Nhi?m trùng ni?u trên b?nh nhân
Page 1 of 7
NHIỄM TRÙNG NIỆU TRÊN BỆNH NHÂN
CẮT ĐỐT NỘI SOI BƯỚU LÀNH TIỀN LIỆT
TUYẾN
Nguyễn Thanh Huy, Đàm Văn Cương, Trần Văn Nguyên
Khoa Y - Nha - Dược
Abstract
Background: According to the Tanagho study, urinary infection in patients with problems of prostate
is 12% before the intervention and 2% after the transurethral resection of prostate (TURP). From
December, 1997 to April, 2001, Can Tho General Hospital has used TURP on 679 patients. TURP is
considered a clean-contaminated operation, antibiotics were administered as prophylaxis. To know
exactly the percentage of infection, bacteria, and which antibiotics to use - is the objective of the
study.
Patients and methods: 94 patients were tested with two samples of urine collected. The right before
TURP is the time of introducing the endoscopic sheath & the other is 24h after intervention. SPSS
9.01 is applied for analysis.
Results: Mean age was 72.52. Urinary infection before the operation is 11.7%, the same as with
Tanagho at 12%. E. coli accounts for 54.7%. It is sensitive (S) only to Ceftriaxone and Cefotaxime.
Urinary infection on urinary retention with an indwelling catheter is 19.2% (5/26) and on patients
with dysuria no catheter is 8.1%(5/62). Urinary infection after TURP is 3.2%, a little bit higher than
Tanagho (2%). There is no relation of time, prostate volume, gravity of chips, volume of irrigation
with urinary infection after TURP. 3 cases of infection after TURP are nosocomial infection. They
are resistant (R) to Cefotaxime, Gentamycine & Ampicilline.
Conclusion and Suggestions :
l
Urinary infection before TURP is still high (11.7%). It could be better if the urine
of all patients prepared for TURP was cultured. All urinary infection is cured, and
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Emil A. Tanagho thì nhiễm trùng tiểu trên bệnh nhân rối loạn đi tiểu do bướu lành tiền liệt
tuyến là 12%. Nhiễm trùng tiểu sau cắt đốt nội soi là 2%. Từ 12/1997 BVĐK Cần Thơ đã áp dụng
phương pháp cắt đốt nội soi tiền liệt tuyến. Phương pháp cắt đốt nội soi bướu lành tiền liệt tuyến
được xem là phẫu thuật sạch. Vì thế, nó được áp dụng kháng sinh dự phòng. Bệnh nhân xuất viện
yêu cầu không được có triệu chứng nhiễm trùng niệu và không nên cho kháng sinh uống sau xuất
viện. Vì những hoàn cảnh khác nhau, không phải bất cứ bệnh viện nào đều tuân thủ điều này, nhất là
việc biết rõ lúc bệnh nhân xuất viện 100% không nhiễm trùng. Tỉ lệ bệnh nhân sau cắt đốt nội soi khi
xuất viện bị hội chứng kích thích từ 20 - 80, nhiễm trùng niệu đóng góp không nhỏ trong nhóm kích
thích này.
Mục đích của đề tài là xác định tỉ lệ nhiễm trùng niệu trước và sau cắt đốt nội soi bướu lành tiền liệt
tuyến. Qua đó, góp phần chọn lựa kháng sinh dự phòng.
2 PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN
2.1 Phương pháp nghiên cứu
Tiền cứu mô tả.
2.2 Đối tượng nghiên cứu
94 bệnh nhân được điều trị cắt đốt nội soi tại khoa ngoại B ệnh vi ện Đa khoa (BVĐK) Cần Thơ có
kết quả giải phẫu bệnh là bướu lành tiền liệt tuyến.
Mỗi bệnh nhân có bảng chi tiết đánh giá: tuổi, lý do vào viện, trọng lượng của bướu cắt được, thời
gian cắt đốt nội soi, lượng nước truyền rửa sau cắt đốt, màu nước truyền rửa, bạch cầu niệu trước
cắt, kháng sinh trước và sau khi cắt đốt nội soi.
Mỗi bệnh nhân được lấy 2 mẫu nước tiểu đem cấy theo nguyên tắc vô trùng: Mẫu 1: lấy ngay khi vừa
đặt ống soi vào bàng quang trước lúc cắt đốt nội soi. Mẫu 2: sau cắt đốt 24 giờ, lấy qua ống sonde
Foley. Cả hai mẫu được đem đi cấy ngay (từ lúc lấy đến lúc đem cấy nhỏ hơn 2 giờ) trên hai môi
trường MC (Mc ConKey) và môi trường BA (Blood Agar), đồng thời làm một phết nhuộm gram
khảo sát trực tiếp. Nếu kết quả nhuộm gram có vi khuẩn, dùng các phản ứng sinh hóa thường qui để
xác định loại vi khuẩn. Kết quả cấy nào vi trùng mọc > 100 khúm / hộp thạch sẽ được làm kháng
sinh đồ.
Nhi?m trùng ni?u trên b?nh nhân
Page 4 of 7
Qua kết quả KSĐ ta thấy, tỉ lệ kháng của vi khuẩn với các kháng sinh là khá cao. Chỉ có Cefotaxime
và Ceftriaxone là còn nhạy. Mà đây lại là các kháng sinh thường được sử dụng trước cắt đốt nội soi.
Tuy số mẫu chưa được nhiều, nhưng qua kết quả trên chúng ta cũng cần xem lại vấn đề sử dụng
kháng sinh nhằm làm thế nào đạt được hiệu quả tối ưu trên bệnh nhân.
