1
BÀI TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
NHÓM 2 - LỚP KẾ TOÁN LIÊN THÔNG CHÍNH QUY 15IK01B
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CÁC CHÍNH SÁCH KINH TẾ VĨ MÔ CỦA
SINGAPORE, GIAI ĐOẠN TỪ 2000 – ĐẾN NAY
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1. Lí do chọn đề tài
Các nước đang phát triển có đặc điểm chung về kinh tế, đó là mức sống thấp, tỷ
lệ tích lũy thấp, trình độ kỹ thuật sản xuất thấp và năng suất lao động thấp. Những đặc
điểm này tạo thành một vòng tròn luẩn quẩn, tưởng như khó thoát ra được.
Trong quá trình tìm kiếm con đường phát triển, có những nước tiếp tục rơi vào
trì trệ, phát triển thụt lùi, xã hội rối ren, như một số nước châu Phi hay Nam Á. Có
những nước đã đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, đưa đất nước thoát khỏi vòng luẩn quẩn,
rút ngắn khoảng cách, thậm chí đuổi kịp các nước phát triển. Trong đó có Singapore.
Từ một nước thuộc địa, nghèo nàn, Singapore đã phát triển trở thành con rồng
châu Á và vươn lên hàng các nước phát triển trên thế giới. Để đạt được những thành
quả như vậy bên cạnh sự nỗ lực của chính phủ, của người dân là sự đúng đắn kịp thời
của các chính sách vĩ mô mà Singapore đã đề ra.Với những lí do trên chúng tôi quyết
định chọn đề tài:
“Phân tích các chính sách của nền kinh tế vĩ mô của Singapore từ năm
2000 đến nay”
1.2. Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu: dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn để phân tích các chính
sách vĩ mô của Singapore.
Mục đích nghiên cứu: so sánh những nét tương đồng để rút ra bài học kinh
nghiệp cho nền kinh tế Việt Nam.
2
Các chính sách kinh tế vĩ mô của các nước Châu Á từ năm 2000 đến nay
3.2. Chủ thể nghiên cứu
Các chính sách kinh tế vĩ mô của Singapore từ năm 2000 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu như trên, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chung:
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các phương
pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp phân tích, tổng hợp, mô hình hóa, so sánh
5. Đóng góp đề tài
5.1. Về mặt khoa học
Thông qua nghiên cứu đề tài này phần nào làm sáng tỏ các khái niệm, lý thuyết,
phương pháp nghiên cứu Xã hội học, đăc biệt là hệ thống hoá những khái niệm, lý
thuyết liên quan các chính sách kinh tế vĩ mô.
5.2. Về mặt thực tiễn
Phân tích làm rõ các chính sách vĩ mô của nền kinh tế Sigapore thấy được mặt
tiêu cực và mặt tích cực nhằm rút ra bài học kinh nghệm cho Việt Nam.
4
Chương 1; TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH VĨ MÔ
1. Khái niệm chung về các vấn đề trong nền kinh tế vĩ mô
1.1. Sản lượng quốc gia
1.1.1.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
1.1.1.1. Khái niệm:
- GDP là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng của nền kinh tế
được sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định, trong một phạm vi lãnh thổ
- Đều là chỉ tiêu giá trị.
- Được tính dựa trên sản phẩm cuối cùng.
Bao gồm giá trị hàng hóa:
Bao gồm các giá trị hàng hóa:
- Do công dân nước khác tạo ra - Do công dân của nước đó tạo ra
trên phạm vi nước đó.
- Do công dân của nước đó tạo ra
trên phạm vi lãnh thổ của nước
mình.
trên phạm vi lãnh thổ của nước - Do công dân của nước đó tạo ra
mình
trên lãnh thổ của nước khác,
1.2. Lãi suất
1.3. Lạm phát
1.3.1.
Khái niệm
- Lạm phát (inflation) là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế tăng
lên trong một thời gian nhất định.
- Giảm phát (deflation) là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế giảm
xuống.
- Giảm lạm phát (disinflation) là sự sụt giảm của tỷ lệ lạm phát.
- Mức giá chung được hiểu là mức giá trung bình của nhiều loại hàng
hóa và dịch vụ và được đo bằng chỉ số giá.
mọi người dự kiến rằng nó sẽ tiếp tục xảy ra trong tương lai.
- Hợp đồng về lương, các kế hoạch, chính sách của chính phủ, các thỏa
thuận về lãi suất, hợp đồng mua bán…đều dựa trên mức lạm phát này.
7
1.3.3.
