BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ XÂY DỰNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI
NGUYỄN VIẾT ĐỊNH
NGUYỄN VIẾT ĐỊNH
MÔ HÌNH VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
THEO HƯỚNG XÃ HỘI HOÁ CHO MỘT SỐ ĐÔ THỊ BẮC TRUNG BỘ
VIỆT NAM
(Nghiên cứu thí điểm cho thành phố Vinh)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
QUẢN LÝ ĐÔ THỊ VÀ CÔNG TRÌNH
HÀ NỘI - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ XÂY DỰNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI
NGUYỄN VIẾT ĐỊNH
NGUYỄN VIẾT ĐỊNH
Xin cảm ơn Ban lãnh đạo Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, Khoa sau
Đại học, Bộ môn Quản lý Đô thị và Công trình sau đại học Trường Đại học Kiến
trúc Hà Nội, đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận án.
Xin cảm ơn Ban lãnh đạo Học viên Hành Chính Quốc gia, lãnh đạo và các
đồng nghiệp của Khoa QLNN về đô thị và nông thôn; Cục Hạ tầng Bộ Xây
dựng, một số cơ quan liên quan ở các tỉnh, thành phố: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà
Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị; các nhà khoa học, các chuyên gia đã giúp tôi
hoàn thành luận án.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian
qua để hoàn thành luận án.
Tác giả luận án
Hà Nội 10/2015
ii
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4
1.1.1. Thực trạng CTRSH và quản lý CTRSH ở các đô thị Việt Nam
10
1.1.2. Thực trạng các công nghệ xử lý CSHTR ở các đô thị Việt Nam
18
1.1.3. Một số mô hình quản lý CTRSH đô thị ở Việt Nam
20
1.1.4. Đánh giá thực trạng quản lý CTRSH đô thị dưới góc độ XHH
24
1.2. Thực trạng thể chế và chính sách liên quan quản lý chất thải rắn
sinh hoạt đô thị Việt nam
27
1.2.1. Thực trạng hệ thống văn bản pháp luật về quản lý CTRSH ở các
đô thị Việt Nam
27
1.2.2. Các qui định của pháp luật về xã hội hóa quản lý CTRSH
29
41
1.3.4. Thực trạng quản lý CTRSH ở thành phố Hà Tĩnh và thị xã Hồng Lĩnh
45
1.4. Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại
thành phố Vinh
46
1.4.1. Giới thiệu về thành phố Vinh
46
1.4.2. Thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở thành phố Vinh
48
1.4.3. Thực trạng xã hội hóa trong quản lý CTRSH tại các đô thị
Bắc Trung Bộ và thành phố Vinh
53
1.5. Tổng quan một số công trình khoa học đã công bố liên quan
đến đề tài
56
1.6. Đánh giá hiện trạng và một số vấn đề cần nghiên cứu
69
2.2.2. Nguyên tắc quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị
72
2.2.3. Các phương thức và công cụ quản lý chất thải rắn sinh hoạt
74
2.2.4. Cơ sở pháp lý của quản lý chất thải rắn sinh hoạt và theo hướng XHH
75
2.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến mô hình quản lý CTRSH
77
2.3.1. Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội
77
2.3.2. Điều kiện kinh tế tài chính trong quản lý và xử lý chất thải rắn
80
2.3.3. Thành phần của chất thải rắn sinh hoạt
80
87
2.5. Một số kinh nghiệm quản lý hiệu quả chất thải rắn sinh hoạt
