Chương i một số vấn đề CHUNG về QUẢN lý NHÀ nước về KINH tế và đối TƯỢNG QUẢN lý của xây DỰNG GIAO THÔNG - Pdf 31

PHẦN THỨ II QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG GIAO THÔNG
Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ VÀ ĐỐI
TƯỢNG QUẢN LÝ CỦA XÂY DỰNG GIAO THÔNG
1.1. THỰC CHẤT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

Quản lý nhà nước là một hình thức hoạt động của Nhà nước được thực hiện bằng cơ quan nhà
nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp). Chính phủ, Bộ (Trung ương) và Uỷ ban nhân dân các cấp (địa
phương) là bộ máy trực tiếp (chủ thể) quản lý hành chính kinh tế.
Quản lý nhà nước về kinh tế là tác động của Nhà nước bằng các biện pháp hành chính, tổ chức,
kinh tế và giáo dục tới quá trình tái sản xuất xã hội (sản xuất - phân phối - lưu thông - tiêu dùng) để
đạt được các mục tiêu tăng trưởng, ổn định kinh tế và công bằng xã hội.
Giao thông vận tải là một ngành kinh tế, một khâu trong quá trình tái sản xuất xã hội - là tư
liệu chung của toàn xã hội, trực tiếp phục vụ lưu thông. Do tính xã hội của GTVT mà cần thiết
phải có sự can thiệp của Nhà nước để đảm bảo điều kiện sống, tự do an toàn giao thông của mọi
thành viên trong xã hội. Để can thiệp vào thị trường GTVT, Nhà nước dùng các hình thức:
- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát để duy trì ổn định giao thông (kiểm tra tải trọng, kiểm tra
cầu đường), kiểm tra kỹ thuật, hướng dẫn đầu tư, sử dụng phương tiện.
- Có chính sách định giá thích hợp để biến đổi dòng vận tải, giảm tắc nghẽn giao thông trong
đô thị.
- Tiến hành công bố các quy chế, xác định nghĩa vụ của dịch vụ công cộng, có chính sách đỡ
đầu các xí nghiệp quốc doanh, tiến hành phân bổ giao thông, tiến hành đánh giá sử dụng giao
thông.
- Ban hành các quy chế an toàn giao thông.
- Tiến hành thường xuyên việc nghiên cứu kỹ thuật và các hình thức tổ chức mới trong các
hoạt động GTVT.
Tạo ra tiền đề vật chất cho thị trường vận tải hoạt động là nhờ kết quả hoạt động của thị
trường XDGT (một bộ phận của thị trường GTVT). Đó là thị trường hoạt động hết sức phức tạp.
Nhà nước phải can thiệp vào thị trường XDGT nhằm các mục đích:
- Tạo môi trường định hướng vĩ mô phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quản
lý tổng thể mọi hành vi của các chủ thể kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia vào thị
trường XDGT, tăng cường kiểm tra kiểm soát nhằm loại bỏ các yếu tố phi thị trường, tạo cạnh


Đối tượng quản lý với XDGT chính là các quan hệ kinh tế (chủ yếu là tổ chức và hoạt động
của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia vào thị trường XDGT như: CĐT -


PHẦN THỨ II QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG GIAO THÔNG
Nhà thầu - Nhà cung cấp - Tư vấn) vận động, phát triển trong nền kinh tế thị trường. Trong
XDGT, có thể tiếp cận đối tượng quản lý theo 2 giác độ: Hoặc đó là tập hợp quá trình tạo ra sản
phẩm, hoặc đó là các chủ thể tham gia vào quá trình đó. Quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối
tượng quản lý được biểu hiện:
- Với tư cách là chủ thể quản lý, Nhà nước phải thực hiện hàng loạt các nhiệm vụ: xây dựng,
ban hành, tổ chức thực hiện pháp luật, kiểm tra, kiểm soát, tiến hành xử lý vi phạm pháp luật
trong mọi quá trình và mọi chủ thể tham gia vào quá trình ĐTXD. Với vai trò đó, nhiệm vụ của
nhà nước là định hướng cho các quan hệ kinh tế (XDGT) hình thành, vận động và phát triển theo
một trật tự nhất định. QLNN cần đặc biệt chú trọng tới các chủ thể tham gia vào TTXDGT phải
đảm bảo tuân thủ các điều kiện; về mặt kỹ thuật là phải có hệ thống tiêu chuẩn.
- Với tư cách là đối tượng quản lý, các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trường (các
doanh nghiệp) phải được tổ chức và vận động trên cơ sở các quy định của pháp luật và chịu sự
kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy, nội dung quản lý Nhà nước
đối với XDGT thực chất là sự tác động của Nhà nước trên cả hai khía cạnh: xét theo quá trình tạo
ra sản phẩm và các chủ thể tham gia vào quá trình đó. Tác động của Nhà nước là nhằm đảm bảo
các điều kiện cần thiết để thực hiện các giai đoạn tuân thủ trình tự lô gíc của xây dựng; còn đối
với các chủ thể kinh doanh là buộc họ thực hiện tốt chức năng, vai trò của mình trong XDGT,
nhằm đạt được các mục tiêu cuối cùng của cả hệ thống xây dựng là: chất lượng tốt, đưa công
trình vào khai thác đúng tiến độ và tiết kiệm vốn đầu tư. Để tăng cường QLNN đối với lĩnh vực
XDCB, trong mấy chục năm qua nhà nước đã không ngừng hoàn thiện cơ chế quản lý XDCB bắt
đầu là ban hành các văn bản pháp quy (từ NĐ 232-CP/1981; NĐ 385-HĐBT/1990; NĐ 177CP/1994; NĐ 42-CP/1996 và NĐ 12-CP; NĐ 52-CP/1999 và NĐ 07-CP/2003), tiến đến là ban
hành Luật Xây dựng có hiệu lực từ 01 tháng 7 năm 2004. Đó là quá trình đã gắn bó được hai
hoạt động đầu tư và xây dựng, biểu hiện là chuyển Điều lệ quản lý XDCB thành Điều lệ quản lý
Đầu tư và Xây dựng.

