Vận dụng quan điểm kiến tạo vào dạy học giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4 - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHẠM THỊ LÊ NA

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM KIẾN TẠO VÀO DẠY HỌC
GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 4

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc Tiểu học)
Mã số: 60140101

Người hướng dẫn khoa học: TS. Phan Quốc Lâm

NGHỆ AN, 2014


LỜI CẢM ƠN
Công trình nghiên cứu “Vận dụng quan điểm kiến tạo vào dạy học giải
toán có lời văn cho học sinh lớp 4” được hoàn thành với mục đích góp phần
nâng cao chất lượng dạy học môn toán ở Tiểu học.
Trước hết, tác giả luận văn xin trân trọng bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới
Tiến sĩ Phan Quốc Lâm, người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết, tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình hình thành đề cương, triển
khai ý tưởng và hoàn thiện đề tài.
Tác giả trân trọng gửi lời cảm ơn tới các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ,
giảng viên Khoa Giáo dục, trường Đại học Vinh, đã nhiệt tình giảng dạy và
giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu các chuyên đề Cao
học.
Trân trọng cảm ơn tập thể lãnh đạo trường Tiểu học Xuân An và Trường
Tiểu học Xuân Hồng,... đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho quá trình thực

VPTGN

Vùng phát triển gần nhất

GV

Giáo viên

HS

Học sinh

TH

Tiểu học

TN

Thực nghiệm

ĐC

Đối chứng

GQVĐ

Giải quyết vấn đề


MỞ ĐẦU


đấu, rèn luyện để bước lên một tầm cao mới tiến kịp với thời đại. Phương
pháp này đòi hỏi người thấy không chỉ có kiến thức trên tất cả các lĩnh vực,
đặc biệt về lĩnh vực mình đảm trách mà còn phải có phương pháp tổ chức việc
học cho học sinh.Người thầy phải trở thành người đạo diễn, kích thích hoạt
động cho học sinh, là “trọng tài khoa học” kết luận vấn đề do học viên trình
bày.Phải hướng dẫn cho học sinh cách tự học, tự tìm kiếm kiến thức bằng suy
nghĩ, hành động. Dưới sự tổ chức, hướng dẫn của người thầy, học sinh sẽ tự
tìm cách chiếm lĩnh tri thức khoa học, tự giác rèn luyện, phát huy được tính
tích cực, chủ động, sáng tạo. Qua phương pháp này, học sinh không chỉ tiếp
thu tri thức với chất lượng và hiệu quả cao mà còn trau dồi được cách phát
hiện vấn đề, giải quyết vấn đề, phương pháp khám phá chân lý, kiến thức một
cách chủ động.
Ở bậc tiểu học, học Toán thực chất là học làm toán, trong đó giải toán có
lời văn có vị trí hết sức quan trọng: Nó thể hiện rõ nét năng lực vận dụng tri
thức toán học và mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ; là một trong 6 mạch
kiến thức cần đạt được: yếu tố đại số, yếu tố số học, yếu tố đại lượng, yếu tố
hình học, yếu tố thống kê, yếu tố giải toán. Mạch kiến thức giải toán có khả
năng củng cố, hệ thống kiến thức - kỹ năng của các mạch kiến thức khác.
Từ thực tế trên cho thấy để nâng cao chất lượng đào tạo, việc đổi mới
phương pháp giảng dạy đối với các cấp đào tạo tại Việt Nam là việc làm cấp
thiết và cần tiến hành một cách đồng bộ.Đổi mới phương pháp giảng dạy sẽ
cung cấp những cơ hội đặc biệt để nhận thức rõ những giá trị quan trọng, thực
chất trong cuộc sống.Điều đó làm tăng khả năng mà thực ra là yêu cầu giáo
viên không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết. Vì vậy, vai trò mới của người
giáo viên trở thành nhân tố kích thích trí tò mò của học sinh, mài sắc thêm
năng lực nghiên cứu độc lập, tăng cường khả năng tổ chức, sử dụng kiến thức
và khả năng sáng tạo. Việc áp dụng các phương pháp giảng dạy mới đòi hỏi
phải có những tài liệu dạy-học mới. Những tài liệu này phải gắn với các


