Tiểu luận khoa học chính trị:“Khả năng vận dụng mô hình công ty mẹ - công ty con trong nền kinh tế Việt Nam” - Pdf 19



Tiểu luận kinh tế chính trị

Đề tài: “Khả năng vận dụng mô hình công ty mẹ -
công ty con trong nền kinh tế Việt Nam”
1

MỞ ĐẦU Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang là thách thức lớn đối với Việt
Nam trên con đường đổi mới. Để đối đầu với những thách thức đó,Việt Nam
đang nỗ lực tiếp thu và tăng cường đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh, đáp ứng sự đòi hỏi của quy luật tích tụ và tập trung sản xuất Do
vậy, việc tập trung nguồn lực và quản lý nguồn lực một cách có hiệu quả luôn
là một nhu cầu cấp thiết đặc biệt là vốn. Một trong những giải pháp được đề
cập đến là áp dụng thí điểm mô hình công ty mẹ - công ty con mà trước hết là
giải quyết tốt mối quan hệ giữa tổng công ty với các doanh nghiệp thành viên

CTM-CTC là cách gọi của chúng ta, chuyển ngữ từ tiếng Anh “Holding
company” và “Subsidiaries company” sang tiếng Việt. Holding company là
công ty nắm vốn, Subsidiaries company là công ty nhận vốn. Từ “mẹ-con” là
cách gọi suy diễn, có thể gây hiểu lầm, nếu không đi sâu vào nội dung của từ.
Thực chất CTM là một nhà tài phiệt, quan hệ mẹ - con giữa CTM và CTC là
sự chi phối của nhà tài phiệt vào hoạt động sản xuất kinh doanh của CTC nhờ
có vốn của nhà tài phiệt tại các CTC đó. Nhà tài phiệt này khác các cổ đông
thông thường ở chỗ, do có nhiều vốn nên có thể cùng lúc là cổ đông của nhiều
công ty. Vì là cổ đông của nhiều công ty, hơn thế nữa, là cổ đông chi phối hoặc
đặc biệt đối với hoạt động của các CTC. CTM có thể là một công ty hoạt động
tài chính thuần tuý (chuyên dùng vốn để mua cổ phần tại các CTC), cũng có
thể là một công ty vừa hoạt động tài chính, vừa trực tiếp sản xuất-kinh doanh.

2. ƯU ĐIỂM CỦA MÔ HÌNH
Thu hút được nhiều vốn từ xã hội mà vẫn bảo đảm được
quyền quyết định trong CTM cũng như kiểm soát, khống chế hoạt động của
các CTC.
Do có khả năng tập trung vốn lớn tạo điều kiện để đáp ứng
nhanh thị trường trong nước cũng như quốc tế, tạo cơ hội cạnh tranh với các
tập đoàn kinh tế trong khu vực và thế giới.
Khả năng tác động toàn diện của CTM vào các CTC do
cùng lúc có vốn tại nhiều CTC nên có tầm nhìn bao quát toàn ngành, toàn thị
trường, biết chỗ yếu, chỗ mạnh của nhiều công ty để có hành vi tác động chính
xác tại mỗi CTC cụ thể.

3. NHƯỢC ĐIỂM

Do tập trung vốn và nguồn lực lớn nên dễ dẫn tới tình
trạng độc quyền kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Các CTM nắm giữ
3

kinh tế-xã hội. Bên cạnh những mặt đạt được, các doanh nghiệp này cũng đã
bộc lộ một số khuyết điểm.
Qua quá trình hoạt động, hầu hết các TCT đã bộc lộ một số
mặt yếu kém cả về tổ chức và cơ chế tài chính.
+ Hầu hết việc thành lập các TCT đều trên cơ sở tập hợp
các DNNN theo nghị định 388/HĐBT (1991), với các quyết định hành chính
4