Bộ Tài chính: Trên cơ sở các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, các cân đối chủ
yếu của nền kinh tế quốc dân, chủ động phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư phân bổ kế hoạch cấp
phát vốn cho đầu tư phát triển; đồng thời thanh tra, kiểm tra tài chính đối với các tổ chức, đơn vị có
sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước.
Kho bạc nhà nước: Trực tiếp tổ chức thực hiện cấp vốn đầu tư, cấp và thu hồi vốn tín dụng
ưu đãi của Nhà nước (kể cả các nguồn vốn vay, viện trợ của Chính phủ dành cho đầu tư phát
triển). Quy định quy trình, thủ tục, hồ sơ chứng từ trong quá trình tạm ứng, thanh toán vốn.
Thanh toán vốn kịp thời, đầy đủ cho dự án khi đã có đủ điều kiện. Có ý kiến rõ ràng bằng văn
bản với CĐT về việc từ chối thanh toán, trả lời các thắc mắc của CĐT trong việc thanh toán vốn.
Trường hợp phát hiện quyết định của các cấp có thẩm quyền trái với quy định hiện hành phải có
văn bản đề nghị xem xét lại và nêu ý kiến đề xuất. Nếu quá thời gian quy định mà không được
trả lời thì có quyền giải quyết theo đề xuất của mình. Nếu được trả lời nhưng vẫn không thoả
đáng, có quyền báo cáo lên cơ quan có thẩm quyền cao hơn để xem xét. Thực hiện chế độ thông
tin báo cáo và quyết toán VĐT theo quy định của luật NSNN và các hướng dẫn của Bộ Tài
chính. Có quyền yêu cầu CĐT cung cấp hồ sơ, tài liệu, thông tin theo chế độ quy định để phục vụ
cho công tác kiểm soát thanh toán vốn. Có quyền dừng thanh toán vốn hoặc thu hồi số vốn mà
CĐT sử dụng sai mục đích, không đúng đối tượng hoặc trái với chế độ quản lý tài chính của Nhà
nước, đồng thời báo cáo Bộ Tài chính để xử lý; được quyền từ chối thanh toán vốn của các dự án
mà CĐT không thực hiện nghiêm túc chế độ lập kế hoạch VĐT hàng quý, chế độ báo cáo theo
quy định của Luật Xây dựng và các quy định hiện hành của các luật khác.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Nghiên cứu chính sách QLNN về tiền tệ - tín dụng trong
đầu tư xây dựng, trình Chính phủ ban hành hoặc được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền ban hành;
hướng dẫn các tổ chức tín dụng thực hiện huy động vốn để cho vay đầu tư phát triển. Thực hiện
chế độ bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng cho các nhà thầu Việt Nam khi tham gia


PHẦN THỨ II QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG GIAO THÔNG
đấu thầu quốc tế. Các ngân hàng thương mại tự quyết định cho vay, thu nợ trong quá trình kinh
doanh tiền tệ.
Các Bộ quản lý ngành về đất đai, tài nguyên, công nghệ, môi trường, thương mại, bảo tồn,

tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu nhất định. Trong QLNN thì quản lý kinh tế là một
dạng hoạt động phức tạp, nó cần đến những công cụ thích hợp để quản lý toàn bộ nền kinh tế,
các ngành, các vùng và các thành phần kinh tế. Đối với kinh tế, công cụ quản lý là những
phương tiện cần thiết mà qua đó Nhà nước (thông qua các cơ quan chức năng) sử dụng để điều


PHẦN THỨ II QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG GIAO THÔNG
tiết, hướng dẫn, kiểm soát đối với toàn bộ hoạt động của nền kinh tế nói chung, cũng như lĩnh
vực XDCB nói riêng. Tại điều 26 của Hiến pháp năm 1992 quy định: Nhà nước thống nhất quản
lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch và bằng chính sách. Trong lĩnh vực XDGT,
Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ trực tiếp như pháp luật, kế hoạch hoá và công cụ gián
tiếp là hệ thống các chính sách.
1.3.1. Công cụ kế hoạch

