Tiểu luận triết học: Sự khác nhau căn bản giữa triết học Tây Âu cận đại và triết học cổ điển Đức - Pdf 31

Sự khác nhau căn bản giữa Triết học Tây Âu cận đại và Triết học Đức

CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC
I. Khái niệm triết học
Với tư cách là hệ thống lý luận chung nhất, Triết học ra đời vào khoảng
thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ VI trước công nguyên tại một số trung tâm văn
minh cổ đại như Trung Hoa, Ấn Độ, Hy Lạp. Khi mà:
 Lao động đã phát triển tạo điều kiện và khả năng nghiên cứu, hệ thống
hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận.
 Con người đã có sự phát triển cả về thể lực và trí lực, có một vốn
hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa.
Đã có rất nhiều các định nghĩa khác nhau của các nhà triết học trên thế
giới về triết học. Tuy nhiên, khái quát lại Triết học là hệ thống lý luận chung
nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người
trong thế giới đó.
Đầu thế kỷ XIX, triết học Mác ra đời đã đoạn tuyệt hoàn toàn với quan
niệm triết học là "khoa học của mọi khoa học" và xác định đối tượng nghiên
cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên
lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự
nhiên, xã hội và tư duy. Quan niệm macxit cho rằng: "Triết học là một trong
những hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất
của tồn tại và nhận thức, của thái độ con người đối với thế giới; là khoa học
về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy".
II. Vai trò của triết học trong đời sống xã hội
* Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học
Trong cuộc sống của con người và xã hội loài người, thế giới quan đóng
vai trò đặc biệt quan trọng. Bằng một hệ thống quan niệm về thế giới, con
người tìm cách khám phá những bí mật của giới tự nhiên. Có thể ví thế giới
như một thấu kính, qua đó con người nhìn nhận, xét đoán mọi sự vật, hiện
tượng của thế giới xung quanh và tự xem xét chính mình. Từ đó, xác định thái
Nhóm 4

đang đạt được nhiều thành tựu to lớn làm thay đổi sâu sắc nhiều mặt của đời
sống xã hội thì việc nắm vững thế giới quan và phương pháp luận duy vật
biện chứng càng có ý nghĩa quan trọng.

Nhóm 4

Tiểu luận Triết học


Sự khác nhau căn bản giữa Triết học Tây Âu cận đại và Triết học Đức

III. Phân kỳ lịch sử triết học
Nghiên cứu sự phát triển của triết học, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy
sự phân hóa phát triển giữa hai vùng Đông Tây. Nếu như thời kỳ cổ đại Triết
học phương Đông phát triển mạnh thì các giai đoạn sau triết học phương
Đông chỉ là sự kéo dài của các tư tưởng. Khác hẳn với phương Đông, triết học
phương Tây lại đặc biệt nở rộ từ thời kỳ trung cổ và không ngừng phát triển
trong các thời kỳ sau như thời kỳ phục hung, cận đại…đóng góp rất nhiều cho
sự phát triển của hệ thống lý luận triết học. Một bộ phận không kém phần
quan trong trong triết học phương Tây mà ta không thể không kể đến đó là
triết học các nước Tây Âu thời kỳ cận đại và triết học cổ điển Đức.
Nổi bật trong triết học Tây Âu thời kỳ cận đại (thế kỷ thứ XVII-XVIII)
là sự phát triển của triết học duy vật và cuộc đấu tranh của chủ nghĩa duy vật
với chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo. Đây là thời điểm ra đời của rất nhiều các hệ
thống lý luận về thế giới và về con người, là nền móng vững chắc cho sự phát
triển của triết học.
Mặc dù Đức là một nước Tây Âu nhưng sự phát triển của triết học tại
đây lại tạo nên một sắc thái mới trong sự phát triển của triết học Tây Âu khi
phát triển theo lập trường duy tâm. Đỉnh cao là triết học Hêghen, tư tưởng
xem triết học như là một hệ thống phổ biến của tri thức khoa học, mà trong đó

Về xã hội, giai cấp tư sản mới ra đời còn non yếu mọi mặt. Quần chúng
lao động bất bình với chế độ đương thời. Trong khi đó ở Tây Âu, chủ nghĩa tư
bản đã hình thành ở nhiều nước, đã đem lại một nền sản xuất phát triển mở
đầu cho nền văn minh công nghiệp, khẳng định tính chất ưu việt của chủ
nghĩa tư bản so với chế độ phong kiến.
Sự lạc hậu của nước Đức, sự phát triển của các nước Tây Âu về kinh tế xã hội, sự phát triển của khoa học đã thức tỉnh sự phản kháng của giai cấp tư

