Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================
LỜI MỞ ĐẦU
Đã không còn được bao bọc bởi nền kinh tế từ lâu nhưng nâng cao năng
lực cạnh tranh với các doanh nghiệp Việt Nam vẫn là một bài toán khó và không
phải doanh nghiệp nào cũng tìm ra lời giải cho mình. Và cũng đã lâu rồi có một
thực tế mà chúng ta phải công nhận rằng muốn cạnh tranh được chúng ta cần có
một công cụ cần thiết là chiến lược cạnh tranh cụ thể. Để chiến lược kinh doanh có
thể thể hiện được vai trò của nó, việc phân tích để đưa ra mỗi chiến lược cần phải
được phải phân tích một cách cụ thể, tỉ mỉ dựa trên tình hình cụ thể của doanh
nghiệp mình, không thể áp dụng theo chiến lược của bất kì doanh nghiệp nào khác.
Cũng chính vì thế, phân tích môi trường kinh doanh chính là “linh hồn” của một
bản chiến lược, chiến lược có hiệu quả không, hoàn toàn xuất phát từ việc doanh
nghiệp phân tích môi trường kinh doanh và nhìn nhận khả năng của mình có đúng
đắn hay không.
Tổng công ty thương mại Hà Nội không chỉ là một doanh nghiệp kinh
doanh bình thường, đây là một doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò đầu tầu quan
trọng trong việc thúc đẩy sự phái triển cũng như dẫn đường chỉ lối cho rất nhiều
doanh nghiệp khác của thủ đô kinh doanh hiệu quả hơn. Với nguồn vốn được đầu
tư hàng năm từ nhà nước và nguồn lực hiện có của mình Tổng công ty thương mại
Hà Nội sẽ phải làm những gì để có thể đảm đương trọng trách này của mình trong
áp lực lớn từ các đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh nước
ngoài. Đây là các doanh nghiệp không chỉ có nguồn vốn dồi dào hơn, đội ngũ cán
bộ chuyên nghiệp, hiệu quả hơn, trình độ quản lý thì cao hơn một bậc do có các
kinh nghiệm kinh doanh trên nhiều quốc gia khác trên thế giới trước khi thâm nhập
vào thị trường Việt Nam. Nhận định được những khó khăn của mình, Tổng công ty
thương mại Hà Nội cũng đã vạch ra chiến lược phát triển cho toàn Tổng công ty và
==========================================================
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================
vì thế cũng đã giành được những thành quả đáng học hỏi đối với nhiều doanh
thể thấy rằng kinh doanh gắn với hoạt động của doanh nghiệp nhằm mục đích kiếm
lời bản thân hoạt động kinh doanh là một hệ thống bao gồm các ngành kinh doanh,
mỗi ngành kinh doanh lại là một hệ thống bao gồm nhiều công ty có quy mô khác
nhau, các công ty lại có nhiều các phân hệ bộ phận khác nhau như: sản xuất, kế
hoạch, marketing, tài chính… Trong phạm vi toàn nền kinh tế các doanh nghiệp có
mối liên hệ chặt chẽ với các tổ chức xã hội. Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều
có ảnh hưởng đến nhau và đến hệ thống xã hội lớn hơn như hệ thống chính trị, hệ
thống pháp luật, hệ thống kinh tế …Hoạt động kinh doanh như vậy không chỉ bao
gồm các hoạt động thương mại mà còn có nội dung rất rộng bao gồm: đầu tư, sản
xuất, chế biến, các hoạt động thương mại thuần tuý và các hoạt động cung cấp dịch
vụ.
(1) Giáo trình Kế hoạch kinh doanh, Khoa Kế hoạch và phát triển, trường Đại học Kinh tế quốc
dân,2005,tr7
Tuy nhiên theo cách hiểu truyền thống trước đây, hoạt động kinh doanh
có nghĩa hẹp hơn chỉ bao gồm hoạt động thương mại
==========================================================
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================
1.2. Nhiệm vụ
Từ cái nhìn khái quát về hoạt động sản xuất kinh doanh có thể thấy hoạt
động sản xuất kinh doanh có hai nhiệm vụ chính: tạo của cải vật chất cho xã hội và
tạo ra lợi nhuận cho các chủ thể tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh.