Tác động của lạm phát
- Sản lượng và việc làm
- Phân phối lại thu nhập
Giữa người cho vay và người vay
Giữa người hưởng lương và trả lương
Giữa người mua và bán các loại cổ phiếu
Giữa chính phủ với dân chúng
- Thay đổi cơ cấu kinh tế
- Nền kinh tế kém hiệu quả
Lạm phát làm sai lệch tín hiệu giá
Mất nhiều thời gian và sức lực đối phó lạm phát
Chi phí thực đơn
Rối loạn thị trường vốn, biến dạng đầu tư
Giảm năng lực cạnh tranh hàng hóa trong nước
1.3.4.
Biện pháp kiềm chế lạm phát
- Lạm phát do cầu kéo (tác động lên cầu):
Thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ thu hẹp
Giảm chi ngân sách
9
vào thị trường lao động đang chờ việc…
- Loại thất nghiệp này tồn tại ngay cả khi thị trường lao động cân bằng
1.6.2.2. Thất nghiệp chu kỳ
- Thất nghiệp chu kỳ (thất nghiệp theo lý thuyết Keynes) là loại thất
nghiệp được tạo ra trong tình trạng nền kinh tế suy thoái
1.6.3. Tác hại của thất nghiệp
- Đối với cá nhân người lao động:
Giảm thu nhập
Kỹ năng, chuyên môn mai một
Hạnh phúc gia đình bị đe dọa…
- Đối với xã hội:
Sản lượng nền kinh tế giảm sút
Chính phủ phải tăng chi tiêu cho trợ cấp
Tệ nạn xã hội, tội phạm gia tăng
1.6.4. Các biện pháp giảm thất nghiệp
- Đối với thất nghiệp chu kỳ:
Thực hiện chính sách tài khóa mở rộng
Thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng
Cuối cùng tăng Tổng cầu
- Đối với thất nghiệp tự nhiên:
Phát triển thị trường lao động
Đào tạo
Tạo thuận lợi trong việc cư trú
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn
2. Khái niệm chung về các chính sách kinh tế vĩ mô
2.1. Chính sách tài khóa
2.1.1.
- Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô do ngân hàng TW hay cơ
quan hữu trách về tiền tệ trong nền kinh tế thực hiện việc điều chỉnh lượng
cung tiền và lãi suất trong nền kinh tế.
2.2.2. Mục tiêu
- Điều tiết lượng cung tiền trong nền kinh tế để:
Ổn định lạm phát.
Giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Kích thích nền kinh tế phát triển.
11
2.2.3. Công cụ
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
- Lãi suất chiết khấu: lãi suất mà NH thương mại phải trả khi vay tiền
của NH trung ương
- Nghiệp vụ thị trường mở: mua hay bán trái phiếu CP.
2.2.4. Phân loại
- Chính sách tiền tệ mở rộng
Tăng cung tiền, áp dụng khi nền kinh tế suy thoái.
- Chính sách tiền tệ thắt chặt
Giảm cung tiền, áp dụng khi nền kinh tế có lạm phát cao.
12
Chương 2: PHÂN TÍCH CÁC CHÍNH SÁCH VĨ MÔ CỦA
SINGAPORE TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY
1. Tổng quan chung về Singapore
1.1. Vị trí địa lí, sơ lược lịch sử hình thành
Singapore có truyền thống là một trong những quốc gia phát triển có tỷ lệ thất
nghiệp thấp nhất, tỷ lệ thất nghiệp tại đây không vượt quá 4% trong thập kỷ qua,
chạm mức cao 3% trong khủng hoảng tài chính toàn cầu 2009 và giảm xuống 1,9%
vào 2011.
14
1.3. Chế độ chính trị
Singapore là một nước cộng hòa nghị viện, có chính phủ nghị viện nhất viện
theo hệ thống Westminster đại diện cho các khu vực bầu cử.
Hiến pháp của quốc gia thiết lập hệ thống chính trị dân chủ đại diện
Quyền hành pháp thuộc về Nội các Singapore, do Thủ tướng lãnh đạo, và ở một
mức độ thấp hơn rất nhiều là Tổng thống.
2. Tình hình kinh tế Singapore từ năm 2000 đến nay
2.1. Sản lượng quốc gia
2.1.1. Tổng sản phẩm quốc dân (GDP) từ năm 2000 đến nay
- Theo số liệu từ cục thống kê Singapore, tổng GDP danh nghĩa và GDP thực
từ năm 2000 tính đến 2014 như sau (đơn vị tính:triệu đô la Singapore và %)
Từ năm 2000 đến năm 2014, GDP của Singapore tăng 224,871.4 triệu đô la
Singapore, gần bằng 136.106 % so với giá trị của năm 2000, trong đó khu vực công
15
nghiệp đóng góp 25% và dịch vụ là 75%.
