BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
KHOA ĐIỀU DƯỠNG
SV NGUYỄN THỊ TUYẾN
MÃ SV: A11731
MÔ TẢ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BỆNH ĐỘT QUỴ
TRÊN BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI VIỆN TIM MẠCH
BỆNH VIỆN BẠCH MAI ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN NGƯỜI HƯỚNG DẪN: ThS.BS ĐỖ KIM BẢNG HÀ NỘI – Tháng 7 năm 2011
Thang Long University Library
LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp khóa luận được hoàn thành, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin
được bày tỏ lòng biết ơn tới:
2 ĐQ Đột quỵ
3 NMN Nhồi máu não
4 TCYTTG Tổ Chức Y Tế Thế Giới
5 TBMN Tai biến mạch máu não
6 YTNC Yếu tố nguy cơ Thang Long University Library
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1. ĐẶT VẤN ĐỀ 10
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 12
A. Tổng quan về bệnh đột quỵ 12
4.8 Mối tương quan giữa các thể ĐQ với đái tháo đường: 36
4.9 Mối tương quan giữa hai thể ĐQ với bệnh tim mạch: 28
4.10 Mối tương quan giữa hai thể ĐQ với nồng độ cholesterol trong máu: 29
4.11 Mối tương quan giữa hai thể ĐQ với nghiện rượu: 29
4.12 Mối tương quan giữa hai thể ĐQ với hút thuốc lá: 30
4.14 Số lượng YTNC trên mỗi bệnh nhân bị ĐQ: 31
Chương 5. Bàn luận: 40
5.1 Tuổi và giới: 41
5.2 Đặc điểm dân số học: 42
5.3 Phân bố các thể lâm sàng CMN và NMN: 42
5.4 Tăng huyết áp với ĐQ: 42
5.5 Đái tháo đường với ĐQ 43
5.6 Tiền sử gia đình bị đột quỵ và thể tai biến: 44
5.7 Mối tương quan giữa hai thể ĐQ với bệnh tim mạch 44
Thang Long University Library
5.8 Mối tương quan giữa hai thể ĐQ với nồng độ cholesterol trong máu 36
5.9 Mối tương quan giữa hai thể ĐQ với nghiện rượu 36
5.10 Mối tương quan giữa hai thể ĐQ với hút thuốc lá 37
5.11 Béo phì và ĐQ 37
5.12 Tập thể dục và ĐQ 38
5.13 Số lượng YTNC trên mỗi bệnh nhân bị ĐQ 39
5.14 Tiền sử ĐQ 39
KẾT LUẬN 41
KHUYẾN NGHỊ 51
Bảng 4.17 Số lượng YTNC trên bệnh nhân bị ĐQ……………… ……………… …31
Tên đồ thị
Biểu đồ 1: Tỷ lệ các nhóm tuổi mắc ĐQ……………….…… …………………… 20
Biểu đồ 2: Tỷ lệ mắc bệnh giữa hai giới…………………… …………………….…21
Biểu đồ 3 : Tỷ lệ CMN và NMN………………….…………………………… … 21
Biểu đồ 4: Tỷ lệ các YTNC của bệnh ĐQ………………………… …………… ….24
Biểu đồ 5: Tỷ lệ THA giữa NMN và XHN……………………….……………… 26
Biểu đồ 6: Tỷ lệ ĐTĐ trong ĐQ………………………… ……………………… …28
Biểu đồ 7: Tỷ lệ các YTNC……………………… ……………………………….…31 Thang Long University Library
Hình ảnh
Hình ảnh 1: Nhồi máu não…………………… ……………………………….… … 5
Hình ảnh 2: Chảy máu não…………………………… ………………………… … 5
Hình ảnh 3: Hình ảnh tuyên truyền về bệnh tăng huyết áp…………………….…… 34
Hình ảnh 4: Hình ảnh phòng chống hút thuốc lá trong cộng đồng……………… ….37
Hình ảnh 5: Giảm béo phì…………………………………………………… … … 38
Hình ảnh 6: Một số hình ảnh về bài tập vận động………………………… …….….39
thế giới hai thập kỷ qua tỷ lệ mắc ĐQ đã tăng hàng năm, ở Thái Lan tỷ lệ mới mắc năm
1980 là 12,7/100.000 đến 1984 là 18,7/100.000 [25]. Ở Việt Nam, theo nghiên cứu
dịch tễ học 1989 – 1994 của bộ môn Thần kinh trường Đại học Y Hà Nội: Nhóm tuổi
dưới 50 bị tai biến chiếm tỷ lệ thấp ( 9,5% ) trong cộng đồng nhưng lại chiếm tỷ lệ
đáng quan tâm trong bệnh viện ( 36% ). Yếu tố nguy cơ nghiêm trọng nhất là tăng
huyết áp có ở 59,3% bệnh nhân trong cộng đồng, có ở 47,5% bệnh nhân nội trú [25].