5. 3. Đề xuất một số biện pháp vận dụng quan điểm kiến tạo vào dạy học
giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4.
8


5. 4. Tiến hành thử nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính hiệu quả
của các biện pháp được đề xuất.
6. Phương pháp nghiên cứu.
6. 1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
6. 1. 1. Phương pháp phân tích- tổng hợp lý thuyết: Thông qua các tài
liệu sách, báo, tạp chí và các tài liệu khác để phân tích và tổng hợp lý thuyết
liên quan đến đề tài nhằm thu thập thông tin cần thiết.
6. 1. 2. Phương pháp phân loại - hệ thống hóa lý thuyết: Trên cơ sở phân
tích, tập hợp hệ thống hóa lý thuyết cần thiết để làm rõ cơ sở lý luận của vấn
đề nghiên cứu.
6. 2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu và kiểm chứng tính
khả thi của các biện pháp được đề xuất.
6. 2. 1. Phương pháp quan sát:
- Quan sát các tiết dạy giải toán có lời văn ở lớp 4, các trường tiểu học tại
huyện Nghi Xuân – Tỉnh Hà Tĩnh
6. 2. 2. Phương pháp điều tra:
- Nghiên cứu thực trạng dạy và học giải toán có lời văn của học sinh lớp
4 ở các trường tiểu học tại huyện Nghi Xuân – Tỉnh Hà Tĩnh hiện nay.
- Nghiên cứu thực trạng vận dụng quan điểm kiến tạo vào dạy học giải
toán có lời văn cho học sinh lớp 4.
6. 2. 3. Thực nghiệm sư phạm:
Tiến hành thực nghiệm một số bài dạy theo hướng vận dụng quan điểm
kiến tạo vào dạy học giải toán có lời văn.
Nhằm kiểm tra tính hiệu quả của một số biện pháp được đề xuất

giáo dục, nhằm xây dựng những phương pháp dạy học tích cực hướng vào
người học
Theo Mebrien và Brandt (1997) đã chỉ ra “Kiến tạo là một cách tiếp cận
“dạy” dựa trên nghiên cứu về việc “học” với niềm tin rằng: “Tri thức được tạo
nên bởi mỗi cá nhân người học sẽ trở nên vững chắc hơn nhiều so với việc nó
được nhận từ người khác”. Muốn nói rằng kiến tạo không phải là tự nhiên
được người ta mang đến và mình tiếp nhận tri thức đó mà mình cần phải tự
xây dựng nên tri thức của riêng mình .
Còn theo M. Bruner (1999) thì “Người học tạo nên những kiến thức của
bản than bằng cách điều khiển những ý tưởng và tiếp cận dựa trên những kiến
thức và kinh nghiệm đã có, áp dụng chúng vào những tình huống mới, hợp
thành tổng thế thống nhất giữa những kiến thức mới thu được với những kiến
thức đang tồn tại trong trí óc”
Với Brooks (1993) ông lại cho rằng “Quan điểm kiến tạo trong dạy học
khẳng định rằng học sinh phải kiến tạo nên những hiểu biết về thế giới bằng
cách tổng hợp những kinh nghiệm mới vào cái mà họ đã có trước đó". Mặc dù
cách diễn đạt có khác nhau về quan điểm kiến tạo trong dạy học nhưng cách
nhà nghiên cứu đều khẳng định rõ tầm quan trọng, vai trò chủ động, vị trí của
người học và cách thức thu nhận những tri thức cho bản than. Theo cách diễn
đạt trên ta có thể nói rằng người học không phải thu nhận kiến thức thụ động
do người khác truyền cho một cách áp đặt mà bằng cách đặt mình vào môi
trường tích cực phát hiện ra vấn đề giải quyết vấn đề bằng những kinh nghiệm
11