trong nước và quốc tế theo phương thức xã hội hóa
93
2.5.1. Kinh nghiệm của một số nước công nghiệp phát triển và trong khu vực 93
2.5.2. Kinh nghiệm thu hút xã hội hóa trong quản lý CTRSH tại
một số đô thị trong trong nước
99
2.5.3. Một số bài học kinh nghiệm
103
CHƯƠNG III. MÔ HÌNH VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT
THẢI RẮN SINH HOẠT THEO HƯỚNG XÃ HỘI HÓA
Ở MỘT SỐ ĐÔ THỊ BẮC TRUNG BỘ
106
3.1. Quan điểm xã hội hóa hoạt động quản lý CTRSH
106
1. Quản lý CTRSH - Trách nhiệm chính quyền địa phương
116
3.2.3. Nghiên cứu khả năng áp dụng mô hình quản lý CTRSH theo hướng
XHH ở thành phố Vinh
121
v
3.2.4. Vai trò, trách nhiệm của các chủ thể trong mô hình quản lý CTRSH
theo hướng xã hội hóa
123
3.2.5. Các điều kiện cần thiết cho việc áp dụng mô hình quản lý theo hướng
xã hội hóa CTRSH ở một số đô thị Bắc Trung Bộ
129
3.3. Đề xuất các giải pháp
135
3.3.1. Các giải pháp về cơ chế chính sách
135
3.3.2. Các giải pháp tổ chức thực hiện mô hình quản lý CTRSH theo hướng
xã hội hóa
164
Phụ lục
vi
CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
BVMT
Bảo vệ môi trường
BTB
Bắc Trung Bộ
CN
Công nghệ
CP
Cổ phần
CPH
Cổ phần hóa
CSHT
HVS
Hợp vệ sinh
KTTN
Kinh tế tư nhân
KTTT
Kinh tế thị trường
KTXH
Kinh tế xã hội
LBVMT
Luật bảo vệ môi trường
MT
Môi trường
MTV
Một thành viên
PTQL
XHH
Xã hội hóa
URENCO
Công ty môi trường đô thị
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
Số hiệu
Tên bảng
Trang
bảng
Bảng 1.1
Bảng 1.2
Lượng CTRSH đô thị phát sinh năm 2007 đến năm 2013
Tỷ lệ thu gom của các vùng KT trong cả nước phân theo các
cấp đô thị
10
16
Bảng 1.3
Khối lượng thu gom, xử lý CTRSH tại các đô thị năm 2013
42
Bảng 1.9
Khối lượng thu gom, xử lý CTRSH tại TP Vinh
50
Bảng 2.1
Bảng 3.1
Thiệt hại kinh tế do suy thoái và mất quỹ đất gây ra bởi các
khu chôn lấp CTR không hợp vệ sinh
Khả năng áp dụng mô hình cho các cấp loại đô thị ở BTB
viii
67
118
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
Số hiệu
Tên biểu đồ
Sơ đồ hóa hoạt động thu gom CTRSH tại một số đô
thị ở Việt Nam
14
Hình 1.2
Sơ đồ hóa hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý
CTRSH tại các đô thị Việt Nam
15
Hình 1.3
Sơ đồ quy hoạch thành phố Vinh
47
Hình 1.4
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý CTRSH ở TP Vinh
48
Hình 1.5
Sơ đồ hóa bộ máy tổ chức của Công ty TNHH MTV
MT Nghệ An (URENCO TP Vinh)
Sơ đồ cấu trúc mô hình quản lý CTRSH riêng rẻ theo
hướng XHH tại một số đô thị Bắc Trung Bộ
120
Hình 3.4
Sơ đồ đề xuất quản lý thu gom CTRSH ở phường/xã
124
Hình 3.5
Hình 3.6
Sơ đồ hóa về vai trò, trách nhiệm của các chủ thể
trong mô hình thu gom CTRSH theo hướng XHH tại
phường/xã
Sơ đồ hóa về vai trò, trách nhiệm của các chủ thể
trong vận chuyển CTRSH theo hướng XHH
125
1126
Hình 3.7
Sơ đồ hóa về vai trò, trách nhiệm của các chủ thể
trong xử lý CTRSH theo hướng XHH
127
hiện đại hoá đất nước, quá trình ĐTH diễn ra với tốc độ nhanh trong lúc đó
HTKT và phương thức quản lý CT đang không đáp ứng được yêu cầu.