Các yếu tố nguy cơ của ĐQ gồm: Tuổi, giới tính, hút thuốc lá, béo phì, tăng huyết áp,
đái tháo đường, rối loạn lipid máu, lối sống tĩnh tại, stress hoặc căng thẳng, uống rượu
[18]. Hiện nay dù chưa khẳng định được một liệu pháp chuẩn nào có hiệu quả trong
Thang Long University Library
điều trị ĐQ, tuy vậy giải pháp phòng ngừa ĐQ là chiến lược hiệu quả nhất để làm giảm
hậu quả về sức khỏe và kinh tế cho bệnh nhân, dự phòng dễ dàng hơn khi hiểu rõ nguy
cơ của ĐQ. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về ĐQ nhưng
theo chúng tôi vẫn chưa có một nghiên cứu đầy đủ và chi tiết về những nguy cơ và
cách phòng ngừa các yếu tố nguy cơ gây ĐQ. Xuất phát từ nhu cầu trên chúng tôi
quyết định thực hiện đề tài: “ Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ tim mạch và bệnh
đột quỵ ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện Tim Mạch – BV Bạch Mai và đưa ra
hướng tư vấn giáo dục – hành vi” với những mục tiêu sau:
1. Mô tả một số đặc điểm về bệnh lý và lối sống của bệnh nhân bị đột quỵ.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan tới bệnh đột quỵ.
Viện Tim Mạch – Bệnh Viện Bạch Mai là viện lớn về điều trị tim mạch, nơi đây có đội
ngũ nhân viên y tế giàu kinh nghiệm, trình độ chuyên môn cao đảm bảo cho việc chẩn
đoán chính xác, hơn nữa viện có số lượng bệnh nhân lớn tập trung từ các tỉnh nên
thuận tiện cho việc thu thập số liệu phục vụ cho nghiên cứu được chính xác hơn.
Theo hiệu ứng Bayliss (1902) đã mô tả cơ chế tự điều hòa cung lượng máu não,
ở người bình thường có cung lượng máu não luôn cố định là 55ml/100g/phút không có
biến đổi theo cung lượng tim, nhờ vào sự co giãn của cơ trơn thành mạch. Khi có tăng
huyết áp, máu lên não nhiều, các cơ trơn thành mạch co nhỏ lại. Khi huyết áp hạ các
Thang Long University Library
mạch máu lại giãn ra để máu lên não nhiều hơn, gọi là hiệu ứng Bayliss. Huyết áp
động mạch trung bình ( là huyết áp đẩy máu lên não) được tính theo công thức:
HATB = HATTr
HATTrHATT
3
(HATB: Huyết áp trung bình, HATT: Huyết áp tâm thu, HATTr: Huyết áp tâm
trương).
Khi huyết áp trung bình thấp dưới 60 mmHg hoặc cao hơn 150 mmHg thì lưu
lượng máu não sẽ tăng hay giảm theo lưu lượng tim ( mất hiệu ứng Bayliss). Vì vậy
trong điều trị việc duy trì huyết áp ở mức ổn định là hết sức quan trọng.