Nhóm 4

Tiểu luận Triết học


Sự khác nhau căn bản giữa Triết học Tây Âu cận đại và Triết học Đức

sản Đức và đòi hỏi giai cấp tư sản Đức phải có cách nhìn mới về tự nhiên, xã
hội và về con người. Giai cấp tư sản Đức muốn làm cách mạng tư sản như các
nước Tây Âu, muốn xây dựng nền triết học theo yêu cầu mới, song do mới ra
đời còn yếu kém về số lượng, kinh tế và chính trị nên họ giữ lập trường cải
lương trong việc giải quyết những vấn đề của đất nước.
II. Sự khác nhau căn bản về nội dung giữa triết học Tây Âu cận đại
và triết học cổ điển Đức
Chính sự khác nhau về điều kiện kinh tế - xã hội đã làm cho triết học
Tây Âu cận đại và triết học cổ điển Đức có sự khác nhau rõ rệt. Điều này
được thể hiện cụ thể như sau:
1. Tư tưởng về nguồn gốc thế giới
Triết học Tây Âu thế kỷ XVII - XVIII gắn liền với những thành tựu của
khoa học tự nhiên. Các yếu tố của vũ trụ được xem xét một cách siêu hình.
Mọi hiện tượng tự nhiên được giải thích bằng sự tác động qua lại của lực hấp
dẫn và lực đẩy giữa các phần tử vật thể. Các phần tử vật thể luôn bất biến, các
thay đổi chỉ là trạng thái không gian và tập hợp của chúng. Mọi sự phân biệt

tổng hợp các hạt, coi tự nhiên là tổng hợp những vật thể các chất lượng khác
nhau. Vật chất có nhiều tính chất nên vận động có tính đa dạng, dạng cơ bản
là vận động cơ học. TômátHốpxơ (1588-1679) thừa nhận thế giới vật chất tồn
tại khách quan không do thần thánh tạo ra, không phụ thuộc vào ý thức. Thế
giới vật chất, theo ông là thế giới của những vật riêng lẻ, mọi sự vật đều được
quy về quan hệ số lượng cơ học, toán học. Đến thế kỷ XVIII, các nhà duy vật
Pháp đã có công phát triển triết học duy vật, vô thần lên một bước mới. Họ
thừa nhận vật chất, giới tự nhiên có trước, vĩnh cửu và vô tận, không ai sáng
tạo ra và không ai có thể tiêu diệt. Vận động gắn liền với vật chất và nhờ vận
động và giới tự nhiên luôn chuyển động từ trạng thái này sang trạng thái khác.
Tuy nhiên theo họ vận động chỉ là sự chuyển dịch vị trí của các vât thể trong
không gian. Điđrô (1713 – 1784) cho rằng trong quá trình vận động và phát
triển vật chất, giới tự nhiên sẽ chọn lọc những gì giúp cho nó ngày càng hoàn
thiện, đồng thời đào thải những gì khó thích nghi. Đây là quan điểm rất tiến
bộ và đến ngày nay nó vẫn còn đúng trong cuộc sống của chúng ta.

Nhóm 4

Tiểu luận Triết học


Sự khác nhau căn bản giữa Triết học Tây Âu cận đại và Triết học Đức

2. Tư tưởng nhận thức
Triết học Tây Âu cận đại ra đời trong điều kiện khoa học tự nhiên được
tách ra khỏi triết học và phát triển. Nhưng vấn đề cần là làm sao tìm cho được
phương pháp khoa học chung của nhận thức và phải khái quát, hệ thống hóa
các khoa học đã tách ra. Điều đó dẫn đến nhiệm vụ trọng tâm của Triết học
cận đại là lý luận nhận thức, là tìm ra phương pháp của Tri thức chân lý cho
tất cả các khoa học.

chất mâu thuẫn…
Triết học, theo Hêghen là sự xem xét đối tượng một cách có suy nghĩ.
Đối tượng của triết học theo ông là trùng với đối tượng của Tôn giáo đó là
khách thể tuyệt đối vô hạn Thượng đế. Thành tựu quan trọng của triết học
Hêghen là phương pháp biện chứng mà hạt nhân hợp lý của nó là tư tưởng về
sự phát triển. Mặc dù ông đã có công nêu ra các phạm trù và quy luật cơ bản
của phép biện chứng nhưng là phép biện chứng duy tâm.