Bản chất của hoạt động kinh doanh là tạo ra giá trị cho các sản phẩm
hoặc dịch vụ. Giá trị của sản phẩm và dịch vụ được tạo ra nhờ các giá trị sử dụng
cho phép thoả mãn các nhu cầu khác nhau của khách hàng. Những nhu cầu này có
thể mang tính hữu hình như ăn, mặc,…cũng có thể mang tính vô hình như đem lại
sự hãnh diện cho người sử dụng.
Dù hoạt động kinh doanh có phục vụ nhu cầu nào của khách hàng thì
nhiệm vụ của các nhà kinh doanh là phải tăng thêm giá trị cho sản phầm dịch vụ
của mình sao cho giá trị đầu ra lớn hơn giá trị đầu vào. Cũng chính từ đó làm tăng
Như vậy môi trường kinh doanh ngoài doanh nghiệp là tập hợp các yếu
tố khách quan bên ngoài doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp
1.5. Phân loại môi trường kinh doanh ngoài doanh nghiệp
- Theo phạm vi các yếu tố, môi trường kinh doanh bên ngoài bao gồm:
môi trường quốc tế, môi trường nền kinh tế, môi trường nội bộ ngành hay còn gọi
là môi trường tác nghiệp
- Theo cấp độ của môi trường, người ta chia thành môi trường nền kinh
tế quốc dân (vĩ mô) và môi trường cấp doanh nghiệp (vi mô)
- Theo lĩnh vực ảnh hưởng của môi trường , bao gồm các yếu tố kinh tế,
yếu tố chính trị, yếu tố văn hoá, yếu tố xã hội, kỹ thuật công nghệ, điều kiện tự
nhiên và cơ sở hạ tầng.
Mỗi cách phân loại môi trường kinh doanh ngoài doanh nghiệp lại cho
thấy những khía cạnh khác nhau trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp và
gợi mở những cách tiếp cận khác nhau đến tác động của môi trường ngoài đến hoạt
==========================================================
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, do hạn chế, trong khuôn
khổ chuyên đề tốt nghiệp này chỉ tiếp cận đến tác động của môi trường kinh doanh
ngoài doanh nghiệp theo cách phân loại dựa trên phạm vi các yếu tố.
1.6. Đặc điểm của môi trường kinh doanh ngoài doanh nghiệp
Môi trường kinh doanh ngoài doanh nghiệp là một hệ thống các yếu tố
luôn biến đổi và sự phân chia chỉ có tính ước lệ tương đối. Ví dụ như quan hệ công
chúng có thể xếp vào các yếu tố của cả vĩ mô và vi mô, có ảnh hưởng cả trực tiếp
và gián tiếp. Ngoài ra khi nền kinh tế bất ổn mối quan hệ giữa doanh nghiệp với
khách hàng cũng hoàn toàn thay đổi, lợi thế trước đây của đối thủ nay cũng có thể
biến thành chính yếu điểm của họ. Vì vậy, việc đánh giá các yếu tố của môi trường
ngoài doanh nghiệp cần cẩn thận và thường xuyên liên tục cũng như có tính dự báo
cao.
Sự hình thành tổ chức kinh tế thế giới và khu vực, tốc độ phát triển kinh
tế thế giới, tình hình giá cả và sự lạm phát đồng tiền mạnh trên thế giới, khủng
hoảng kinh tế và mối quan hệ kinh tế thương mại trên thế giới có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế
giới như tốc độ tăng GDP, nhịp độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu
người/năm của các quốc gia và thế giới biểu hiện mức độ thịnh vượng của nền kinh
tế toàn cầu, từ đó mà ảnh hưởng đến cơ hội phát triển sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Giá cả nguyên vật liệu trên thế giới tăng giảm cũng làm thay đổi
nguồn đầu vào của các doanh nghiệp trong nước, lạm phát đồng tiền mạnh còn gây
ảnh hưởng gián tiếp đến khả năng bán hàng của doanh nghiệp. Khủng hoảng kinh
tế thế giới và khu vực có tính chất dây chuyền đến tất cả các nước, khu vực trên thế
giới.