Ngoài hiệu ứng Bayliss, sự điều hòa còn có cơ chế khác tham gia:
- Ảnh hưởng của yếu tố thể dịch, chuyển hóa. Các mạch máu não rất nhạy cảm với sự
thay đổi hóa học trong máu đặc biệt là nồng độ khí carbonic và oxy trong máu động
mạch. Khi PaCO2 tăng gây giãn mạch não và nếu giảm sẽ gây co mạch não. Khi PaO2
giảm sẽ làm giãn mạch não ( độ nhạy cảm ít hơn PaCO2).
- Sự điều hòa thần kinh giao cảm của mạch máu.
2.2. Phân loại đột quỵ. [13], [25]
2.2.1 Định nghĩa: ĐQ (Tai biến mạch máu não) là tình trạng tổn thương chức năng
thần kinh xảy ra đột ngột do tổn thương mạch máu não. Các tổn thương thần kinh
thường khu trú hơn là lan tỏa, tồn tại quá 24h diễn biến có thể tử vong hoặc để lại di
chứng.
2.2.2 Phân loại: ĐQ có 2 loại là nhồi máu não ( nhũn não, thiếu máu cục bộ não) và
Các yếu tố này làm tăng tỷ lệ ĐQ 7 – 10 lần.[12]:
- Nhóm không thể thay đổi được gồm: Bao gồm tuổi, giới, chủng tộc, di truyền,địa lý,
khí hậu, thời tiết…[18]
Mặc dù không thể can thiệp được vào các yếu tố nguy cơ này nhưng việc phát
hiện các yếu tố này sẽ cho biết người nào có nguy cơ bị ĐQ cao và ai cần phòng, điều
trị nghiêm ngặt các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được.
+ Tuổi: Tuổi có tác động rõ ràng lên hệ thống tim mạch. Theo thời gian nguy cơ mắc
tai biến tăng dần và người ta thấy sau tuổi 55, cứ 10 năm tỷ lệ này sẽ tăng gấp đôi.
Tuổi không thể thay đổi được nhưng việc ăn uống điều độ và sinh hoạt hợp lý có thể
làm chậm quá trình thoái hóa do tuổi tác gây ra [26].
+ Giới: Nam gặp nhiều hơn ở nữ. Tỷ lệ mới mắc ĐQ còn phụ thuộc vào tuổi ở nam cao
hơn ở nữ. Tuy nhiên ở lớp tuổi 35 – 44 và trên 85 tuổi, tỷ lệ mới mắc ở nữ cao hơn ở
nam. Việc dùng thuốc tránh thai cùng làm tăng tỷ lệ mắc tai biến ở phụ nữ trẻ. Năm
2002, theo một nghiên cứu ở Hoa Kỳ, tỷ lệ tử vong do tai biến ở phụ nữ da trắng là
53,4/100.000 và 71,8/100.000 ở phụ nữ da đen. Trong khi tử vong ở nam giới da trắng
là 54,2/100.000 và ở nam da đen 81,7/100.000[32].
+ Sinh nhẹ cân: Theo một số nghiên cứu nhận thấy có mối liên quan giữa trẻ sinh nhẹ
cân và nguy cơ bị ĐQ. Đối với người sinh dưới 2500g, tỷ suất chênh mắc ĐQ lớn hơn
2 lần so với người lúc sinh ra trên 3000g. Tuy nhiên người ta vẫn chưa tìm thấy lý do
của mối liên quan này [8].
+ Chủng tộc: So với người da trắng, những người da đen có tỷ lệ tử vong do ĐQ cao
hơn. Với độ tuổi như nhau, tỷ lệ mới mắc ĐQ ở người da đen cao hơn người da trắng
1,5 lần ở nam và 2,3 lần ở nữ. Các nguyên nhân gây ra sự khác biệt này có thể do khác
nhau về tỷ lệ béo phì, tăng huyết áp và đái tháo đường giữa hai nhóm người này. Ở các
nước phương Đông, tỷ lệ bệnh lý mạch vành thấp, trong khi khi tỷ lệ mắc tai biến
mạch máu não (TBMN) lại cao. Tăng huyết áp ở các nước phương Đông thường liên
quan đến ăn nhiều muối, yếu tố di truyền, trong khi mức lipid thấp có thể do ăn ít chất
mỡ và đạm [18].