đã có sao cho thích ứng với những tình huống mới và xây dựng nên cách giải
quyết của bản thân sao cho hợp lý.
Cơ sở tâm lý học của lý thuyết kiến tạo là Tâm lý học phát triển của
Piaget và lý luận về “vùng phát triển gần nhất" của Vugôtxki . Hai khái niệm
quan trọng của Piaget được sử dụng trong Lý thuyết kiến tạo là “Đồng hóa

giống nhau theo một trình tự nhất định, sơ đồ nhận thức được hình thành từ
các hành động bên ngoài và được nhập tâm. Sự phát triển nhận thức là sự phát
triển các hệ thống sơ đồ.
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước.
Những nghiên cứu về quan điểm kiến tạo kiến thức trong dạy học nói
chung, dạy học Toán nói riêng được phản ánh trong các công trình của các tác
giả tiêu biểu như: Nguyễn Bá Kim; Trần Thúc Trình; Phan Trọng Ngọ,
Nguyễn Đức Hưởng, Nguyễn Hữu Châu, Trần Bá Hoành, Đỗ Tiến Đạt, Trần
Vui, Cao Thị Hà. ..
Theo tác giả Đào Tam: Động từ kiến tạo chỉ hoạt động của con người
tác động lên một đối tượng, hiện tượng, quan hệ nhằm mục đích hiểu chúng
và sử dụng chúng như những công cụ ký hiêu để xây dựng nên các đối tượng,
các hiên tượng, các quan hê mới hơn. Có nhiều quan niệm khác nhau vê dạy
học theo quan điểm kiến tạo, tuy nhiên, đứng trên quan điểm dạy học Toán
cần nhấn mạnh hai khái niêm: dạy và học.
- Học theo quan điểm kiến tạo là hoạt động của học sinh, sinh viên dựa

vào những kinh nghiêm của bản thân, huy động chúng vào quá trình tương tác
với các tình huống, tiêu hoá chúng và rút ra được điều cần hình thành. Theo
quan điểm của thuyết kiến tạo các tri thức nhất thiết là một sản phẩm của một
hoạt động nhận thức của chính con người. Bằng cách xây dựng trên các kiến
thức đã có học sinh, sinh viên có thể nắm bắt tốt hơn các khái niệm, các quy
luật đi từ nhận biết sự vật sang hiểu nó và phát hiên kiến thức mới. Kiến thức
kiến tạo được khuyến khích tư duy phê phán, nó cho phép học sinh, sinh viên
tích hợp được các khái niệm, các quy luật theo nhiều cách khác nhau. Khi đó
họ có thể trình bày khái niêm, quan hê, kiểm chứng chúng, bảo vệ và phê
phán về các khái niêm, các quan hệ được xây dựng.
13



14


- Vai trò của cá nhân và vai trò của môi trường được coi trọng trong quá
trình kiến tạo tri thức của mỗi cá nhân;
- Lý thuyết kiến tạo dựa trên cơ sở tất cả các tri thức đều phải là sản
phẩm của hoạt động nhận thức, bằng cách xây dựng tri thức mới trên những
tri thức đã được kiến tạo;
Kiến thức được kiến tạo một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức, quá
trình phát triển nhận thức trước hết phụ thuộc vào sự trưởng thành chin muồi
các chức năng sinh lý của học sinh, vào sự học hỏi, tò mò tìm tòi thông qua
các tác động của môi trường bên ngoài và chính bản thân chủ thể làm cho các
yếu tố trên không tác động riêng rẽ, rời rạc mà được kết hợp với nhau trong
một thể thốn nhất trong quá trình phát triển của học sinh.
1. 2. Một số khái niệm cơ bản.
1. 2. 1 Dạy học và quan điểm dạy học giải toán có lời văn.
Quá trình dạy học là quá trình tác động của giáo viên và học sinh đến
một đối tượng chung là tri thức khoa học, chính vì điều đó người giáo viên
cần lựa chọn tri thức và cách thức tác động đến tri thức phải phù hợp với lứa
tuổi, tâm sinh lý… của các em. Việc lựa chọn tri thức cần dựa vào sách giáo
khoa làm chuẩn và dựa vào trình độ học sinh, việc lựa chọn tri thức rất quan
trọng vì nó còn liên quan đến mục tiêu và phương pháp dạy học. Còn cách
thức tác động tri thức thì người giáo viên cần truyền tải kiến thức cho học
sinh thông qua tạo tình huống có vấn đề, nêu cho học sinh những câu hỏi để
các e tư duy, tìm cách phát hiện và giải quyết vấn đề từ đó người học sinh sẽ
xây dựng kiến thức mới cho bản thân, và củng cố kiến thức cũ đã có sắn
Trong môn Toán ở tiểu học thì việc giải các bài toán có lời văn chiếm
một vị trí hết sức quan trọng . Một phần lớn thời gian học toán của học sinh
đều giành cho việc giải các bài toán. Ngoài ra kết quả học toán của học sinh
cũng đánh giá trước hết là qua các kỹ năng giải toán. Nếu bản thân các em

