Xây dựng mô hình quản lý chuyển giao công nghệ dạy học bậc trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh: - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN NGỌC BẢO CHƯƠNG

XÂY DỰNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ CHUYỂN
GIAO CÔNG NGHỆ DẠY HỌC BẬC TRUNG
HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ NGÀNH : 60.14.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học : PGS – TS NGÔ SĨ TÙNG

.
VINH 2013


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các Thầy Cô, các anh chị và các bạn. Với lòng kính trọng
và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lới cảm ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Khoa Quản lý giáo dục trường Đại
Học Vinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành
luận văn. Ban giám hiệu, Phòng Tổ chức cán bộ trường Đại Học Sài Gòn đã tổ chức các
hoạt động học tập giúp tôi có cơ hội tiếp thu kiến thức hiệu quả.
Phó giáo sư- Tiến sĩ Ngô Sỹ Tùng, người thầy kính mến đã hết lòng giúp đỡ, dạy
bảo, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn
thành luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô trong hội đồng chấm, phản biện luận văn đã
cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này.


20

1.3.Quản lý chuyển giao công nghệ dạy học

41

1.4. Cơ sở pháp lý của đề tài

42

Kết luận chương 1

44

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
DẠY HỌC BẬC THCS TẠI TP.HCM
2.1 Khái quát về tình hình phát triển kinh tế, xã hội và ngành gíao dục - đào

46

tạo TP.HCM
2.2. Thực trạng công tác chuyển giao công nghệ tại Việt Nam nói chung và

50

Tp.HCM nói riêng
2.3. Thực trạng công tác quản lý chuyển giao công nghệ dạy học bậc THCS

57

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

112

TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT


Stt
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16

Chữ viết đầy đủ
Giáo dục

CNĐT
CNTT
Tp.HCM

MỞ ĐẦU
Lí do chọn đề tài
Trong quá trình phát triển của mọi quốc gia, giáo dục và đào tạo (GDĐT) vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển, là con đường quan
trọng nhất để phát huy nguồn lực con người. Chính vì vậy, sự đi lên bằng giáo
dục đã trở thành con đường tất yếu của thời đại. Trí tuệ của con người đã trở
thành tài sản quý giá của mỗi quốc gia. Nâng cao và phát triển dân trí là điều


kiện kiên quyết để đưa đất nước tiến lên trong xu thế hội nhập hiện nay. Từ
xu thế tất yếu của thời đại và yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã
khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực
quan trọng thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy
nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng nhanh
và bền vững”.
Nền giáo dục cách mạng đã tạo nên những nét đẹp của văn hoá dân tộc,
tạo nên bản sắc Việt Nam, sức mạnh Việt Nam, đó chính là tiền đề cho dân
tộc ta viết lên những trang sử chói lọi. Đề cao vai trò của giáo dục là đề cao tư
tưởng tiến bộ mang tính thời đại. Đây là tư tưởng chỉ đạo có tầm chiến lược
của Đảng ta, đang từng bước được thể chế hoá một cách thấu đáo, đồng bộ và
kịp thời trong cuộc sống. GD-ĐT đã và đang đứng trước những cơ hội phát
triển mới, đồng thời cũng phải đối đầu với nhiều thách thức mới.
Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31/10/2012 Hội nghị Trung ương 6
khóa XI về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế nhận định: Tiềm lực KH&CN được nâng lên. Quản lý nhà nước

nhận thức mới về phát triển giáo dục theo hướng bảo đảm chất lượng của phát
triển giáo dục, không còn làm giáo dục theo kiểu “phong trào, hình thức, cục
bộ” mà cần phát triển giáo dục trong mối liên hệ với thực tiễn khách quan của
xã hội, của đất nước và thế giới, gắn bó mật thiết với các lĩnh vực kinh tế, văn
hoá, KH&CN. Phát triển giáo dục nhanh và bền vững là đòi hỏi cấp bách,
nhưng cũng là yêu cầu lâu dài có ý nghĩa sống còn với nền giáo dục Việt
Nam. Giáo dục Việt Nam tuy đã đạt được rất nhiều thành tựu, đã khởi sắc