+ Các yếu tố di truyền: Tiền sử gia đình có bố hoặc mẹ bị TBMN đều làm tăng nguy
cơ bị bệnh này. Có nhiều cơ chế liên quan đến hiện tượng này như di truyền các yếu tố
Bogouslavsky nhận định tăng huyết áp kết hợp với hút thuốc lá ở cả hai giới
nam và nữ là yếu tố nguy cơ chính gây tổn thương các động mạch lớn [29]. Tăng huyết
áp kết hợp với đái tháo đường là nguyên nhân chính dẫn tới nhồi máu não ổ khuyết do
tổn thương các nhánh động mạch sâu trong não[18]…Tăng huyết áp kết hợp với tăng
cholesterol máu sẽ làm tăng tỷ lệ NMN [18].
Mặt khác việc điều trị giảm huyết áp cũng làm giảm tỷ lệ ĐQ ( cả nhồi máu não
và chảy máu não ) từ 3,8% xuống còn 2,7% hàng năm và tỷ lệ tàn phế xuống còn 33%,
giảm tỷ lệ tử vong 16% cũng như giảm mức độ nặng do ĐQ gây ra xuống còn 24%
[30].
+ Đái tháo đường: Hiện nay các nghiên cứu đã chứng minh rằng đái tháo đường là yếu
tố nguy cơ gây ra các thể TBMN. Người ta cho rằng đái tháo đường là yếu tố làm tăng
tình trạng xơ vữa mạch não [28]. Khi mức đường huyết là 11mmol/l so với mức đường
huyết 6,4 mmol/l nguy cơ tương đối của đái tháo đường với ĐQ là từ 1,4 – 2 lần
[3],[25]. Phối hợp với tăng huyết áp, đái tháo đường làm tăng tỷ lệ mắc nhồi máu não.
Tác giả You nhận định đái tháo đường làm tăng nguy cơ ĐQ ở bệnh nhân dưới < 55
tuổi lên 11,6 lần [35].
Nếu dự phòng tốt tình trạng tăng đường máu có thể làm giảm các tổn thương
não trong giai đoạn cấp cũng như tiên lượng của ĐQ tốt hơn.
+ Hút thuốc lá: Thuốc lá làm thay đổi thành phần lipid máu, làm giảm tỷ lệ cholesterol
HDL. Ngoài ra, hút thuốc lá làm tăng Fibrinogen, kích thích kết dính tiểu cầu, tăng thể
tích hồng cầu…do đó làm tăng độ quánh của máu [8]. Hút thuốc lá trực tiếp hay thụ
động đều làm tăng nguy cơ bệnh lý tim mạch và nhất là phụ thuộc vào số lượng hút và
thời gian hút. Theo nhiều nghiên cứu ở nhiều quốc gia đều thấy rằng hút thuốc lá gây
ra ĐQ cho cả hai giới và cho mọi lứa tuổi, tăng 50% nguy cơ so với người không hút
thuốc lá [33].
Thuốc lá cũng gây ảnh hưởng khác nhau tới các thể khác nhau của ĐQ. Theo
Shinton thì tuổi và giới hút thuốc lá khác nhau sẽ gây ảnh hưởng khác nhau tới
TBMN. Tuổi dưới 55 mà hút thuốc lá sẽ có nguy cơ tương đối cao là 2,9, nguy cơ này
là 1,8 ở tuổi 55 – 74 và 1,1 trên 75 tuổi [33].
+ Rối loạn lipid: Cholesterol là thành phần trong máu, được vận chuyển trong máu.
hai lá chiếm 2,35%, nhồi máu cơ tim chiếm 3,62%, rung nhĩ 4,16% ở thể NMN tương
ứng với thể CMN là: 0,28%; 0,57%; 0,57%.[18]
+ Béo phì: Trong một nghiên cứu trên 100.000 phụ nữ có tuổi từ 30 – 55 nguy cơ tim
mạch cao gấp 3 lần ở nhóm béo nhất so với nhóm có cân nặng thấp nhất [32].