theo kiểu gom đầu mối, liên kết ngang. Vì vậy, nhiều TCT lúng túng trong điều
hành và gặp không ít khó khăn, cha trở thành một thể thống nhất, cha phát huy
được sức mạnh tổng hợp. Nội bộ các TCT cha thể hiện rõ các mối quan hệ về
tài chính, vốn, khoa học công nghệ, thị trường nên cha gắn kết được các đơn
vị thành viên, một số muốn tách khỏi TCT.
+ Cơ chế chính sách hiện nay còn thiếu đồng bộ, chồng
chéo, cha có quy định rõ về quản lý nhà nước đối với TCT. Cơ chế tài chính
cha tạo điều kiện để sử dụng tối đa các nguồn vốn, nên các TCT rất thiếu vốn
hoạt động sản xuất kinh doanh, chậm đổi mới công nghệ, sản phẩm kém khả
năng cạnh tranh, hạn chế khả năng liên kết, liên doanh để mở rộng quy mô sản
xuất.
Thực trạng hoạt động của mô hình TCT những năm qua
cho thấy : Cùng với qúa trình đổi mới các DNNN, cần thiết phải đổi mới và
chấn chỉnh lại tổ chức, cơ chế hoạt động của các TCT với mục tiêu đa các
doanh nghiệp này trở thành đầu tầu cho sự phát triển, là nòng cốt và động lực
cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá của đất nước, tiên phong trong
đổi mới công nghệ và nâng cao chất lợng, hiệu quả hoạt động để cạnh tranh tốt
với các tập đoàn lớn của nước ngoài không chỉ tại Việt Nam, mà còn trên thị
trường quốc tế. Một trong những giải pháp đợc đề cập đến là giải quyết tốt mối
quan hệ giữa TCT với các doanh nghiệp thành viên thông qua mô hình CTM-
CTC.


3. Lợi ích của việc chuyển TCT, DNNN sang mô hình
CTM- CTC

Việc chuyển các TCT và DNNN sang mô hình CTM-CTC
có tác dụng và lợi ích sau đây:
+ Các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá vẫn có thể nằm
trong vòng kiểm soát, điều tiết trực tiếp của nhà nước qua bàn tay CTM, điều
mà TCT 90-91 không làm được khi các DNNN chuyển đổi sở hữu, không còn
là của nhà nước 100% như cũ, CTM với danh nghĩa là cổ đông sẽ can thiệp
vào CTC. Những TCT bằng quan hệ hành chính không thể can thiệp vào các
CTC đợc khi các CTC này không còn là các DNNN nữa.
+Với chức trách thẩm quyền quản lý vốn nhà nước theo
kiểu công ty thực sự, các CTM sẽ chủ động tích cực xử lý các DNNN được
giao quản lý từ đó, quá trình cổ phần hoá DNNN sẽ nhanh chóng hơn. Cổ phần
hoá DNNN hiện nay chậm là do nhiều nguyên nhân, trong đó có hai nguyên
nhân liên quan đến mô hình quản lý nói trên: sự không mong muốn của chính
những nhà quản lý trực tiếp DNNN và sự thờ ơ của các TCT 90-91. Một bên
thì bị mất quyền lợi do cổ phần hoá, một bên thì chẳng đợc gì, thậm chí cũng bị
mất quyền lợi ở mức độ nhất định. Nhng khi chuyển thành CTM, Nhà nước sẽ
6

giao vốn của tất cả các DNNN thành viên, trao quyền và trách nhiệm sinh lợi
số vốn này cho CTM. Các DNNN sẽ trở thành đối tợng định đoạt của CTM.
Các CTM sẽ phải tìm mọi biện pháp để thực hiện nghĩa vụ bảo toàn và sinh lợi
vốn trước Nhà nớc. Cơ chế quản lý nhà nước đối với CTM cũng sẽ là cơ chế
tự hạch toán. Với quyền hành mới, vì trách nhiệm và lợi ích của chính mình,
các CTM sẽ không thờ ơ trước tình trạng yếu kém của nhiều doanh nghiệp
thành viên. Họ sẽ cổ phần hoá các DNNN này, biến chúng thành CTC. Với
những DNNN không thể hoặc cha thể cổ phần hoá, CTM sẽ biến chúng thành
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. CTM là chủ sở hữu trực tiếp các