thực sự, song giáo dục Việt Nam vẫn là nền giáo dục của một nước nghèo,
một nước trong những nước đang phát triển. Phát triển giáo dục nhanh, bền
vững và hiệu quả là tạo sức cạnh tranh cho kinh tế- xã hội, vì thực chất công
cuộc cạnh tranh kinh tế- xã hội giữa các nước hiện nay là cạnh tranh về giáo
dục.
Quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục Việt Nam được Đảng và Nhà
nước nêu rõ: Toàn cầu hóa mang đến nhiều cơ hội cùng với không ít thách
thức, trong đó có nguy cơ văn hóa dân tộc bị lu mờ bởi việc du nhập những
lối sống và giá trị xa lạ, cực đoan, thậm chí phi nhân tính. Cần vận dụng
những kinh nghiệm giáo dục của nhiều nước tiên tiến trên thế giới để tiết
kiệm thời gian, công sức, tiền của, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa nước
ta và các nước trên thế giới. Tuy nhiên, việc tiếp nhận những mô hình giáo
dục của nước ngoài phải được xem xét thận trọng để phù hợp với trình độ
phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo tính khả thi đồng thời không làm tổn hại
đến những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Vận dụng những bài học
kinh nghiệm của quốc tế phải được tiến hành đồng thời với việc nhấn mạnh
hơn những yếu tố dân tộc trong nội dung và phương pháp giáo dục, giúp
người học hiểu biết sâu sắc về văn hóa Việt Nam, biết tự hào về truyền thống
dân tộc, có ý thức và trách nhiệm gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.
Đồng thời giáo dục phải đảm bảo chất lượng tốt nhất trong điều kiện
chi phí còn hạn hẹp. Chất lượng là mục tiêu hàng đầu của mọi nền giáo dục,

trong những biểu hiện tính thiếu đồng bộ của hệ thống giáo dục.
Tôi chọn đề tài “Xây dựng mô hình quản lý công tác chuyển giao
công nghệ dạy học bậc THCS tại thành phố Hồ Chí Minh” nhằm mục tiêu
đề xuất một mô hình giúp cho cơ quan quản lý Nhà nước, quản lý ngành giáo


dục và các cơ sở đào tạo bậc THCS tại Tp.HCM có thể thực hiện hiệu quả
công tác này trong giai đoạn đổi mới nền giáo dục và phát triển khoa học và
công nghệ của đất nước sắp tới.
1. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề xuất một mô hình giúp cho cơ quan quản lý Nhà nước, quản lý
ngành giáo dục và các cơ sở đào tạo có thể thực hiện hiệu quả, có chất lượng
công tác quản lý chuyển giao công nghệ dạy học bậc THCS tại TP.HCM.
1. Cơ sở khoa học và tính thực tiễn của đề tài:
- Cơ sở khoa học:
- Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ biện chứng giữa
sự phát triển khoa học – công nghệ với phát triển kinh tế, xã hội.
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần XI năm 2011 về nội dung
phát triển giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ.
- Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31/10/2012 Hội nghị Trung
ương 6 khóa XI về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
- Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam (Ban hành kèm theo
Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng
Chính phủ)
- Tính thực tiễn:
Nếu đề xuất và thực hiện được các giải pháp quản lý có tính khoa học,
khả thi thì có thể nâng cao hiệu quả quản lý chuyển giao công nghệ dạy học
bậc THCS tại Tp.HCM giúp tiết kiệm chi phí và tăng tính đồng bộ trong việc



Công tác chuyển giao công nghệ dạy học bậc THCS tại Tp.HCM.
- Đối tượng nghiên cứu
Mô hình quản lý chất lượng chuyển giao công nghệ dạy học bậc THCS
tại Tp.HCM.
- Dự kiến các loại số liệu, dữ kiện, dự liệu cần thu thập phục vụ cho đề tài:
- Thực trạng công tác quản lý chuyển giao và áp dụng một số công nghệ
dạy học tại các trường THCS tại Tp.HCM trong vài năm gần đây.
- Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý (CBQL) ngành GD Tp.HCM về
công tác chuyển giao công nghệ dạy học ở các trường THCS tại Tp.HCM
trong vài năm gần đây.
- Ý kiến chuyên gia Sở GD-ĐT, Sở KH&CN Tp.HCM về công tác
chuyển giao công nghệ dạy học tại các trường THCS trên địa bàn
Tp.HCM.
Nghiên cứu tổng quan:
- Các Văn bản nói về công tác chuyển giao công nghệ tại Việt Nam
cho đến nay chủ yếu đề cập đến chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực
khoa học kỹ thuật, dịch vụ du lịch, thể thao, y tế,…trong đó các văn kiện của
Đảng như văn kiện Đại hội XI, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31/10/2012
Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, dự thảo phát triển KH&CN mang tầm
vóc vĩ mô và định hướng chiến lược, phần lớn nội dung nói đến những thành
tựu đã đạt được, những hạn chế cần khắc phục, đề ra phương hướng, các giải
pháp để phát triển KH&CN.
- Lĩnh vực giáo dục tuy có đề cập đến vấn đề chuyển giao công nghệ
nhưng chủ yếu và hầu như tập trung vào giáo dục đại học và đào tạo nghề,
trong khi đó giáo dục phổ thông ngày nay được xem là nền tảng tạo nên lực