Có hai dạng béo phì: ở dạng thứ nhất mỡ thừa thường tập trung tại vùng bụng
hay gặp ở nam giới ( gọi là “ bụng bia ” hay “ người hình quả táo ”). Dạng thứ hai
được đặc trưng bởi sự tích lũy mỡ ở vùng mông và đùi thường gặp ở phụ nữ ( người
hình quả lê )[26]. Kiểu béo phì ở bụng có liên quan tới sự gia tăng mắc bệnh tim mạch
đặc biệt là bệnh mạch vành và ĐQ. Các nhà khoa học khuyến cáo: nam giới không để
vòng bụng vượt qua 90% vòng mông, ở phụ nữ thì duy trì con số này dưới 80% [2],
[14]. Để đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo Liên Hợp Quốc năm 1996 đề nghị sử
dụng chỉ số khối cơ thể ( Body Mass Idex – chỉ số khối cơ thể được tính bằng cân
nặng/ chiều cao
2
) để BMI từ 18,5 – 25 là bình thường, BMI >25 là béo phì, BMI <
18,5 là gầy. Theo AG.Shaper, SG Wannamethee thì trọng lượng quá mức trên 30% làm
gia tăng nguy cơ tai biến mạch máu não, nguy cơ ĐQ tương đối ở nhóm có chỉ số khối
cơ thể cao là 2,33 so với nhóm có chỉ số khối cơ thể thấp khi nghiên cứu trên 28.643
nam giới [32]. Ngoài ra những người béo phì thường có tăng huyết áp, đường máu cao,
tăng lipid máu, những yếu tố này kết hợp với nhau dẫn đến nguy cơ ĐQ cao hơn. Vì
vậy điều trị béo phì kết hợp với chế độ ăn kiêng, tập thể dục, dùng thuốc theo hướng
dẫn của bác sỹ là điều cần thiết và quan trọng.
+ Nghiện rượu: Có nhiều ý kiến khác nhau về vai trò của rượu đối với ĐQ. Nếu uống
1 ngày 10 – 30g ethanol đối với nam và 10 – 20 g đối với nữ thì an toàn và có lợi thông
qua giảm xơ vữa động mạch ( có thể giảm lipoprotein A hoặc tăng HDL – C hoặc hoạt
tính NO ), làm thay đổi về đông máu như làm giảm ngưng tập tiểu cầu, tăng tỷ lệ
prostacyclin/thromboxane, giảm fibrinogen, giảm kết dính hồng cầu, tăng khả năng
biến thái của hồng cầu [18],[24],[26]. Nhưng có tác giả lại thấy tỷ lệ tiêu thụ rượu tăng
lên 10% sẽ góp phần làm tăng tỷ lệ mới mắc ĐQ lên 29% và tăng tỷ lệ tử vong do ĐQ
lên 16% [30].
xấu có cơ hội gây ra bệnh.
+ Phòng bệnh cấp 2 với mục đích phát hiện ra bệnh ở giai đoạn mới chưa có triệu
chứng. Nhờ đó khi áp dụng, các phương thức điều trị có thể trì hoãn hoặc chặn đứng
không cho bệnh xảy ra.
+ Phòng bệnh cấp 3: Tránh các biến chứng xấu của bệnh đã không may mắc phải và
phòng ĐQ tái phát.
B. Tình hình nghiên cứu các yếu tố nguy cơ của ĐQ:
Từ nhiều thập kỷ qua ĐQ luôn là vấn đề thời sự cấp bách.
2.6. Trên thế giới:
- Theo điều tra tại Hội Tim mạch tại Hoa Kỳ mỗi năm có khoảng 5 triệu trường hợp bị
tai biến mới, phần lớn xảy ra sau tuổi 55 ( Rusell ) tỷ lệ tử vong: ở Hoa Kỳ năm 1977
có khoảng 182.000 người chết do tai biến chiếm 1/10 tổng số tử vong các loại [4][25].
- Tại Pháp: Năm 1982 tỷ lệ tử vong do ĐQ là 130/100.000 dân [25].