- Pháp luật thông lệ quốc tế
Luật pháp bao giờ cũng là cơ sở pháp lý để tổ chức và thực hiện hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Hệ thống pháp luật quốc tế và các thông lệ
quốc tế trong hoạt động kinh doanh thường được các đối thủ nước ngoài áp dung
với các doanh nghiệp trong nước bởi đó là một hệ quy chuẩn chung. Nếu không có
==========================================================
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================
hiểu biết thấu đáo cũng như có kinh nghiệm trong việc áp dụng cũng như xác định
các điều khoản luật các doanh nghiệp trong nước rất dễ lâm vào tình trạng bị thua
thiệt nhưng không được bảo vệ, hoặc phạm pháp do không biết luật,... Thời cơ sẽ
chỉ đến với những doanh nghiệp bỏ thời gian và công sức nghiên cứu phân tích các
quy định pháp luật quốc tế, các định chế pháp lý có liên quan ở thị trường mà
doanh nghiệp sẽ hoạt động để chủ động lựa chọn thị trường, chọn đối tác, giao dịch
đảm phán, kí kết thực hiện hợp đồng phù hợp với quy định công ước quốc tế.
- Yếu tố công nghệ quốc tế
Sự tiến bộ của kĩ thuật công nghệ quốc tế nhanh chóng tạo ra nguyên vật
liệu mới, thiết bị máy móc hiện đại góp phần nâng cao năng suất lao động, hạ giá
chẽ giữa người sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng. Doanh nghiệp sẽ phải chịu
trách nhiệm về sản phẩm dịch vụ của mình với khách hàng.
- Yếu tố kinh tế :
Các yếu tố kinh tế có thể kể đến như: tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất
nước ổn định hay suy giảm; mức lạm phát, thất nghiệp, lãi xuất ngân hàng; tiềm
năng kinh tế và sự gia tăng đầu tử của các ngành và của nền kinh tế quốc dân; các
chính sách tiền tệ, tín dụng, tài chính quốc gia; giai đoạn của chu kì kinh tế. Đây là
các yếu tố có ý nghĩ vô cùng quan trọng trong phân tích môi trường kinh doanh vì
nó tác động đến cả cung và cầu về hàng hoá dịch vụ của nền kinh tế quốc dân, ảnh
hưởng trực tiếp đến quyết định hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tham gia
hay không, tăng hay giảm. Nếu tốc độ phát triển kinh tế nhanh, ổn định lạm phát
và lãi suất ngân hàng được kiểm soát, các doanh nghiệp có cơ hội gia tăng đầu tư,
phát triển sản xuất kinh doanh, cán bộ và công nhân viên có thu nhập ổn định sẽ
gia tăng sức mua trên thị trường doanh nghiệp kinh doanh có lợi nhuận và đạt hiệu
quả kinh doanh theo dự tính. Tuy nhiên nếu nền kinh tế quốc dân ở giai đoạn suy
thoái, lạm phát thất nghiệp gia tăng, sức mua giảm sẽ đẩy các doanh nghiệp vào
nguy cơ khủng hoảng phải thu hẹp sản xuất kinh doanh, ngân hàng không thu hồi
được tiền sẽ dẫn đến mất giá đồng tiền ảnh hưởng đến đầu tư của doanh nghiệp.