Kế hoạch là một công cụ nhằm định hướng, tổ chức và điều khiển các hoạt động kinh tế. Đó
là các chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và các biện pháp cụ thể để đạt mục tiêu
trong từng thời kỳ do Nhà nước đặt ra. Đặc điểm của kế hoạch hoá định hướng là Nhà nước đưa
ra chương trình, mục tiêu phấn đấu cho các ngành, địa phương, các giải pháp chung; còn thực
hiện mục tiêu đó bằng cách nào là do các tổ chức cơ sở. Hệ thống kế hoạch hoá định hướng bao
gồm các thông tin hướng dẫn, các dự báo thị trường, khoa học-công nghệ, chiến lược phát triển
ngành, vùng, kế hoạch 5 năm, hàng năm và các chương trình dự án. Đặc trưng của kế hoạch hoá
định hướng là lo dài hạn, các cân đối chủ yếu để đảm bảo ổn định ở tầm vĩ mô. Kế hoạch không
đảm bảo chất, thiếu cơ sở khoa học sẽ gây hậu quả xấu cho phát triển kinh tế, cũng như đối với
doanh nghiệp.
1.3.2. Công cụ pháp luật

Nền kinh tế thị trường là tổng thể các quan hệ kinh tế - xã hội diễn ra trên cơ sở các nguyên
tắc tự do, bình đẳng và do đó, nếu không có pháp luật thì không thể đảm bảo duy trì được các giá
trị của nền kinh tế thị trường và các quan hệ kinh tế xã hội sẽ trở nên hỗn loạn; không có pháp
luật thì không thể giải quyết được hai mối quan hệ cơ bản nhất trong lĩnh vực kinh tế, đó là quan

đối xử bình đẳng trong hoạt động SXKD và đều được thụ hưởng các chính sách kinh tế.
- Chính sách hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực: Theo tinh thần văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ IX là: Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển, tích cực chuẩn bị các điều
kiện về kinh tế, thể chế, cán bộ… để thực hiện thành công quá trình hội nhập trên cơ sở phát huy
nội lực, bảo đảm độc lập, tự chủ, bình đẳng và cùng có lợi. Khi hội nhập, nền kinh tế nước ta sẽ
tận dụng được công nghệ, vốn và kinh nghiệm quản lý của thế giới. Cần tăng cường đào tạo kỹ
năng hội nhập quốc tế cho các cán bộ: quản lý quy hoạch, xây dựng văn bản pháp quy, thẩm định
phê duyệt dự án, thiết kế, cấp giấy phép và kiểm tra chất lượng công trình. Trong lĩnh vực
XDGT, hội nhập về thể chế đang là vấn đề bức bách.
- Chính sách quản lý và sử dụng đất đai: Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân đối với toàn bộ
vốn đất đai, Nhà nước tôn trọng và thừa nhận các quyền của người sử dụng đất nhằm phát huy
mọi tiềm năng đất đai, lao động, vốn để phát triển kinh tế bằng chính sách giao quyền sử dụng
đất (thu tiền hoặc không thu tiền) và chính sách cho thuê đất. Người sử dụng đất có quyền
chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, để lại thừa kế quyền sử dụng đất phù hợp với các quy định
của pháp luật dân sự và pháp luật đất đai. Chính sách này nhằm khơi thông sự vận động của vốn
đất đai, bảo đảm sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả. Trong XDGT, vấn đề tái định cư, huy động
vốn từ đất có liên quan mật thiết tới đầu tư phát triển cho nền kinh tế.
- Chính sách tài chính: Nhà nước có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp về vốn, mặt bằng và
thông tin; doanh nghiệp phải trả tiền khi sử dụng công sản của Nhà nước; Nhà nước buộc doanh
nghiệp phải chấp hành chế độ kế toán báo cáo tài chính. Với cơ chế chủ sở hữu doanh nghiệp
nhà nước: Nhà nước ban hành cơ chế phân phối thu nhập; quản lý việc tạo vốn, bảo toàn vốn và
xoá bao cấp về vốn; phát triển công ty tài chính để huy động vốn.
- Chính sách tín dụng: Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng với các thành phần kinh tế
trong việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng là lãi suất công bằng và có lãi suất tài trợ cho dự án
được khuyến khích.
Ngoài các công cụ kế hoạch, pháp luật và chính sách, để thực hiện vai trò của của mình, Nhà
nước còn thực hiện cung cấp các thông tin cho thị trường XDGT.


PHẦN THỨ II QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG GIAO THÔNG

doanh nghiệp. Ngày nay, vai trò chức năng của Nhà nước đối với doanh nghiệp đã mang nội
dung mới, đó là Nhà nước không chỉ có kiểm tra, giám sát các doanh nghiệp mà quan trọng hơn,
còn phải hỗ trợ, nâng đỡ cho nó phát triển.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status