- Thái Lan: + Năm 1980: tỷ lệ mới mắc 12,7/100.000 dân[25].
+ Năm 1984 tỷ lệ mắc 18,7/100.000 dân [25].
- Nghiên cứu về ĐQ ở các nước Đông Nam Á cho thấy tỷ lệ NMN 65,4 % , CMN là
21,3%.[12]
- K.S.Wong ( Trung Quốc ) nghiên cứu các yếu tố nguy cơ gây tử vong sớm trong
NMN cấp tính của 2.403 bệnh nhân tuổi từ 56 – 75 cho thấy: tuổi trung bình là 63,7
trong đó: nam chiếm 58,3%, tăng huyết áp là 63%, đái tháo đường 26,4%, ĐQ cũ là
31,4%, bệnh tim là 4,5%, hút thuốc lá là 39,7%[36].
2.7. Tại Việt Nam
- Theo nghiên cứu của Bộ môn Thần kinh trường Đại học y khoa thành phố Hồ Chí
Minh năm 1994 – 1995 tỷ lệ hiện mắc chung là 415/100.00 dân, tỷ lệ mới mắc chung
là 161/100.000 dân [25].
- Theo nghiên cứu dịch tễ học của bộ môn Thần kinh trường Đại học Y Hà Nội tỷ lệ
hiện mắc trung bình là 115,92/100.000 dân; tỷ lệ mới mắc trung bình là 28,25; tỷ lệ tử
vong trung bình là 21,55 [25].
- Tại khoa Thần kinh bệnh viện Bạch Mai từ tháng 9 năm 1997 đến tháng 6 năm 2005
đã có 7,778 bệnh nhân ĐQ vào điều trị trong đó nam chiếm 69%, nữ 31% và NMN
- Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên toàn bộ tất cả
bệnh nhân nằm viện trong tiêu chuẩn lựa chọn và loại bỏ các bệnh nhân theo tiêu
chuẩn loại trừ thì số bệnh nhân tham gia nghiên cứu là 100 bệnh nhân ( có danh sách
kèm theo ở phụ lục 3 ).
3.4.2 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả
- Nội dung nghiên cứu:
+ Một số đặc điểm của bệnh nhân: Họ tên, tuổi, giới, địa chỉ, nghề nghiệp, trình độ văn
hóa.
Khai thác tiền sử: Các yếu tố nguy cơ gây đột quỵ như tăng huyết áp, đái tháo
đường, hút thuốc lá, uống rượu, béo phì, bệnh tim, tiền sử đột quỵ trước đây ( bệnh
nhân ), tiền sử gia đình, stress, tập thể dục, mỡ máu.
Thang Long University Library
Tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp: Khai thác phát hiện tăng huyết áp từ năm
nào? Có dùng thuốc điều trị không? Dùng thuốc thường xuyên không? Các chỉ số
huyết áp có bình thường không?
Bảng phân loại huyết áp:
Phân loại HA HA max HA min
Bình thường < 120 và < 80
Tiền tăng HA 120 – 139 hoặc 80 – 89
Tăng HA I 140 – 159 hoặc 90 – 99
Tăng HA II > 160 hoặc > 100
Chẩn đoán đái tháo đường: Theo tiêu chuẩn của TCYTTG: đường huyết lúc đói
≥ 1,26 g/l ( 7 mmol/l ) ít nhất 2 lần hoặc đường huyết bất kỳ thời điểm nào trong ngày
hoặc sau khi làm nghiệm pháp dung nạp đường huyết 2 giờ ≥ 2g/l ( 11,1mmol/l ). Khai
thác trước đây có phát hiện bị tiểu đường không? Phát hiện từ năm nào? Có dùng thuốc
điều trị không? Dùng thuốc có thường xuyên không? Chỉ số đường huyết có đạt mức
bình thường?
Nghiện rượu: Nam giới uống 60 g rượu/ ngày tương đương 1200 ml bia nồng độ
5% và 180 ml rượu mạnh, liên tục hàng năm. Nữ uống 20 g rượu/ngày tương đương
Thang Long University Library