hấp dẫn HS, nhưng nó đòi hỏi sự nổ lực cố gắng của cả giáo viên và học sinh.
Theo nhà nghiên cứu Cobb và Steef (1983) thì giáo viên cần phải “Liên tục cố
gắng để nhìn nhận cả hành động của chính mình và của cả học sinh từ quan
điểm của học sinh”. Nếu ta thực hiện việc dạy học theo LTKT tốt thì hiệu quả
16


của việc dạy học là rất cao. [Trần Vui (2001); Using Mathematics
Investigation to Enhance Students Citical And Creative Thing king,
SEAMEO. RECSAM – Penang, Malaysia].
LTKT là lý thuyết về việc học nhằm phát huy tối đa vai trò tích cực và
chủ động của người học trong quá trình học tập.LTKT quan niệm quá trình
học toán là học trong hoạt động; học là vượt qua chướng ngại, học thông qua
sự tương tác xã hội; học thông qua hoạt động giải quyết vấn đề. Tương thích
với quan điểm này về quá trình học tập, LTKT quan niệm quá trình dạy học là
quá trình: GV chủ động tạo ra các tình huống học tập giúp HS thiết lập các tri
thức cần thiết; GV kiến tạo bầu không khí tri thức và xã hội tích cực giúp
người học tự tin vào bản thân và tích cực học tập; GV phải luôn giao cho HS
những bài tập giúp họ tái tạo cấu trúc tri thức một cách thích hợp và GV giúp
đỡ HS xác nhận tính đúng đắn của các tri thức vừa kiến tạo.
Như vậy, LTKT là một lý thuyết mang tính định hướng mà dựa vào đó
giáo viên lựa chọn và sử dụng một cách có hiệu quả các phương pháp dạy học
mang tính kiến tạo đó là: Phương pháp khám phá có hướng dẫn, học hợp tác,
phát hiện và giải quyết vấn đề. Trong quá trình dạy học, GV phải là người
biết phối hợp và sử dụng các phương pháp dạy học mang tính kiến tạo và các
phương pháp dạy học khác một cách hợp lý sao cho quá trình dạy học toán
vừa đáp ứng được yêu cầu của xã hội về phát triển toàn diện con người.
LTKT chú trọng đến vai trò nhận thức của những quá trình nhận thức nội
tại và “Cài đặt dữ liệu” của riêng từng cá nhân HS trong việc học của chính
mình. HS học tốt nhất khi các em được đặt trong một môi trường xã hội tích

thông tin bao gồm cả thông tin mới, trong một sơ đồ hiện thời, trong thuật
ngữ "điều tiết": hàm ý hình thành một số sơ đồ hoàn toàn mới hoặc sửa đổi
một sơ đồ hiện thời để phù hợp với một tình huống hoặc tập hợp một số kiến
thức mới và lạ lẫm. Piaget sử dụng thuật ngữ "trạng thái cân bằng" để giải
thích rằng trẻ em cố gắng tạo cân bằng để giải thích rằng trẻ em cố gắng tạo
cân bằng giữa đồng hóa thông tin và điều tiết vào những sơ đồ hoặc cấu trúc
trí tuệ của chúng. Sử dụng kiến thức có sẵn (đồng hóa) để giúp hiểu kiến thức