năm 2007; Dạy học theo dự án, dạy học e-learning của Microsoft năm 2011;
hoặc gần đây hơn là chương trình Smas của Viettel năm 2011; Quản lý nhà
trường Vmis năm 2012 từ dự án của Châu Âu (EU);...gây tốn kém và chưa
chắc hiệu quả mà còn nhiều bất cập khi đưa vào áp dụng thực tế) hoặc rơi vào
tình trạng buông lỏng quản lý để các trường phổ thông tự tìm kiếm, tự trang
bị, tự sử dụng chẳng hạn bảng tương tác activeboard, dụng cụ thực hành thí
nghiệm tích hợp với multimedia rất đắt tiền nhưng nếu không dùng đúng thì
rơi vào hình thức, trình diễn, thiếu thực chất, gây lãng phí thời gian, tiền của.
- Như vậy theo những luận điểm trên đứng ở góc độ quản lý trường học
phổ thông ta thấy vai trò của nhà trường – nơi trực tiếp sử dụng công nghệ
dạy học mới – chưa thực sự chủ động, chưa phát huy được tính sáng tạo, chưa
thấy được mối quan hệ ràng buộc giữa nhà trường với các đối tác (giúp cho cả
2 bên nâng cao năng lực hoạt động), cũng như triệt tiêu tinh thần phản biện
khoa học để giúp cho cơ quan quản lý nhà nước, quản lý ngành giáo dục, các
đối tác, nhà cung cấp, các tổ chức tài trợ có cái nhìn khách quan, chuẩn xác
tình hình ứng dụng công nghệ dạy học có những mặt tích cực và hạn chế ra
sao để có biện pháp điều chỉnh, hoàn thiện.
- Nghiên cứu của tác giả:
• Nghiên cứu về cơ sở lý luận về công nghệ, công nghệ dạy học, quản lý
công nghệ, chuyển giao công nghệ và quản lý chuyển giao công nghệ
dạy học.
• Khảo sát thực trạng quản lý chuyển giao công nghệ dạy học bậc
THCS tại Tp.HCM.
• Quan điểm hệ thống, về mô hình quản lý và cách tiếp cận trong việc
xây dựng một mô hình quản lý chuyển giao công nghệ dạy học bậc
THCS tại Tp.HCM.


• Đề xuất mô hình quản lý, mô tả hoạt động của mô hình chuyển giao
công nghệ dạy học bậc THCS tại Tp.HCM.

góp phần tạo nền tảng triết học cơ bản cho tư tưởng phương Tây. Do vậy có
thể suy ra, bất cứ những phương pháp, kỹ năng, thủ thuật, chiến lược hay bí
quyết nào được sắp xếp một cách khoa học, có hệ thống, được dưa vào sử
dụng mà đem lại hiệu quả cho việc giảng dạy thì được gọi là CNDH.
Các giai đoạn hình thành và phát triển khái niệm CNDH ở thế kỷ XX:
Ta có thể thấy cơ sở của ngành CNDH bắt nguồn từ các ý tưởng của
các nhà Hy lạp cổ đại như được nêu trên. Tuy vậy, thực chất lịch sử của
ngành CNDH hiện đại lại chủ yếu rơi vào thế kỷ XX, dựa trên 3 nền tảng hiện
đại: Thiết kế giảng dạy (Instructional design), phương tiện truyền thông trong
dạy học (Instructional Media) và Công nghệ máy tính trong dạy học
(Instructional Computing).Các thời kỳ:
a. Ðầu thế kỷ XX- 1950


- Về thiết kế bài giảng: quan niệm của Thorndike (1874 - 1949) về quá
trình học ở đầu thế kỷ XX (dựa theo tâm lý học ứng xử/hành vi: kích thích,
phản ứng, thưởng/sửa..lặp đi lặp lại) được ứng dụng vào phương pháp dạy
học (PPDH), phát triển những kỹ năng, nhằm đạt mục tiêu đề ra hay kết quả
mong muốn. Thời thế chiến thứ 2 có phương pháp tiếp cận hệ thống được
dùng để huấn luyên ở trường quân sự,...
- Phương tiện dạy học (DH) (phát triển song song với thiết kế bài học ở
thế kỷ XX): Dạy học cổ truyền chỉ dựa vào lời nói và chữ viết, sau này có
thêm các đồ dùng học tập khác. Năm 1905, trung tâm Media đầu tiên ở Mỹ
sưu tầm đồ dùng dạy học bao gồm các đồ vật, mô hình, bản đồ. Ðầu thế kỷ
XX, ở Hoa kỳ bắt đầu có dạy học bằng hình ảnh (visual), rồi vào thập niên
1920 và 1930 có âm thanh (audio). Về sau, nhiều phim ảnh được đưa vào lớp
học (phim kịch, phim khoa học và lịch sử). Ðến đầu những năm 40, có trung
tâm giáo dục theo chương trình dạy học nghe nhìn ở Mỹ (năm 1943). Năm
1946, kế họach dạy học nghe nhìn được thực hiện ở trường ÐH Indiana - Hoa
kỳ. Trong thế chiến thứ 2, có nhiều phim huấn luyện được dùng trong giáo