 Công ty con nhà nước là công ty con do một công ty
mẹ nhà nước nắm giữ toàn bộ vốn điều lệ, hoạt động theo nghị định này và các
quy định của pháp luật.
 Công ty liên kết là công ty mà công ty mẹ có vốn góp
những không có quyền chi phối.
 Công ty con ở nước ngoài là công ty con đăng ký hoạt
động theo luật của nước ngoài do một công ty mẹ đăng ký ở Việt Nam đầu tư
và nắm giữ toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối tại công ty
đó.
* Quyền chi phối của một công ty với công ty khác
là quyền quyết định của một công ty này đối với nhân sự chủ chốt, tổ chức
quản lý, thị trường và các quyết định quản lý quan trọng của công ty khác do
mình nắm giữ toàn bộ số vốn điều lệ hoặc sử dụng quyền biểu quyết của mình
với tư cách là một cổ đông, bàn giao vốn hoặc sử dụng bí quyết công nghệ tác
động đến việc thông qua hoặc không thông qua các quyết định quan trọng của
công ty mà mình có cổ phần, vốn góp.
 Cổ phần chi phối là cổ phần chiếm trên 50% vốn điều
lệ hoặc ở mức mà theo quy định pháp luật và điều lệ của công ty đủ để chi phối
các quyết định quan trọng của công ty đó.
 Vốn góp chi phối là phần vốn góp chiếm trên 50% vốn
điều lệ hay là mức mà theo quy định pháp luật và điều lệ của công ty đủ để chi
phối các quyết định quan trọng của công ty đó.

1.1.2_ Công ty mẹ nhà nước
 Công ty mẹ nhà nước được áp dụng đối với TCT,
DNNN chuyển đổi theo nghị định này sang mô hình CTM-CTC thuộc lĩnh vực,
ngành nghề mà nhà nước nắm giữ 100% vốn.
 CTM nhà nước trực tiếp thực hiện các hoạt động sản
xuất kinh doanh và có vốn đầu tư ở các CTC, công ty liên kết dưới hình thức
góp vốn cổ phần hoặc vốn góp liên doanh.

Ngoài vốn đầu tư ở các CTC, CTM nhà nước có thể có vốn
cổ phần, vốn liên doanh và vốn góp khác ở các công ty liên kết.
 CTC có tư cách pháp nhân, có tài sản tên gọi, bộ máy
quản lý riêng, tự chịu trách nhiệm dân sự trong phạm vi số tài sản của doanh
nghiệp.
+ CTC tổ chức và hoạt động theo các quy định pháp luật
tương ứng với hình thức pháp lý của CTC;
9

+ CTC nhà nước tổ chức, hoạt động thực hiện
các quyền, nghĩa vụ theo quy định của nghị định và các quy định khác của
pháp luật .
+ CTC là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do
CTM nhà nước là chủ sở hữu, thực hiện các quyền, nghĩa vụ, tổ chức quản lý
theo luật doanh nghiệp, Nghị định 63/2001/ND-CP ngày 14/9/2001 và quy
định khác của pháp luật;
+ CTC là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
từ hai thành viên trở lên do CTM nhà nước có cổ phần hoặc góp vốn chi phối,
thực hiện các quyền, nghĩa vụ, tổ chức quản lý theo luật doanh nghiệp và các
quy định khác của pháp luật;
+ CTC là công ty liên doanh với nước ngoài, do CTM
nắm giữ tỷ lệ vốn góp chi phối, thực hiện các quyền, nghĩa vụ, tổ chức quản lý
theo luật đầu tư nước ngoài và các quy dịnh khác của pháp luật Việt Nam về
đầu tư ra nước ngoài.

1.2. Cơ chế hoạt động của mô hình CTM-CTC ở nước ta
1.2.1. Vai trò chức năng của CTM

 CTM điều tiết CTC về các hoạt động sản xuất kinh
doanh sao cho phù hợp với đường lối chủ trương của Đảng, pháp luật, kế

công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công
ty mẹ trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của chủ sở hữu phân
cấp cho các cơ quan Nhà nước thực hiện, chịu trách nhiệm trước người quyết
định thành lập CTM, về định hướng và mục tiêu chủ sở hữu Nhà nớc giao.
Hội đồng quản trị CTM có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
 Nhận, quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn, đất đai, tài
nguyên và nguồn lực khác do chủ sở hữu Nhà nước đầu tư cho CTM.
 Quyết định các vấn đề sau:
+ Quyết định chiến lược phát triển, kế hoạch dài hạn của
CTM và các CTC do CTM nắm giữ toàn bộ vốn điều lệ
+ Quyết định hoặc phân cấp cho giám đốc quyết định: các
dự án đầu tư, góp vốn, mua cổ phần của các công ty khác, bán tài sản của công
ty có giá dưới 50% giá trị vốn điều lệ
+ Phương án tổ chức quản lý, tổ chức kinh doanh, biên chế
bộ máy quản lý, quy chế quản lý công ty, quy hoạch, đào tạo lao động
+ Lựa chọn ký hợp đồng hoặc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách
chức và quyết định mức lương đối với Tổng giám đốc CTM sau khi được sứ
chấp thuận của người thành lập, chuyển đổi thành công ty
11