Tính đến tháng 12/2013, cả nước có 770 đô thị với tỷ lệ dân số khoảng
33,47% tổng số dân (khoảng 30,1 triệu người), tổng lượng CTRSH phát sinh tại
các đô thị trên cả nước khoảng 31.500 tấn/ngày [4]; nhu cầu thu gom vận
chuyển xử lý CTRSH là rất lớn. Nguồn tài chính từ ngân sách đầu tư cho công
tác quản lý CTRSH, đặc biệt công tác tái chế, xử lý còn hạn hẹp, rất cần thực
hiện XHH huy động nguồn lực từ xã hội để thực hiện công tác này. Vì vậy,
công tác huy động sự tham gia của các thành phần kinh tế, tổ chức, cá nhân,
cộng đồng trong mọi hoạt động BVMT ngày càng được quan tâm cả về mặt
1
chính sách và các biện pháp thực hiện. Nghị quyết của Bộ Chính trị số
41/2004/NQ/TW về BVMT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước đã xác định: “BVMT là vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo
đảm sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào
việc phát triển KTXH, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập
kinh tế quốc tế của nước ta”. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn
2011-2020 được thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ XI đã đặt mục tiêu rất cụ
thể về BVMT. “Các đô thị loại 4 trở lên và các khu công nghiệp, khu chế xuất
có hệ thống xử lý nước thải tập trung. 95% chất thải rắn thông thường, 85%
chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn”[2].
Trong khi đó, hiện trạng quản lý CTRSH ở nước ta còn yếu kém kể cả về
thể chế và năng lực. Luật BVMT và các văn bản pháp luật hướng dẫn thực hiện
Luật, chưa tạo được cơ chế, chính sách quản lý phù hợp để thu hút các thành phần
kinh tế tham gia. Các tổ chức, các thành phần kinh tế tư nhân, các cơ quan quản
lý môi trường, qui hoạch xây dựng hầu như chưa quan tâm nhiều đến khía cạnh
quản lý CTRSH, đặc biệt là khai thác khía cạnh của kinh tế chất thải. Để vượt qua
những thách thức này, cần có những mô hình, giải pháp phù hợp cho công tác
nhiệt, nhiệt độ cao vào mùa hè và mưa nhiều vào mùa mưa.
CTRSH phát sinh ngày càng nhiều khi thành phố phát triển, mở rộng, nếu
không có một mô hình và giải pháp quản lý CTRSH phù hợp thì điều kiện
VSMT ở thành phố sẽ càng xuống cấp nhanh, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh
tế và xã hội trong tương lai gần. Đặc biệt trong điều kiện ngân sách nhà nước
và địa phương còn hạn chế, việc chọn “Mô hình và giải pháp quản lý chất
thải rắn sinh hoạt theo hướng xã hội hoá cho một số đô thị Bắc Trung Bộ
Việt Nam“ làm đề tài nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Luận án thực hiện với mục đích cung cấp những cơ sở lý luận và thực
tiễn nhằm đề xuất mô hình và giải pháp quản lý hiệu quả CTRSH theo hướng
xã hội hóa tại một số đô thị BTB Việt Nam, nghiên cứu thí điểm cho TP Vinh.
Để thực hiện mục đích, việc nghiên cứu đề tài này đặt ra những nhiệm vụ sau:
- Tổng hợp và phân tích các quan điểm lý luận về quản lý chất thải rắn,
vai trò của quản lý CTRSH đối với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
trong xu thế công nghiệp hóa và đô thị hóa;
3
- Tổng hợp và phân tích các căn cứ lý luận và thực tiễn của việc xây dựng
mô hình quản lý chất thải rắn với việc áp dụng rộng rãi chính sách xã hội hóa
trong quản lý CTRSH.
- Khảo sát, đánh giá thực tiễn quản lý CTRSH ở một số đô thị ở Bắc
Trung Bộ và thành phố Vinh, cả về cơ chế, chính sách và thể chế quản lý
CTRSH hiện nay cũng như các thiết chế thực hiện, nhận diện và phân tích các
mặt thành công, những mặt hạn chế và nguyên nhân của chúng.
- Thu thập và phân tích một số mô hình quản lý CTRSH ở các nước,
nghiên cứu khả năng áp dụng những kinh nghiệm của nước ngoài trong quản
lý CTRSH phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và cơ chế, chính sách quản lý
của Việt Nam.
- Phương pháp chuyên gia (phỏng vấn chuyên gia, hội thảo khoa học về
đề cương, nội dung luận án, các chuyên đề trong luận án) là những đóng góp
quý báu được sử dụng nghiên cứu.
- Phương pháp kế thừa được sử dụng một cách chọn lọc các nghiên cứu,
mô hình đã có ở trong nước và nước ngoài về lĩnh vực này nhằm kế thừa
những điểm mạnh của các mô hình quản lý CTRSH theo hướng XHH.