18


mới tốt hơn (điều tiết), trẻ em có thể xây dựng được kiến thức và biết cách tác
động để đạt được kiến thức (chẳng hạn giải quyết vấn đề).
Như vậy trạng thái cân bằng giải thích rằng con người tích cực thiết lập
cân bằng giữa những cấu trúc nhận thức và những trải nghiệm trong môi
trường.
Ví dụ sau đây có thể giải thích rõ những gì mà ông muốn nói :
Hãy nghĩ về một em bé biết cách cầm quả dâu tây đưa vào miệng, đứa trẻ
này đã phát triển một sơ đồ mà chúng ta có thể gọi là "cầm và đưa lên miệng".
Khi đứa trẻ dạo qua một số đồ vật khác nhau nào đó, giả sử như một quả anh
đào, đứa trẻ dễ dàng học được cách áp dụng sơ đồ "cầm và đưa vào miệng"
đối với đồ vật mới này. Đây là quá trình đồng hóa – cụ thể là đồng hóa vật thể
mới và sơ đồ cũ .
Giờ đây, hãy hình dung đứa trẻ dạo qua một đồ vật khác, ví dụ như một
quả bóng dùng để chơi trên bãi biển . Sơ đồ " cầm và đưa lên miệng" đã thiết
lập lại được thử nhưng lần này nó tỏ ra không thích hợp nữa và sẽ phải được
điều chỉnh cho phù hợp với đồ vật mới .
Quan điểm quan trọng của Piaget là :
- Tương tác xã hội là quan trọng để phát triển nhận thức, do con người
bắt đầu học từ người khác rằng có những quan điểm khác nhau về cách thức

trung ương (tủy sống, hệ thống dây thần kinh và bộ não). Đồng thời nhờ có
ngôn ngữ và các kí hiệu trước tiên là lời nói sau đó là chữ viết, công thức, kí
hiệu, hình vẽ mà quá trình hoạt động kiến tạo đó được kiến tạo thành hệ thống
tri thức của con người nhằm phản ánh thế giới hiện thực khách quan
Bên cạnh lý thuyết kiến tạo của Piaget ta không thể không nhắc tới lý
thuyết hoạt động. Theo Lêônchiep, hoạt động là phương thức tồn tại của cuộc
sống chủ thể. Cuộc sống là :"tổ hợp, hay nói một cách chính xác hơn là các
hoạt động thay thế nhau".
Những thành phần tâm lý cơ bản của hoạt động, bao gồm động cơ, thao
tác, nội dung và kết quả
- Động cơ là lý do thực hiện một hoạt động nào đó: Việc học tập tự giác,
tích cực, chủ động và sáng tạo đòi hỏi học sinh phải có ý thức về mục tiêu đặt
20


ra và tạo được động lực bên trong thúc đẩy bản thân họ hoạt động để đạt được
những mục tiêu đó. Điều này được thực hiện trong dạy học không chỉ đơn
giản bằng việc nêu rõ mục tiêu mà quan trọng hơ còn là gợi động cơ.
- Gợi động cơ: là làm cho HS có ý thức về ý nghĩa của hoạt động và của
đối tượng hoạt động. Gợi động cơ nhằm làm cho những mục tiêu của cá nhận
HS, chứ không phải vào bài, đặt vấn đề một cách hình thức.Gợi động cơ phải
xuyên suốt quá trình dạy học. Có các loại gợi động cơ là: Gợi động cơ mở
đầu, gợi động cơ trung gian, và gợi động cơ kết thúc .
Gợi động cơ mở đầu xuất phát từ thực tế hoặc nội bộ Toán học.Nó đáp
ứng nhu cầu xóa bỏ một sự hạn chế, chính xác hóa một khái niệm, lật ngược
vấn đề, xét tương tự và khái quát hóa vấn đề.
Gợi động cơ trung gian: là gợi động cơ cho những bước trung gian hoặc
cho những hoạt động tiến hành trong những bước đó để đạt được mục tiêu.
Gợi động cơ trung gian có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển năng lực độc
lập giải quyết vấn đề. Theo những cách thông thường sau: Hướng đích là