+ Thực hiện quyền hạn, nghĩa vụ của chủ sở hữu các công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mà công ty là chủ sở hữu.
+ Đầu tư và điều chỉnh đối với vốn và các nguồn lực do mình
đầu tư giữa các CTC theo điều lệ của CTC
+ Quyết định phương án huy động vốn để hoạt động kinh
doanh nhưng không làm thay đổi hình thức sở hữu
+ Thông qua báo cáo tài chính hàng năm của công ty,
phương án sử dụng lợi nhuận sau thuế hoặc xử lý các khoản lỗ trong quá trình
kinh doanh do Tổng giám đốc đề nghị, thông qua báo cáo tài chính hàng năm
của CTC Nhà nước, thực hiện việc công bố công khai các báo cáo tai chính

thuận của người quyết định chuyển đổi, tổ chức CTM-CTC.
+ Tổng giám đốc là người điều hành hoạt động hàng ngày
của công ty; trường hợp điều lệ công ty không quy định Chủ tịch Hội đồng
quản trị là người đại diện theo pháp luật thì tổng giám đốc là người đại diện
theo pháp luật của công ty, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước
pháp luật về thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao.
+ Phó tổng giám đốc giúp tổng giám đốc điều hành công
ty theo phân công và uỷ quyền của tổng giám đốc, chịu trách nhiệm trước tổng
giám đốc về nhiệm vụ được tổng giám đốc phân công hoặc uỷ quyền.
+ Văn phòng và các ban (hoặc phòng) chuyên môn,
nghiệp vụ có chức năng tham mưu, giúp việc Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc
trong điều hành quản lý công việc.

Quan hệ giữa Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc trong quản
lý, điều hành công ty

+ Khi tổ chức thực hiện các nghị quyết, quyết định của
Hội đồng quản trị, nếu phát hiện vấn đề không có lợi cho công ty thì Tổng
giám đốc báo cáo với Hội đồng quản trị để điều chỉnh lại nghị quyết, quyết
định. Tổng giám đốc vẫn phải thực hiện nhưng có quyền bảo luư ý kiến và kiến
nghị lên cấp trên.
+ Sau mỗi tháng, quý và năm, trong thời hạn 15 ngày, Tổng
giám đốc phải gửi báo cáo bằng văn bản về tình hình hoạt động kinh doanh và
phương hướng thực hiện trong kỳ tới của công ty cho Hội đồng quản trị.
+ Chủ tịch Hội đồng quản trị có quyền trực tiếp tham dự
hoặc cử đại diện của Hội đồng quản chị tham dự các cuộc họp giao ban, các
cuộc họp chuẩn bị các đề án trình Hội đồng quản trị do Tổng giám đốc chủ trì
để phối hợp chuẩn bị nội dung. Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc người đại diện
Hội đồng quản trị dự họp có quyền phát biểu đóng góp ý kiến nhưng không có
quyền kết luận cuộc họp.

 CTM là công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên
trong nước trở lên có vốn góp chi phối của Nhà nước hoặc không chi phối của
Nhà nước.
 CTM là công ty cổ phần có cổ phần chi phối hoặc
không chi phối của Nhà nước.
CTM đợc tổ chức và hoạt động theo các quy định pháp luật
tương ứng với hình thức pháp lý của công ty.
14 2.2_ Phương thức tổ chức lại TCT, DNNN thành CTM
Nhà nước