- Phương pháp so sánh được sử dụng để tìm hiểu các mô hình quản lý
CTRSH của một số quốc gia có chọn lọc dựa trên tiêu chí về mức độ phát triển
và điều kiện phát triển tương đồng với Việt Nam.
- Phương pháp qui nạp được sử dụng nhằm xây dựng và đề xuất mô hình
quản lý chất thải rắn, giải pháp và lộ trình thực hiện mô hình này ở các đô thị
Bắc Trung Bộ và thành phố Vinh.
5. Giải thích một số thuật ngữ liên quan đến đề tài
Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh
hoạt hoặc hoạt động khác [56].
Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được
thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác[22].
5
Chất thải thông thường là chất thải không thuộc danh mục chất thải nguy
hại hoặc thuộc danh mục chất thải nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới
ngưỡng chất thải nguy hại [22].
Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh
trong sinh hoạt thường ngày của con người[22].
Chất thải rắn công nghiệp là chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ[22].
Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm,
dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác[59].
Phân định chất thải là quá trình phân biệt một vật chất là chất thải hay
cho phù hợp với các quy trình quản lý khác nhau [22].
Tái chế chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật
để thu lại các thành phần có giá trị từ chất thải [22].
Thu hồi năng lượng từ chất thải là quá trình thu lại năng lượng từ
việc chuyển hóa chất thải [22].
Xử lý chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật
(khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy,
chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải [22].
Cơ sở xử lý chất thải là cơ sở thực hiện dịch vụ xử lý chất thải (kể cả hoạt
động tái chế, đồng xử lý, thu hồi năng lượng từ chất thải)[22].
Chủ thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt là tổ chức, cá nhân thực
hiện dịch vụ thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt theo quy định [22].
Chủ xử lý chất thải là tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc điều hành cơ sở xử lý
chất thải [22].
Hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường bao gồm hệ thống thu gom, lưu giữ,
vận chuyển, tái chế, tái sử dụng, xử lý chất thải và quan trắc môi trường[56].
Công nghiệp môi trường là một ngành kinh tế cung cấp các công nghệ,
thiết bị, dịch vụ và sản phẩm phục vụ các yêu cầu về bảo vệ môi trường[56].
Xã hội hóa là làm cho trở thành sự nghiệp chung của xã hội [80].
7
Xã hội hóa là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của
toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó [26].
Khái niệm xã hội hóa trong nghiên cứu luận án được hiểu theo nghĩa là
sự tham gia rộng rãi của xã hội (bao gồm cá nhân, nhóm người, các tổ chức,
cộng đồng...) vào một hoạt động trước đó chỉ được một đơn vị, bộ phận hay
một ngành chức năng của Nhà nước thực hiện. Nội hàm của khái niệm này
gồm 3 yếu tố chính sau: (i) có sự tham gia, rộng rãi của các cá nhân, nhóm
người, các tổ chức, cộng đồng; (ii) hoạt động được xã hội hóa trước đó được
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2013
Dân số đô thị
23,8
24,53
25,5
26,22
30.1
Chỉ số phát sinh CTRSH
0,75
0,85
0,95
đây chính là một nguồn lớn gây ô nhiễm môi trường đáng báo động. Kết quả
nghiên cứu, tổng hợp về lượng phát sinh CTR ở các đô thị cho thấy, tổng lượng
CTRSH phát sinh từ đô thị có xu hướng tăng đều, tăng trung bình từ 10 - 16%
mỗi năm, đặc biệt các đô thị lớn lượng chất thải gia tăng hàng năm rất nhanh [13].
Theo báo cáo của Bộ Xây dựng và Bộ Tài nguyên &Môi trường, lượng
CTRSH ở đô thị sẽ tiếp tục gia tăng nhanh trong thời gian tới, dự báo năm
2015, khối lượng CTR phát sinh ước khoảng 62 triệu tấn/năm, lượng CTRSH
hơn 32.000 tấn/ngày, CT công nghiệp 7 triệu tấn/năm [13]
b. Về thành phần và tính chất của chất thải rắn sinh hoạt đô thị
Thành phần CTRSH thường bao gồm: chất hữu cơ, cao su, nhựa, giấy, bìa
cacton, giẻ vụn, vải, da, thủy tinh, gốm sứ, đất đá, cát, gạch vụn, kim loại và một
tỷ lệ nhỏ như pin, mạch điện tử, ắcquy.… Tỷ lệ phần trăm các chất trong CT
thường không ổn định, biến động ngay tại ở mỗi nơi thu gom, khu vực sinh
sống và phát triển sản xuất của dân cư, theo thời gian, điều kiện khí hậu thời tiết,
mức thu nhập, phong tục tập quán, trình độ dân trí, vị trí địa lý … Trong thành
phần CTRSH đưa đến các bãi chôn lấp, thành phần CT hữu cơ có thể sử dụng
làm nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ rất cao từ 54 - 77,1%; tiếp theo thành
phần nhựa từ 8 - 16%; CT nguy hại thường chiếm tỷ lệ nhỏ hơn 1% [12].