- Yếu tố kĩ thuật công nghệ
==========================================================
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================
Các yếu tố kĩ thuật công nghệ sẽ quyết định và chi phối kĩ thuật công
nghệ của doanh nghiệp, quyết định sự ra đời sản phẩm mới, hình thành phương
thức kinh doanh, phương thức thoả mãn nhu cầu, ảnh hưởng tới khả năng cạnh
tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tác động đến công nghệ của
doanh nghiệp gồm có trình độ và mức độ hiện đại của cơ sở vật chất kĩ thuật của
nền kinh tế, chiến lược phát triển khoa học công nghệ và nguồn lực để thực hiện
chiến lược. Mức đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển của ngành, khả
năng áp dụng tiến bộ kĩ thuật sử dụng cơ giới hoá trong ngành,…Nếu nền kinh tế
khác, khách hàng chính là đối tượng phục vụ của doanh nghiệp, người đem lại
doanh thu cho doanh nghiệp. Mục tiêu của doanh nghiệp cũng chính là thoả màn
tốt nhất nhu cầu khách hàng nhằm có được sự trung thành cũng như tín nhiệm của
họ. Mỗi doanh nghiệp, vì thế, nếu muốn quyết định kinh doanh ở đâu như thế nào
phải tìm hiểu rõ khách hàng trên các yếu tố như vị trí địa lý, quy mô, mật độ, tuổi
tác, giới tính, thu nhập, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, tôn giáo quốc tịch, lối sống
cá tính. Thái độ tiêu dùng của khách hàng thường xuyên hay không, kỹ tính hay
không, thiện chí mua hàng hay không, mức độ tiêu dùng nhiều hay ít,…Trên cơ sở
đó, tuỳ thuộc đặc điểm mặt hàng kinh doanh, doanh nghiệp phải phân chia được số
lượng khách hàng theo các tiêu chí khác nhau như khối lượng mua nhiều hay ít, vị
trí tương đối với doanh nghiệp gần hay xa, mục đích mua sắm tiêu dùng cuối cùng
hay trung gian, khách hàng là tư nhân hay tập thể. Từ đó, doanh nghiệp có thể
thấy được khả năng mặc cả của khách hàng. Nếu số lượng khách hàng ít hơn tương
đối so với số lượng doanh nghiệp, lượng hàng mua khối lượng lớn họ sẽ có khả
năng đàm phán với doanh nghiệp lớn hơn do có nhiều khả năng lựa chọn hơn cũng
như việc rút lui của họ ảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuận của doanh nghiệp, từ
đó, họ có thể đòi hỏi một mức giá thấp hơn, cũng như đòi hỏi các dịch vụ đi kèm
nhiều hơn,…
- Đối thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh là những doanh nghiệp, nhà cung ứng cung cấp những
mặt hàng tượng tự và có thể thay thế cho sản phẩm của doanh nghiệp trên thị
==========================================================
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================
trường. Đây chính là đối tượng đáng quan tâm nhất của doanh nghiệp trên thị
trường, đòi hỏi doanh nghiệp phải đánh bại hoặc chiếm ưu thế hơn nếu muốn thành
công. Đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp mà mạnh hơn đồng nghĩa với việc thị
trường của doanh nghiệp bị thu hẹp và doanh nghiệp bị mất lợi nhuận. Doanh
nghiệp trong quá trình kinh doanh của mình phải đặc biệt chú ý quan sát các đối
thủ của mình một cách thường xuyên liên tục, trên các khía cạnh như mục đích
- Nhà phân phối, trung gian thương mại
Đây là thành phần bao gồm các cá nhân tổ chức giúp doanh nghiệp trong việc
tuyên truyền quảng cáo phân phối bán hàng cho doanh nghiệp. Đó là những người
tham gia vào mô giới và vận chuyển mô giới, tuyên truyền, quảng cáo, là đại lý
bán hàng cho doanh nghiệp. Lợi ích hay tỷ lệ hoa hồng hợp lý là điều kiện để lôi
kéo sự ủng hộ giúp đỡ doanh nghiệp thực hiện mục tiêu, ngược lại sẽ là nguy cơ
cạnh tranh với doanh nghiệp, gây chậm chễ ách tắc cách khâu trong quá trình lưu
chuyển hàng hoá.
- Đối thủ tiềm ẩn
Đối thủ tiềm ẩn là những doanh nghiệp chưa xuất hiện trong ngành
nhưng trong tương lai lại có thể tham gia và trở thành đối thủ của doanh nghiệp. Sự
tham gia của các doanh nghiệp mới này là do sức hấp dẫn của ngành lớn (thị
trường tiêu thụ lớn và đang tăng trưởng nhanh), rào cản nhập ngành nhỏ dễ tham
gia và dễ rút lui. Rào cản nhập ngành mạnh hay yếu dựa trên các yếu tố như trang
bị kĩ thuật, bí quyết công nghệ, thương hiệu uy tín của các doanh nghiệp đã tham
gia, thị phần còn lại, giá cả cho chi phí ban đầu, cơ sở hạ tầng, nguồn lực đầu
nguồn lực quý hiếm, sự phản kháng của các doanh nghiệp trong ngành
- Sản phầm thay thế
Sản phẩm thay thế là những sản phẩm của những doanh nghiệp hoạt động
trong ngành khác nhưng có tác dụng thoả mãn cùng một nhu cầu khách hàng so
với sản phẩm của ngành. Muốn dự báo được sản phẩm thay thế mới là rất khó vì
nó phụ thuộc vào việc dự báo tiến bộ khoa học công nghệ điều này thường không
thực hiện đối với tầm cỡ một doanh nghiệp, hơn nữa những mối đe doạ này đến từ
==========================================================
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================
xa và không biết được lúc nào đang đến. Tuy nhiên với những doanh nghiệp có
mặt hàng kinh doanh đa dạng, và sản phẩm chứa đựng bí quyết công nghệ hay
công nghệ cao thì áp lực này không phải là lớn.
II. CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP
hướng tới mục tiêu kinh doanh cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, là chương trình
hành động của doanh nghiệp hướng tới một mong muốn về doanh nghiệp trong
tương lai.
Thứ hai, chiến lược là các chính sách, biện pháp cơ bản quan trọng của
doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh như lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng kinh
doanh, phát triển thị trường, chính sách với khách hàng mà chỉ có chủ sở hữu
doanh nghiệp mới có quyền quyết định hay thay đổi
Thứ ba, chiến lược đưa ra trình tự tổng quát hàng động, cách thức tiến
hành và phân bổ các nguồn lực các điều kiện của doanh nghiệp nhằm thực hiện
mục tiêu đề ra.
3. Sự cần thiết và vai trò của chiến lược kinh doanh
3.1. Sự cần thiết phải xác định và thực hiện chiến lược kinh doanh
Thứ nhất, môi trường kinh doanh thay đổi liên tục đòi hỏi theo đó là phải
đổi mới tổ chức quản lý doanh nghiệp cả về nội dung cũng như phương thức. Khoa
học nói chung và khoa học kinh tế nói riêng phát triển rất nhanh chóng và nhiều
thành tựu mới ra đời tạo ra rất nhiều mặt hàng cũng như phương thức kinh doanh
mới. Cơ hội thách thức tử hội nhập kinh tế thế giới đối với doanh nghiệp là rất lớn.
Thứ hai, doanh nghiệp muốn tồn tại phải luôn luôn đổi mới tư duy, tìm
kiếm phương thức sản xuất kinh doanh mới do phải chịu sự cạnh tranh của các
doanh nghiệp khác trong nền kinh tế. Chính vì phải cạnh tranh, doanh nghiệp mới
cần có chiến lược.
Thứ ba, trên thế giới tư tưởng quản trị kinh doanh theo chiến lược đã có
từ lâu và được khẳng định là quy trình tất yếu của quản trị doanh nghiệp.
==========================================================
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================
Thứ tư, theo các công trình nghiên cứu lớn trên thế giới cho thấy các
công ty vận dụng chiến lược thường đạt kết quả kinh doanh tốt hơn trước đó và tốt
hơn các doanh nghiệp cùng loại không vận dụng quản trị chiến lược
3.2. Vai trò của chiến lược kinh doanh
báo dài hạn về môi trường kinh doanh, trong quá trình thực hiện nếu không linh
hoạt sẽ dễ dẫn đến kém hiệu quả và không phù hợp với sự thay đổi của môi trường
nhưng chiến lược cũng yêu cầu doanh nghiệp phải theo đuổi đến cùng. Vì thế
muốn có một chiến lược tốt hiệu quả mang lại thành công trong doanh nghiệp thì
yêu cấu đặt ra là khi xây dựng chiến lược phải có sự phân tích tỉ mỉ kĩ lưỡng do các
cán bộ có kinh nghiệm cũng như hiểu biết về thị trường đảm nhận, khi thực hiện
cần linh hoạt với những biến động bất thường của thị trường nhưng vẫn phải kiên
trì thực hiện tránh xa rời chiến lược vì những lợi ích trước mắt.
4. Các cấp chiến lược trong doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp thông thường có ba cấp chiến lược theo phạm vị
giảm dần. Đó là chiến lược cấp công ty, cấp kinh doanh, cấp phòng ban chức năng
đơn vị cơ sở trực thuộc.