Sau khi có Luật, các TCT 90-91 hiện hành sẽ đợc tổ chức
chuyển sang mô hình CTM- CTC theo từng phương án cụ thể, giống như
phương án cổ phần hoá từng DNNN. Trong số 17 TCT 91 và 77 TCT 90, có
thể có một số TCT không chuyển được hoặc không chuyển được ngay sang mô
hình CTM-CTC. Chúng tạm thời tồn tại dưới hình thức cũ, khi nào có điều
kiện thì chuyển.
Các DNNN (thành viên của các TCT) sẽ đợc chuyển thành
các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần băng con đường cổ phần
hoá. Những DNNN không cổ phần hoá được sẽ chuyển thành công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên.
Các TCT 90-91 sẽ chuyển thành cổ đông của các công ty
cổ phần trong quá trình cổ phần hoá DNNN, thành viên các công ty trách
nhiệm hữu hạn và chủ thể của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Cụ
thể như sau:

a. Tuỳ tính chất, ngành nghề kinh doanh, mối quan hệ về
công nghệ, đầu tư và có tính chất phụ thuộc lẫn nhau giữa các đơn vị thành

chuyển thành CTC.
Trường hợp viện nghiên cứu thuộc TCT thường xuyên áp
dụng kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ để sản xuất, kinh doanh, có
vốn góp ở doanh nghiệp do viện ứng dụng kết quả nghiên cứu, nếu đáp ứng đủ
các điều kiện về CTM, có thể tách khỏi TCT thành CTM độc lập.

2.3_ Nguyên tắc xử lý vốn, tài sản, tài chính và lao
động khi chuyển đổi

Tất cả tài sản của TCT, DNNN khi chuyển đổi đều được tính
bằng giá trị.

Tài sản hiện có thuộc quyền quản lý, sử dụng của TCT,
DNNN được kiểm kê, phân loại xác định số lượng, thực trạng để chuyển giao
sang hình thức CTM-CTC.

Tài sản thuê, mượn, nhận giữ hộ, nhận ký gửi; công ty mới
tiếp tục thuê, mượn, giữ hộ, nhận ký gửi theo thoả thuận với người có tài sản
cho thuê, cho mượn, ký gửi. 16

Tài sản không có nhu cầu sử dụng, tài sản ứ đọng chờ thanh
lý; TCT, DNNN được nhượng bán, thanh lý theo quy định hiện hành.

Nguyên tắc xử lý tài chính và công nợ:
+ Đối với tài sản đôi thừa: được hạch toán tăng vốn của chủ
sở hữu tại CTM và CTC.
+ Đối với tài sản hao hụt, mất mát và tổn thất khác về tài

_ Vốn Nhà nước được hạch toán tập trung ở TCT, ở các
công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên, công ty
liên doanh với nước ngoài.
_ Vốn Nhà nước ở doanh nghiệp thành viên hạch toán độc
lập.
_ Vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên do TCT là đại diện chủ sở hữu.
_ Vốn Nhà nước đầu tư bổ sung khi chuyển đổi TCT thành
CTM Nhà nước (nếu có).
_ Phần lợi nhuận sau thuế được tái đầu tư và trích bổ sung
vào vốn điều lệ.
+ Vốn điều lệ của CTC Nhà nước là toàn bộ vốn Nhà nước
ở doanh nghiệp thành viên tại thời điểm chuyển đổi sau khi đã xử lý, bao gồm:
_ Vốn Nhà nước tại công ty trư
ớc chuyển đổi, gồm:
 Vốn Nhà nước do TCT giao
 Vốn do Nhà nước cấp trực tiếp không thông qua
TCT
 Vốn tự tích luỹ ở doanh nghiệp thành viên TCT
_ Vốn do Nhà nước, CTM đầu tư bổ sung khi chuyển đổi
doanh nghiệp thành CTC Nhà nước (nếu có)
_ Vốn của CTC đầu tư vào các doanh nghiệp khác
_ Phần lợi nhuận sau thuế được tái đầu tư và trích bổ sung
vào vốn điều lệ
+ Khi tăng hoặc giảm vốn điều lệ, CTM và CTC phải điều
chỉnh kịp thời trong bảng cân đối tài sản, đăng ký với cơ quan kinh doanh.
3. Những bước đầu thí điểm mô hình CTM-CTC ở
nước ta