Theo số liệu điều tra khảo sát, các thành phần trong CTRSH của các đô thị ở
các vùng miền có sự khác nhau. Đối với các đô thị ở khu vực Đồng bằng sông
Cửu Long, tỷ lệ chất hữu cơ khá cao, trong khi đó khu vực Đồng bằng sông Hồng
tỷ lệ chất hữu cơ thấp hơn. Độ ẩm của CTRSH tại các đô thị thường dao động từ
55 - 70%, tỷ trọng 0,42 - 0,6 tấn/m3 (Biểu đồ 1.1)[12].
Như vậy, trong CTRSH tại các đô thị, tỷ lệ hữu cơ khá cao và tỷ lệ khác
nhau ở mỗi vùng. Đây là cơ sở để lựa chọn CN tái sử dụng và tái chế CTRSH,
nhằm sử dụng nguồn nguyên liệu này một cách hợp lý, hiệu quả đối với từng vùng.
Thành phần CTRSH chi tiết của một số đô thị ở (Phụ lục.2) cho chúng ta những ý
tưởng thích hợp để xây dựng mô hình và giải pháp xử lý CTRSH.
ĐB sông
Cửu Long
Khu vực
Tây
Nguyên
Khu vực
Khu vực
Đông Nam Bắc Trung
Bộ
Bộ
Nguồn: Báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường[12]
1.1.1.2. Quản lý CTRSH tại một số đô thị ở Việt nam
Quản lý CTR nói chung và CTRSH nói riêng tại các đô thị ở Việt Nam
những năm gần đây được các cấp chính quyền đô thị quan tâm; Sự tham gia
của các TPKT khác, cộng đồng dân cư và toàn xã hội vào quản lý CTRSH đã
có những bước phát triển nhất định, tạo tiền đề quan trọng cho chủ trương
XHH hoạt động quản lý CTRSH. Tuy nhiên hiện nay việc quản lý CTRSH
chưa đáp ứng được các yêu cầu của chính quyền đô thị và cộng đồng dân cư.
Thực tế này được biểu hiện ở những khía cạnh dưới đây.
a.Về ý thức giảm thiểu phát sinh CTRSH của dân cư tại một số đô thị
Giáo dục và hình thành ý thức giảm thiểu CTRSH trong các hoạt động
cho dân cư tại các đô thị, hầu như chưa được quan tâm và chú trọng. Chưa có
các chính sách khuyến khích và chế tài phù hợp để nâng cao ý thức giảm thiểu
CTRSH và xử lý các hành vi cố ý gây ô nhiễm từ CTRSH.
b. Phân loại CTRSH tại nguồn
Việc phân loại CT tại nguồn
Việc quản lý quá trình thu gom, phân loại và xử lý CTRSH thiếu đồng bộ
ngay cả ở những chương trình thí điểm. Ví dụ, nhiều trường hợp CTRSH đã
được phân loại nhưng sau đó lại được thu gom và xử lý chung. Điều này dẫn
đến dấu hỏi về hiệu quả và ý nghĩa của việc phân loại CTRSH tại nguồn. Hiện
nay, một lượng đáng kể CTRSH có thể tái chế được đã được các hộ gia đình
và những người thu gom phân loại để bán cho các cơ sở tái chế. Sự phân loại
tự phát CTRSH có thể tái chế được, được thực hiện liên tục trên hành trình từ
nơi phát thải đến các điểm tập kết và cuối cùng là các khu chôn lấp hoặc điểm
tái chế. Quá trình này hiện nay vẫn chưa được quản lý một cách đồng bộ.
13