Và qua phân tích giữa nhiễm trùng niệu trước cắt đốt nội soi và lý do vào viện thì có 5/26 trường hợp
vào viện vì bí tiểu có nhiễm trùng niệu chiếm (19,2%), 5/62 trường hợp vào viện vì tiểu khó chiếm
(8,1%). Qua kết quả ta nhận thấy bệnh nhân vào viện vì bí tiểu có tỉ lệ nhiễm trùng tiểu cao gấp 2 lần
so với bệnh nhân vào viện vì tiểu khó. Và chúng ta đều biết rằng bệnh nhân bí tiểu đều có đặt thông
tiểu trước cắt đốt. Vậy nhiễm trùng ở đây là do bệnh lý tắc nghẽn hay do thao tác đặt thông tiểu.
Theo Colau A và cộng sự thì vấn đề lưu thông tiểu có ảnh hưởng đến nhiễm trùng tiểu.
Biểu đồ 3: Kết quả cấy nước tiểu sau cắt đốt nội soi
Kết quả sau cắt đốt nội soi là 3,2% cao hơn trong nghiên cứu của Tanagho là 2%. Và cả 3 trường
hợp dương tính ở đây đều là vi trùng của bệnh viện. Theo các chuyên gia thì với thời gian lấy nước
tiểu như trên thì kết quả dương tính ở đây không phải là do thao tác trong cắt đốt. Vậy nhiễm trùng ở
đây là do khâu nào trong quá trình hậu phẩu của bệnh nhân thì chúng tôi chưa được rõ. Qua phân tích
mối liên quan giữa thời gian cắt đốt, trọng lượng bướu cắt được, số lượng nước truyền rửa và màu
nước truyền rửa với kết quả cấy nước tiểu sau cắt thì thấy không có liên quan với nhau, mối liên quan
này không có ý nghĩa thống kê P>0,05.
Bảng 2: Kết quả KSĐ của 3 trường hợp dương tính sau cắt đốt nội soi
file://D:\HoanthanhNCKH\d2\610NH304\610NH304.htm
9/8/2005
S
R
R
Gentamycin
R
R
R
Cotrimoxazol
R
S
R
Trong 3 trường hợp dương tính sau cắt đốt nội soi thì qua kết quả KSĐ ta thấy tỉ lệ kháng thuốc của
vi khuẩn với các loại kháng sinh là khá cao, trong đó: Cefotaxime, Gentamycine, Ampicilline là 3/3
trường hợp chiếm 100%.
Qua kết quả KSĐ của cả hai trường hợp trước cắt và sau cắt ta thấy tỉ lệ kháng thuốc với các kháng
sinh thường được sử dụng là khá cao. Tuy số mẫu chưa được nhiều nên ta chưa thể có kết luận chính
xác. Nhưng qua đó ta cũng cần thận trọng trong vấn đề sử dụng kháng sinh dự phòng với những
kháng sinh được sử dụng hiện nay.
4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4.1 Kết luận
Qua nghiên cứu 94 bệnh nhân được cắt đốt nội soi bướu lành tiền liệt tuyến tại bệnh viện đa khoa
Cần Thơ từ tháng 5 - 2001 đến tháng 11 - 2001 nhận thấy: Tuổi thường gặp là từ 70-79 tuổi, và tuổi
trung bình là 72,52 tuổi. Tỉ lệ nhiễm trùng niệu trước cắt đốt nội soi là 11,7%, điều này chưa tuân thủ
nguyên tắc của cắt đốt nội soi là khi cắt đốt bệnh nhân không có nhiễm trùng niệu.Tỉ lệ nhiễm trùng
niệu sau cắt đốt nội soi là 3,3%. Nguyên nhân gây nhiễm trùng niệu chủ yếu vẫn là nhóm trực trùng
gram âm như: Escherichia coli, Enterobacter cloecae, Enterobacter hafniae, ... Trong đó Escherichia
Hội Tiết Niệu Hà Nội. 1995. Bệnh học tiết niệu. p.241, 441 - 445. Nhà xuất bản Y Học.
l
Ngô Gia Hy. 1990. Cấp cứu niệu khoa tập II. p.293. Nhà xuất bản Y Học.
l
Ngô Gia Hy. 1988. Nhiễm trùng tiểu. p.3. Nhà xuất bản Y Học.
l
Nguyễn Kỳ. 1995. Nhiễm khuẩn tiết niệu- sử dụng kháng sinh. Bệnh học tiết niệu. p.241-265.
Nhà xuất bản Y Học.
l
Trần Văn Nguyên và Lê Quang Dũng. 2001. Tình Hình Ung Thư Tiền Liệt Tuyến Ở Bệnh Viện
Đa Khoa Cần Thơ. Kỷ Yếu Công Trình Nghiên Cứu Khoa Học. pp 236-237. Cần Thơ.
l
Nguyễn Quang Quyền. 1994. Giải Phẩu Học Giản Yếu. p 448-449. NXB Y Học.
l
Trần Văn Sáng. 1996. Nhiễm trùng niệu. p.132-148. Nhà xuất bản Mũi Cà Mau.
l
Page 7 of 7
resection of prostatic hyperplasma.
/>l
W. Mauermayer. 1983. The treatment of urinary infections. Transurethral surgery. p.87-346.
Springs - Verlag Berlin Heidelberg New York.
file://D:\HoanthanhNCKH\d2\610NH304\610NH304.htm
9/8/2005