Nhóm 4

Tiểu luận Triết học


Sự khác nhau căn bản giữa Triết học Tây Âu cận đại và Triết học Đức

3. Tư tưởng con người
Triết học Tây Âu cận đại tiếp tục phát triển tư tưởng nhân đạo của những
thế kỷ phục hưng: Khi khuynh hướng lý tính được coi là cơ sở để cải tạo cuộc
sống hiện tại, các nhà triết học khai sáng liên kết lại, lấy việc truyền bá trí
thức tốt đẹp một cách rộng rãi cho mọi người làm nhiệm vụ của chính mình.
Trong thời kì này các nhà triết học đấu tranh vì thắng lợi của “ vương
quốc trí tuệ” trên cơ sở tự do chính trị, bình quyền. Họ coi “ ánh sáng tự nhiên của
trí tuệ” là phương pháp cơ bản và độc lập với cuồng tín tôn giáo để nhận thức
thế giới, để hoàn thiện xã hội và đời sống xã hội. Trong khái niệm “lý trí” bao
gồm cả nội dung nhân đạo, họ coi đấu tranh vì những quyền lợi mà thiên
nhiên ban tặng cho mình là “con người tự nhiên”.
Mặt khác họ cũng cho rằng bản tính của con người vốn không ác. Sở dĩ xã
hội có cái ác là do sự khiếm khuyết của các quan hệ xã hội và nền giáo dục
không đứng đắn. Con người được giáo dục đứng đắn tức là sự khai sáng. Con
người được giáo dục đứng đắn sẽ trở thành “kẻ ích kỷ sáng suốt với nguyên tắc

của một thời đại lịch sử nhất định của nền văn minh do chính mình tạo ra.
Triết học cổ điển Đức nghiên cứu lịch sử nhân loại, nghiên cứu quan hệ của
con người với tự nhiên theo quan niệm biện chứng.
4. Tư tưởng về đạo đức
Đạo đức học thời Tây Âu cận đại thế kỉ XVII - XVIII được phát triển
dường như quay trở về tư tưởng đạo đức học Hy Lạp cổ đại. Nó làm sống lại
tư tưởng đạo đức Êpiquya, diễn giải đạo đức như là hiện tượng của chủ quan
cá nhân, đồng thời như là một quan hệ khách quan hiện thực. Các nhà đạo
đức học thời cận đại có tham vọng xây dựng một mô hình tư tưởng nhằm liên
hợp và hệ thống lại những nhân tố đạo đức được nghiên cứu trong thời cổ đại
và trung cổ.
Ví dụ: Môngtenhơ (1533-1592) đã chống lại nguyên tắc đạo đức tôn
giáo; kiên trì những nguyên tắc đạo đức của Êpiquya: Ông cho rằng trong đức
hạnh của con người sự khoan khoái là mục đích và sự khoan khoái tinh thần
là điểm trung tâm của đạo đức học. Tômát Hốpxơ (1588 – 1679) cho rằng chủ
nghĩa ích kỷ và đấu tranh giữa người với người là những đặc điểm phổ biến
của bản chất con người. Những xu hướng ích kỷ của người này chống lại
những xu hướng ích kỷ của người khác tạo ra cuộc chiến tranh của mọi người
chống mọi người. Do đó, con người cần chuyển từ trạng thái tự nhiên sang
trạng thái xã hội hay trạng thái nhà nước. Vì vậy, ông đã gắn liền đạo đức học
Nhóm 4

Tiểu luận Triết học


Sự khác nhau căn bản giữa Triết học Tây Âu cận đại và Triết học Đức

với đạo đức về nhà nước và pháp quyền. Từ đó ông rút ra những nguyên tắc
đạo đức học…
Vào thời khai sáng, tư tưởng đạo đức có bước phát triển mới. Các nhà

nước quân chủ Phổ.

Nhóm 4

Tiểu luận Triết học


Sự khác nhau căn bản giữa Triết học Tây Âu cận đại và Triết học Đức



Phoiơbắc: Ông đã phê phán tư tưởng đạo đức của Cantơ, Hêghen và

khắc phục lại tư tưởng nhất nguyên duy vật thế giới và con người. Đạo đức
học của ông trở về với luận đề cho rằng, tìm thấy đạo đức từ bản chất con
người, nhiệm vụ của đạo đức là phải khám phá ra con đường đi tới xác định
được sự hài hòa giữa nghĩa vụ và hạnh phúc, hài hòa các lợi ích con người
nhưng cái sai lầm của ông là đã quy mọi quan hệ của con người vào quan hệ
đạo đức, ông lấy sự yêu thương lẫn nhau giữa mọi người và nguyện vọng tự
nhiên của con người muốn có hạnh phúc là nguyên tắc cơ bản.

Nhóm 4

Tiểu luận Triết học


Sự khác nhau căn bản giữa Triết học Tây Âu cận đại và Triết học Đức

CHƯƠNG III. KẾT LUẬN
Khi nghiên cứu Triết học Tây Âu thời cận đại ta thấy rằng nổi bật


Tiểu luận Triết học




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status