ tiểu thuyết còn có một vài đặc điểm rất riêng,

hiện thực của thời kì vừa qua, phơi bày những mặt trái còn bị che khuất, lên án
những tư tưởng đã lỗi thời, kìm hãm sự phát triển của đất nước. Trong các tác
phẩm: Thời xa vắng (Lê Lựu), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc
Trường), Cơ hội của chúa (Nguyễn Việt Hà)… cái ác, cái xấu và những quan
niệm lỗi thời vẫn còn tồn tại và thậm chí có một sức mạnh vô hình, chi phối đến
nhiều mặt của đời sống xã hội. Lật lại quá khứ, nhìn nhận và phản ánh nó với
một cái nhìn chính xác, khách quan, các nhà tiểu thuyết muốn chúng ta từ giã
quá khứ một cách dứt khoát để hướng tới tương lai tốt đẹp, giàu tính nhân bản
hơn. Và cái nhìn thẳng vào sự thật của tiểu thuyết đương đại đều nằm trong chức
năng chính là phân tích, lý giải những vấn đề phức tạp và bí ẩn trong cuộc sống
của con người. Các nhà tiểu thuyết hôm nay đã từ bỏ được lối nhìn dễ dãi về đời
sống và con người. Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Ác
mộng của Ngô Ngọc Bội đã thôi không nhìn nông thôn với cảnh điền viên, trống
dong cờ mở. Nông thôn đích thực hiện ra trong tiểu thuyết của nhà văn trong
khung cảnh “trời long đất lở”, rối rắm, hỗn tạp và nhìn kĩ vào nông thôn ấy, ta sẽ
thấy cả xã hội Việt Nam mấy chục năm qua. Bởi vậy, đọc tiểu thuyết hôm nay
rất dễ có cảm giác vừa thú vị, hấp dẫn lại vừa đau xót, căm phẫn. Điều đó chứng
tỏ tiểu thuyết hôm nay đã áp sát mọi vấn đề gai góc của cuộc sống, xông thẳng
vào các “mắt bão” của cuộc đời và nêu lên những vấn đề cực kì quan thiết với
con người thông qua những số phận có tính bi kịch.
Tiểu thuyết hôm nay có một cấu trúc uyển chuyển do độ mở của nó rất
rộng. Do nhu cầu tiếp nhận của độc giả, tiểu thuyết hiện đại không yêu cầu phải
viết dài, thường chỉ vài trăm trang và có thể “đọc một hơi”. Mặt khác, khi nhà
văn đào sâu vào đời sống của cá nhân một con người thì tiểu thuyết không thể

20


bành trướng nhiều tập, nhiều trang như Chiến tranh và hòa bình của L. Tônxtôi,
Sông Đông êm đềm của M.Sôlôkhôp, Cửa biển của Nguyên Hồng, Vỡ bờ của

mà tiểu thuyết hiện đại còn có xu hướng giản lược nhân vật và cốt truyện. Mỗi
tác phẩm chỉ có một hoặc một vài nhân vật chính hoạt động trong một tuyến cốt
truyện. Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh, Đàn bà xấu thì không có quà của
Y Ban, Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh, Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình
Phương… là những tác phẩm tiêu biểu cho xu hướng giản lược nhân vật và cốt
truyện của tiểu thuyết đương đại.
Ý thức rõ vai trò quan trọng của ngôn ngữ trong việc xây dựng tác phẩm,
các nhà tiểu thuyết đương đại đã có rất nhiều cách tân trong việc sử dụng ngôn
ngữ nhằm xây dựng tác phẩm của mình thành bản giao hưởng ngôn từ. Ngôn
ngữ nhân vật là sự tổng hợp các dạng thức lời nói khác nhau của nhiều tầng lớp
người trong xã hội. Nhà văn được giải phóng khỏi sự lệ thuộc vào một thứ ngôn
ngữ duy nhất và thống nhất. Ngôn ngữ tiểu thuyết là sự tổng hòa của ngôn ngữ
các thể loại văn học khác nhau. Nhà tiểu thuyết có thể sử dụng ngôn ngữ kịch,
ngôn ngữ thơ, ngôn ngữ điện ảnh, hội họa để biểu đạt thế giới theo cách của
riêng mình.
Sự thay đổi về tư duy nghệ thuật và những cố gắng tìm tòi của các nhà văn
đã đem đến một diện mạo mới cho nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Nhiều
khuynh hướng tiểu thuyết ra đời, nhiều vấn đề của đời sống xã hội được đề cập,
các nhà văn cũng đã rất nhạy bén trong việc tiếp cận các khuynh hướng mới của
tiểu thuyết thế giới. Bên cạnh đó, những cách tân về hình thức biểu đạt, xây dựng
nhân vật và sáng tạo ngôn ngữ đã giúp tiểu thuyết Việt Nam đương đại ngày một
hoàn thiện hơn để xứng đáng là “cột sống” của nền văn học nước nhà
1.3. Vài nét về tác giả Hoàng Minh Tường và tiểu thuyết Thời của
thánh thần
1.3.1. Vài nét về tác giả