cận công nghệ đối với việc thiết kế quá trình dạy học nói chung, nghĩa là công
nghệ của chính sự thiết kế quá trình dạy học. Dạy học chương trình hóa là con
đẻ đầu tiên của cách tiêp cận này. Quan điểm này được áp dụng triệt để vào
dạy học vào những năm 1960.
- Về phương tiện truyền thông trong DH: có nhiều thay đổi, phát triển
mạnh mẽ hơn, sử dụng nhiều dạng Media khác nhau. Cá chuyên gia về Media
trở thành quan trọng trọng trường học, họ quan tâm tìm kiếm các dạnh Media


mới, xem lại bản chất của KH nghe nhìn và Media. Media trở thành 1 phần
quan trọng của CNDH, gắn liền với quá trình thiết kế bài giảng, giao tiếp.
- Về công nghệ máy tính trong DH: thập niên 70 thế kỷ XX xuất hiện
chips -thế hệ thứ 4, cuối thập niên 70 phát triển qui mô lớn. Năm 1976 máy
tính cá nhân Apple đầu tiên ra đời, phát triển nhanh ứng dụng CN máy tính
vào dạy học. Năm 1968 hòan thiện và ứng dụng chương trình hóa LOGO vào
học viện Massachuset - Hoa kỳ. Các nhà chuyên môn nghe nhìn và chương
trình hóa thống nhất thuật ngữ CNGD.
B.P Skinner (1968) là người đầu tiên xử dụng thuật ngữ công nghệ
giảng dạy (technology of teaching) tạo ra sự phát triển máy dạy học có sự hỗ
trợ bằng máy tính và những thiết bi điện tử trong lớp học để giải quyết tình
trạng thiếu GV vào những năm 1970 nhưng đã thất bại sau thời gian không
lâu.
Kết luận: Thập kỷ 1970 được đánh dấu bởi 3 đặc điểm: a) ngoài nghe
nhìn, chương trình hóa còn có cơ sở tin học, lý thuyết viễn thông, đo lường
GD, phân tích hệ thống và các KHGD như tâm lý học, lý thuyết quản lý, họat
đông nhận thức, tổ chức quá trình GD và tổ chức lao đông sư phạm, b) cơ sở
phương pháp luận của CNGD chuyển từ dạy học thuyết trình sang dạy học
nghe nhìn , c) sự tích cực đào tạo các nhà công nghệ GD học có nghiệp vụ;
xuất


- Theo nghĩa rộng:
Ngoài việc áp dụng phương tiện dạy học còn có các thành tựu của các
khoa học vào qúa trình GD, khái niệm CNDH được hòan thiện, mở rộng và
có chiều sâu hơn.
"CNDH là khoa học về GD, nó xác lập các nguyên tắc hợp lý của
công tác dạy học và những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình
đào tạo cũng như xác lập các phuơng pháp và phương tiện có kết quả nhất để
đạt mục đích đào tạo đề ra, đồng thời tiết kiệm được sức lực của thầy và trò"
(UNESCO 5/1976)
d. Giai đoạn 1980-1990:
-Về thiết kế dạy học: Vẫn còn nghiên cứu nhằm vạch ra các nguyên tắc,
các biện pháp tối ưu hóa qúa trình đào tạo bằng cách phân tích từng nhân tố,
nâng cao hiệu quả đào tạo, các phương tiện đánh giá. Cách tiếp cận này ngày
nay được phổ biến rộng rãi ở tòan bộ công tác của trường học hoặc của bất kỳ
khâu thiết kế đào tạo nào. Một số nhà khoa học GD đã muốn phát triển GD
bằng cách qui trình hóa, khách quan hóa quá trình dạy, làm cho nó đạt hiệu
quả tối ưu cho nhiều người.
- Về phương tiện truyền thông trong dạy học: có thêm nhiều dạng
thông tin mới, hình ảnh tĩnh động, hoạt hình, trở nên phổ biên hơn, băng đĩa
nhạc, video,.
- CN máy tính: Năm1981, IBM phát triển mạnh vào năm 1984, Apple
có Mackintosh nhiều khả năng hơn, nhiều phân mềm, công cụ vi tính ra đời:
văn bản word, excel, cơ sở dữ liệu,. Năm 1981 ứng dụng vào mục đích dạy