Chiến lược cấp công ty là chiến lược tổng thể đề cập đến những vấn đề
chính quan trọng bao gồm toàn bộ công ty. Trên cơ sở chiến lược chung tổng thể
của công ty, các phòng ban chức năng và các đơn vị trược thuộc công ty xây dựng
chiến lược thuộc cấp mình quản lý.
Bảng 1: Các cấp chiến lược trong doanh nghiệp
Cấp Liên quan đến Trả lời câu hỏi
Công ty –
Corporate strategy
Tổng thể các lĩnh vực kinh
doanh
Cạnh tranh ở đâu
Kinh doanh –
Business strategy
Liên quan đến các lĩnh vực cụ
thể
Cạnh tranh như thế nào, bằng
cách gì
Chức năng –
tranh, vị trí của doanh nghiệp so với doanh nghiệp khác, thị phần thương hiệu. Mục
tiêu này thường có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều so với mục tiêu tài chính do nó
mang lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
5.2. Phân tích chiến lược
Trong nội dung của phân tích chiến lược có hai nội dung chính là phân
tích môi trường ngoài doanh nghiệp và phân tích nội bộ doanh nghiệp.
==========================================================
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================
- Phân tích môi trường ngoài doanh nghiêp
Nội dung chính của phân tích môi trường ngoài doanh nghiệp là phân
tích các yếu tố của môi trường vĩ mô như tăng trưởng, lạm phát, lãi suất, về dân cư,
tự nhiên văn hoá, công nghệ; các yếu tố vi mô của ngành như khách hàng, đối thủ
cạnh tranh, đối thủ tiềm ẩn, …Để phân tích môi trường ngành người ta thường sử
dụng mô hình 5 áp lực cạnh tranh của M.Porter, rồi phân tích nhóm chiến lược và
đưa ra chìa khoá thành công của doanh nghiệp
- Phân tích nội bộ doanh nghiệp
Mục đích chính của việc phân tích nội bộ doanh nghiệp là làm rõ điểm
mạnh cũng như điểm yếu của doanh nghiệp trên cơ sở nguồn lực hữu hình cũng
như vô hình để thấy khả năng của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, lựa chọn những
khả năng khác biệt nhằm hình thành lên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Để
phân tích nội bộ doanh nghiệp người ta sử dụng phương pháp phân tích chuỗi
chiến lược, phân tích tài chính và tổng hợp phân tích chiến lược.
5.3. Lựa chọn chiến lược
Ở cấp công ty, có ba loại chiến lược để các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có
thể lựa chọn trong cạnh tranh là chiến lược chi phí thấp, chiến lược khác biệt hoá,
chiến lược trọng tâm. Mỗi chiến lược có những đặc điểm riêng và phù hợp với
từng loại doanh nghiệp cũng như vị trí hiện tại của doanh nghiệp cũng như có
những yêu cầu đòi hỏi riêng. Vì thế doanh nghiệp cần lựa chọn kĩ lưỡng trước khi
có quyết định cuối cùng lựa chọn chiến lược cho riêng mình.