22


Hoàng Minh Tường sinh ngày 21 tháng 1 năm 1948 tại làng Động Phì, xã

của bà con nông dân, phải khoán chui lén lút, cuộc sống vô cùng quẫn bách. Đó
là cuốn tiểu thuyết “rất nóng”, được viết vào thời điểm cả nước đang xôn xao với
sự kiện bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc, ông Kim Ngọc bị khép tội “chống đường lối”
vì chủ trương cải cách nông nghiệp. Tác phẩm đã bám sát hiện thực nông thôn,
có tính phản biện mạnh mẽ. Cũng bởi lẽ đó mà Thủy hỏa đạo tặc viết xong năm
1982 nhưng mãi đến năm 1996 mới được xuất bản. Cùng chung đề tài với Thủy
hỏa đạo tặc nhưng Thời của thánh thần lại lấy bối cảnh những đất nước sau năm
1954 làm không gian phản ánh chính. Một lần nữa, nông thôn miền Bắc lại hiện
lên trong một thời kì lịch sử “nhạy cảm” của đất nước: Cuộc cải cách ruộng đất
được tiến hành vào những năm 1953-1956. Không khí căng thẳng, những sai lầm
về chủ trương, đường lối được thể hiện cụ thể, sinh động qua những biến cố, mất
mát đau thương của gia đình dòng họ Nguyễn Kỳ. Hình ảnh tan hoang của đại
gia đình ấy sau cuộc đấu tố, xử tội của chính quyền cũng chính là một phần của
nông thôn miền Bắc trong những năm sau kháng chiến chống Pháp, khi chúng ta
bắt tay vào xây dựng lại đất nước nhưng lại vận dụng một cách giáo điều, máy
móc mô hình “thổ địa cách mạng” của Trung Quốc dẫn đến những hậu quả đau
lòng. Thẳng thắn, trung thực, Hoàng Minh Tường đã dũng cảm lật lại quá khứ,
viết lại nó với tâm huyết của một nhà văn chân chính nên tiểu thuyết của ông vừa
có chiều sâu lại vừa độc đáo, mang đậm phong cách của tác giả.
Viết về quá khứ ở những thời điểm lịch sử mà bấy lâu nay văn học nước
nhà né tránh, đối mặt với những vấn đề chính trị nhạy cảm, tiểu thuyết của Hoàng
Minh Tường thường mang tính phản biện, tính luận đề sâu sắc. Ông viết về lịch sử
với cái nhìn khách quan, để cho nhân vật - người trong cuộc tự bày tỏ hoặc đối
thoại với nhau để làm rõ nội dung tư tưởng của tác phẩm. Tác giả thường chọn
những vấn đề gai góc của lịch sử, phơi bày sự thật của nó và để độc giả tự chiêm
nghiệm về một vấn đề mà bấy lâu nay lịch sử nước nhà có cách nhìn và cách viết
khác. Tính phản biện lịch sử của tiểu thuyết Hoàng Minh Tường thường được thể

24




Trích đoạn Vấn đề phõn loại cõu Đặc điểm cõu văn trong tiểu thuyết Thời của thỏnh thần xột về mặt cấu tạo Đặc điểm cõu văn trong tiểu thuyết Thời của thỏnh thần xột theo mục đớch Tiểu kết chương 3
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status