3.1_ Một số mô hình CTM-CTC ở nước ta

động theo mô hình CTM-CTC thực hiện chuyển đổi phương thức Nhà nước
giao vốn sang đầu tư vốn và trên cơ sở sắp xếp lại tổ chức và hoạt động của
XNLH Thuốc lá Khánh Hoà và các đơn vị thuộc phạm vi quản lý của xí nghiệp
theo uỷ quyền của UBND tỉnh Khánh Hoà Tổng công ty cổ phần nhận CTM là
DNNN 100% vốn nhà nước và có các CTC thuộc loại nhiều loại hình doanh
nghiệp 100% vốn nhà nước hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước công
ty TNHH một thành viên (100%vốn nhà nước) hoặc nhiều thành viên, trong đó
CTM tham gia đóng góp trên 50% vốn điều lệ, hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp công ty cổ phần mà CTM nắm giữ cổ phần chi phối, được hình thành từ
việc cổ phần hoá DNNN, bộ phận DNNN hoặc CTM góp vốn thành lập, hoạt
động của Luật Doanh nghiệp.
Sự ra đời của Tổng công ty cho thấy mô hình quản lý và
hoạt động của Khatoco là phù hợp với xu thế phát triển kinh tế mà đến nay đã
19

được công nhận về mặt pháp lý. Điều đó đánh dấu một bước trưởng thành về
công tác quản lý kinh tế của doanh nghiệp hướng tới sự phát trển bền vững
trong nền kinh tế thị trờng định hướng XHCN, trên cở sở phát huy tính năng
động, sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng
giữa các doanh nghiệp.

3.2_ Một số điều rút ra từ các thí điểm mô hình CTM-CTC ở
nước ta hiện nay

Mô hình tổ chức CTM-CTC của CONSTREXIM và
Khánh Việt tuy mới được áp dụng thí điểm, song nhìn tổng thể mô hình này có
nhiều điểm tiến bộ so với các mô hình DNNN khác, đặc biệt khác về bản chất
với mô hình TCT.
Trước hết, đây là mô hình cho phép kết hợp một cách hài
hoà các loại hình sở hữu trong phạm vi một doanh nghiệp. Dựa trên quan hệ tài

Theo ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, việc
triển khai thí điểm mô hình có thể kéo dài hết năm 2003.
Để có thể triển khai mô hình này một cách có hiệu quả,
trước hết cần phải nhìn rõ hạn chế của TCT thật chính xác và ở chỗ nào, từ đó
mới có phương án phù hợp thực tiễn, đổi mới và nhất là đạt được mục đích “
xã hội hoá quyền sở hữu tài sản trong doanh nghiệp giữa các bên ”. Để mô
hình này thí điểm thành công trên mức độ nào đó, việc trước tiên phải có sự chỉ
đạo tập trung, có quyền lực để tiến hành cổ phần hoá mạnh hơn, đánh giá vốn,
tài sản chính xác, nợ nần được ưu tiên xử lý giải quyết, bổ nhiệm cán bộ hay
thuê giám đốc. Ngoài ra cũng cần chú ý là một doanh nghiệp có quy mô lớn
không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với doanh nghiệp mạnh. Vì vậy, cần loại
bỏ cách tư duy một chiều cứ có CTM-CTC là mạnh. Sẽ chỉ có được CTM-
CTC mạnh nếu tạo ra được các điều kiện cần thiết về khả năng quản trị và
nhân cách của đội ngũ các nhà quản trị. Ngược lại, nếu năng lực và trình độ
quản trị, điều hành, trình độ công nghệ - kỹ thuật không tương xứng với quy
mô, có thể sẽ không dẫn đến các lợi thế mà chỉ dẫn đến tác động tiêu cực đối
với hiệu quả hoạt động.

KẾT LUẬN Mô hình CTM - CTC là một trong những loại hình được
áp dụng ngày càng rộng rãi trên thế giới và đó cũng là công cụ để hình thành
nên các công ty xuyên quốc gia. Nguyên nhân thực sự, quan trọng nhất của nó
chính là sự bành trướng, mở rộng của các công ty lớn và yêu cầu chia sẻ, hạn
chế rủi ro trong kinh doanh, đồng thời cho phép thu hút được nhiều vốn từ xã
hội mà vẫn đảm bảo đợc quyền quyết định trong CTM cũng nh sự kiểm soát,
21

khống chế với CTC. Nhiều tập đoàn đã hình thành một công ty tài chính để

chuyển đổi tổng công ty, doanh nghiệp nhà nớc theo mô hình công ty mẹ -
công ty con ”
Kinh tế và Dự báo Số 4/2001 ; Số 9/2002 ; Số 12/2002
Nhà nớc và Pháp luật Số 12/2002
22

Tài chính doanh nghiệp tháng 8/2002
Tạp chí quản lý Nhà nớc
Tạp chí Kinh tế - Kế hoạch Số 11/2001
Một số thông tin khác trên mạng
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status