- tuyển dụng đúng người, số lượng
hợp lý theo sản phẩm, chuyên môn
hoá từng lao đông
- dễ sử dụng không cần hiện đại
nhất để giảm chi phí đào tạo lao
động và bảo dưởng
- rẻ nhất, mua bằng đấu thầu, báo
giá
- vận chuyển bằng phương tiện
phù hợp sao cho rẻ nhất gần nhất
- chuẩn hoá và sử dụng quy mô tối
ưu trong sản xuất
- Gom đơn hàng
- quảng cáo rộng nơi nhiều khách
hàng mục tiêu nhất, phân phối bán
lẻ quy mô rộng
- giảm thời gian bảo hành, sử dụng
sách hướng dẫn
bằng chất lượng, danh tiếng để
bán giá cao
- uy tín, thông tin nhạy bén,
quản lý chất lượng,…
- có uy tín, thông tin nhạy
bén và thực hiện quản lý chất
lượng
- tuyển người tài, lương
theo hiệu quả công việc, đào tạo
toàn diện
- tiên tiến linh hoạt, có thể
tạo nhiều sản phẩm mới
==========================================================
Điểm
mạnh
Tăng trưởng nhanh, đối đầu hiệu
quả cả 5 áp lực cạnh tranh
Cạnh tranh bền vững,dễ bảo đảm
(do bản quyền), ít chịu áp lực
khách hàng, đối thủ, sản phẩm
thay thế
Cạnh tranh trong
điều kiện nguồn
lực hạn chế, đảm
bảo mục tiêu lợi
nhuận
Điểm yếu đầu tư lớn, lợi thế không bền,
nguy cơ cạnh tranh bằng giá
đầu tư rất lớn ở mọi khâu, dễ quá
đắt nhưng không khác biệt rõ rệt,
hoặc quá khác biệt dẫn đến khó
sử dụng,…
dễ mất thị trường
( nhu cầu thay đổi,
tăng nhiều đối thủ)
mục tiêu tăng
trưởng hạn chế
Bảng 2B: Đặc điểm về thị trường và lợi thế cạnh tranh của ba loại chiến
lược kinh doanh trogn doanh nghiệp
Lợi thế cạnh tranh
Chi phí Khác biệt
Phạm vi thị
nghiệp là bao gồm cả môi trường ngành, môi trường nền kinh tế, môi trường quốc
tế vì thế nó cho biết vị trí của doanh nghiệp trên thị trưòng cũng như lĩnh vực kinh
doanh, cho biết những áp lực hiện tại trong môi trường kinh doanh ngoài danh
nghiệp, cho biết xu hướng của môi truờng này trong thời gian tới từ đó giảm thiểu
rủi ro. Có biết vị trí của mình trên thị trường doanh nghiệp mới không lựa chon sai
con đường cũng như khả năng của bản thân, không nhận thấy điểm mạnh của mình
để phát huy và tạo lợi thế cạnh tranh. Đôi khi chỉ cần một lợi thế duy nhất về
nguồn tài chính hoặc về vị trí địa lý doanh nghiệp cũng đã có thể dành thắng lợi
trong sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ khác và phát triển. Phân tích môi
trường kinh doanh cho phép doanh nghiệp nhận diện được điều này. Từ những
nhận định đúng đắn về đối thủ, về đối tượng khách hàng, nhà cung cấp cho đến
những vấn đề về xu hướng phát triển của nền kinh tế, đón bắt những cơ hội mới và
lường trước những rủi ro để phòng trành giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí
nguồn lực mà kinh doanh vẫn hiệu quả. Chiến lược kinh doanh suy cho cùng được
lập ra cũng vì mục đích phát triển doanh nghiệp tạo lợi nhuận cho nhà đầu tư mà
thôi. Chúng ta có thể thấy không có cạnh tranh thì cũng không có chiến lược mà
==========================================================
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================
muốn cạnh tranh doanh nghiệp cần phải “biết mình, biết ta” thì mới đưa ra được
những quyết định con đường đi hợp lý
CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH ĐỂ XÂY DỰNG CHIẾN
LƯỢC PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG BÁN LẺ CỦA TỔNG CÔNG TY
THƯƠNG MẠI HÀ NỘI
I. TỔNG QUAN VỀ TỔNG CÔNG TY THƯƠNG MẠI HÀ NỘI
1. Giới thiệu chung về Tổng công ty thương mại Hà Nội
Tổng công ty thương mại Hà Nội là một doanh nghiệp nhà nước thành
lập năm 2004 trên cơ sở tổ chức lại Công ty Sản xuất Dịch vụ và Xuất nhập khẩu
Nam Hà Nội.
CÁC
ĐƠN VỊ
TRỰC
THUỘC
CÔNG
TY
TNHH
NHÀ
NƯỚC 1
THÀNH
VIÊN
CÔNG
TY CỔ
PHẦN
DO TCT
GIỮ CỔ
PHẦN
CHI
PHỐI
CÔNG
TY
LIÊN
KẾT
CÔNG
TY LIÊN
DOANH
TỔNG CÔNG TY THƯƠNG MẠI HÀ NỘI
CÁC CÔNG TY THÀNH VIÊNVĂN PHÒNG TỔNG CÔNG TY
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================