các phương tiện chuyên môn chương trình hóa lớp học theo đĩa; 1990 ứng
dụng công nghệ liên hoàn trong giáo dục. Số lượng máy tính cá nhân phát
triển nhanh.
- Từ đầu thập kỷ 80 có đặc trưng bởi sự thành lập các phòng thực
nghiệm máy tính và lớp học theo đĩa, sự lớn mạnh về số lượng và chất lượng

công nghệ để chống lại sự lạm dụng công nghệ.
Thứ hai: Theo thống kê của Liên Hợp Quốc năm 1984 thì “sự cung cấp
tiền bạc và công nghệ cho các nước đang phát triển đã không mang lại sự phát
triển. Nguyên nhân là các nước này thiếu năng lực quản lý công nghệ”. Tháng
1/1985 chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) đã cùng Trung
tâm chuyển giao công nghệ châu Á - Thái Bình Dương (APCTT) thực hiện
chương trình “Tăng cường năng lực quản lý công nghệ”. Như vậy, quản lý
công nghệ là khâu yếu kém của các nước đang phát triển, không quản lý công
nghệ tốt, không thể thành công trong việc phát triển đất nước dựa trên công
nghệ.
Thứ ba: Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cho thấy, để phát
triển đất nước, một số quốc gia chú trọng xây dựng nền kinh tế hiện đại, phát
triển nhanh dựa trên nền kinh tế thị trường tự do dẫn đến kinh tế phát triển,
song khía cạnh văn minh, công bằng xã hội bị xem nhẹ. Một số quốc gia khác
lại chú trọng xây dựng nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung nhằm
mang lại lợi ích cho tất cả mọi người, song ở các quốc gia này lại có biểu hiện
của sự trì trệ trong kinh tế. Để kết hợp cả hai yếu tố hiện đại và văn minh
trong quá trình công nghiệp hóa đồng thời có thể đi tắt tiếp cận nhanh các
công nghệ tiên tiến, cần quản lý tốt quá trình phát triển công nghệ. Vì vậy,


quản lý công nghệ - chuyển giao công nghệ - là công cụ tốt để thực hiện
thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ tư: Ở phạm vi cơ sở, quản lý công nghệ là quản lý các tiến bộ kỹ
thuật ở cơ sở. Quản lý công nghệ ở cơ sở thông qua các hoạt động như phân
tích đầu vào, phân tích thị trường, phân tích khả thi về công nghệ, kinh tế, xã
hội, pháp luật... làm cơ sở cho các quyết định của lãnh đạo trong việc đầu tư cơ
sở vật chất, tìm kiếm và mở rộng thị trường, đổi mới công nghệ... Như vậy,
quản lý công nghệ là phương tiện để đáp ứng thỏa đáng lợi ích của cả người
sản xuất và người tiêu dùng - ở đây trong ngành GD có thể xem là trường học

nghệ thường được dùng như tính từ của cụm thuật ngữ như: qui trình công
nghệ, thiết bị công nghệ, dây chuyền công nghệ. Cách hiểu này có xuất xứ từ
định nghĩa trong từ điển kỹ thuật của Liên Xô trước đây: “Công nghệ là tập
hợp các phương pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất,
hình dáng nguyên, vật liệu hay bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sản
xuất để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh”. Theo những quan niệm này thì công
nghệ chỉ liên quan đến sản xuất vật chất.
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, khởi đầu từ Mỹ rồi đến Tây Âu đã sử
dụng phổ biến thuật ngữ “công nghệ” để chỉ các hoạt động ở mọi lĩnh vực,
các hoạt động này áp dụng những kiến thức là kết quả của nghiên cứu khoa
học ứng dụng, một sự phát triển của khoa học trong thực tiễn, nhằm mang lại
hiệu quả cao hơn trong hoạt động của con người.
Khái niệm công nghệ này dần dần được chấp nhận rộng rãi trên thế giới,
ví dụ thể hiện ở việc thay đổi tên gọi của các tạp chí lớn trên thế giới, như tạp
chí “Khoa học và kỹ thuật – Science et technique” đổi thành “KH&CN Science et technogie”.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status