hội tích cực, thì ở đó người học có thể được vận dụng những tri thức và kỹ
năng đã có để thích nghi với môi trường mới và từ đó xây dựng nên tri thức
mới. Đây chính là quá trình nhận thức của học sinh theo quan điểm kiến tạo.
Kiến tạo và kinh nghiệm mà bản thân người học sinh nhận thức được
phải phù hợp với yêu cầu của xã hội đặt ra.
Điều nay thể hiện rằng cần định hướng cho việc dạy học theo quan điểm
kiến tạo, tránh việc để người học phát triển một cách tự do dẫn đến tình trạng
có thể kiến thức mà người học thu được đã lạc hậu hoặc là kiến thực mà
người học thu nhận được xa vời tri thức khoa học phổ thông .
Các luận điểm cơ bản của LTKT trong quá trình dạy học:
Luận điểm 1: Tri thức được tạo nên một cách tích cực bởi chủ thể nhận
thức chứ không phải tiếpthu một cách thụ động từ bên ngoài. Luận điểm này
khẳng định vai trò quyết định của chủ thể trong quá trình học tập, nó hoàn
toàn phù hợp với thực tiễn trong nhận thức. Trong dạy học điều này cũng
khẳng định rất rõ ràng
Ví dụ: Khi so sánh: “ lớn – bé ”, “nhiều – ít ”, “nhanh – chậm ”, “ sáng –
tối ”, “nóng – lạnh ” được học sinh tự xây dựng từ trải nghiệm không phải nhà
trường dạy chúng làm thế nào để phân biệt, so sánh .
23


Luận điểm 2: Nhận thức là quá trình thích nghi và tổ chức lại thế giới
quan của chính mỗi người .Nhận thức không phải chỉ là khám phá một thế
giới độc lập đang tồn tại bên ngoài ý thức của chủ thể mà còn là sự tương tác
giữa các kinh nghiệm đã có với môi trường. Với luận điểm này nhằm trả lơì
câu hỏi “nhận thức là gì ?” – Theo đó nhận thức không phải là quá trình học
sinh thụ động nhận những chân lý do người khác áp đặt mà học sinh được đặt
trong hoàn cảnh có vấn đề, trong môi trường đó học sinh được khuyến khích
vận dụng những kĩ năng để thích nghi với những đòi hỏi của môi trường mới,
từ đó hình thành nên tri thức mới .

nhiệm vụ.
Các lí thuyết dạy và học đã thay đổi mạnh mẽ trong vòng ba hoặc bốn
thập kỉ trở lại đây để đáp ứng nhu cầu phát sinh từ một “xã hội tri thức”
Những thay đổi này được sản phẩm của khoa học hỗ trợ như khoa học nhận
thức, những nghiên cứu về bộ não và tâm trí tuệ của con người. Trong đó,
kiến tạo kiến tạo được xem là lý thuyết thành công nhất về cách thức học tập
của con người, nhờ có lý thuyết kiến tạo đã giúp cho con người xây dựng
những hiểu biết và kiến thức của mình về thế giới thông qua việc trải nghiệm
và phản ảnh những kinh nghiệm mà con người học được cũng như nhận thức
được, khi mà con người bắt gặp một sự kiện mới, chúng ta phải hòa hợp
những kinh nghiệm mới này với những ý tưởng và kinh nghiệm trước đó, có
thể thay đổi những điều mà chúng ta đã tin tưởng, hoặc có thể loại bỏ những
thông tin mới mà không phù hợp. Trong bất cứ trường hợp nào, chúng ta vẫn
luôn là những người chủ động tạo ra kiến thức của chính mình.
1. 3. 2 Các loại kiến tạo trong dạy học
Kiến tạo cơ bản ( Radical Constructivism )
Kiến tạo cơ bản là một quan điểm nhận thức nhấn mạng tới cách cá nhân
xây dựng tri thức cho bản thân trong quá trình học tập .

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status