Qua biểu đồ trên, có thể thấy được, GDP thực của Singapore có sự biến động
o Trong giai đoạn 2000-2004, GDP thực có cao hơn so với GDP danh
nghĩa, tuy nhiên không nhiều. Điều nay cho thấy mức giá chung của Singapore
-1.12
2002
4.2
2003
4.5
2004
9.5
2005
7.3
2006
8.6
2007
9.02
2008
1.74
2009
-0.8
2010
14.7
Tốc độ tăng trưởng của Singapore năm 2000 là 9.04%, nền kinh tế phục hồi
2.3. Lạm phát
2.3.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) từ năm 2000 đến nay (lấy năm 2014 làm
gốc)
(theo số liệu thống kê của cục thống kê Singapore)
2000
2001
1.3
1
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
1
18
2.3.2. Nhận xét
Dựa theo bảng số liệu thống kê trên, chúng ta có thể thấy được Singapore là
một đất nước có chỉ số giá cả (CPI) có nhiều biến động nhưng đã được chính phủ
khắc phục một cách hiệu quả, tỷ lệ lạm phát được giữ ở mức độ vừa phải, tức là dưới
10%:
o Chỉ số CPI cao nhất là năm 2008, lên đến 6.6%, do ảnh hưởng của
cuộc khủng hoảng giá dầu trên Thế giới, khiến giá cả có chiều hướng tăng vọt.
Nhưng đến năm 2009, chỉ số CPI giảm sâu, xuống còn 0.6%, điều này chứng tỏ,
sau cuộc khủng hoảng giá dầu mỏ, mặc dù tình trạng nền kinh tế bị ảnh hưởng vẫn
còn, nền kinh tế chưa kịp hồi phục nhưng chính phủ Singapore đã có một chính
sách vận hành nền kinh tế tốt, khả quan, vượt qua được tình trạng ảnh hưởng do
khủng hoảng kéo dài nhanh hơn nhiều quốc gia khác.
o Từ năm 2000 đến năm 2002, chỉ số CPI luôn giảm, trong đó năm 2002,
chỉ số CPI < 0%, điều này chứng tỏ, tại Singapore trong khoảng thời gian này, đã
xảy ra hiện tượng “giảm phát”. Đây là hệ quả của những cú sốc kinh tế khiến tốc
độ tăng trưởng kinh tế giảm mạnh, dòng vốn không được luân chuyển, nền kinh tế
19
suy thoái và trì trệ.
o Từ năm 2009 trở đi, chỉ số CPI ngày càng biến động nhiều hơn, tình
trạng lạm phát xảy ra ngày càng nhiều hơn, nhưng nhìn chung vẫn còn trong mức
độ hợp lý và có thể kiểm soát được.
nhập khẩu hàng hóa. Việc đồng đô Sing liên tục tăng giá hay tỷ giá hối đoái liên tục
giảm khiến cho hàng hóa nhập khẩu rẻ hơn, trong khi hàng hóa xuất khẩu lại trở nên
đắt đỏ hơn với người nước ngoài làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa với người
nước ngoài kém. Điều này gây bất lợi cho xuất khẩu, đặc biệt là một quốc gia phụ
thuộc rất nhiều vào xuất nhập khẩu như Singapore.
2.5. Cán cân xuất nhập khẩu
Singapore là một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào các hoạt động xuất nhập
khẩu.
Do đó, Singapore được xem là trung tâm xuất nhập khẩu hoạt động theo
phương thức: mua sản phẩm thô, tinh luyện và xuất khẩu trở lại.
Theo tổng cục thống kê Singapore, từ năm 1964 đến năm 2013, nhập khẩu của
Singapore trung bình là 11.945.996,5 nghìn SGD, đạt mức cao nhất là 43.135.700
nghìn SGD vào tháng 07/2013 và mức thấp nhất là 266.381,0 SGD vào tháng
07/1964.
Tỷ trọng các mặt hàng nhập khẩu chính của Singapore được thể hiện như sau:
21
Tỷ trọng của các đối tác nhập khẩu nhập khẩu của Singapore bao gồm (%)
Năm 2000, kim ngạch nhập khẩu của Singapore với các bạn hàng lớn như sau
(triệu đô la):
T.Trường
Năm
2000
Trung Quốc
Tỷ trọng của các thị trường xuất khẩu được xác định như sau:
Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu của Singapore với các bạn hàng lớn như sau
(triệu đô la):
T.Trường
Năm
2000
Trung Quốc
Nhật
Châu Âu
Hoa Kỳ
ASEAN
1,042.5
3,243.9
6,561.4
6,898.2
4,966
2011
2012 2013
2014 2015 (2 quý đầu năm)
1.95
1.95
0
2.175 2.025
1.9
1.075
Nhận xét:
Nhìn chung, chính phủ Singapore đã kiểm soát được tình trạng thất nghiệp có hiệu
quả. Tỷ lệ thất nghiệp thấp, tuy nhiên chỉ số có việc làm tăng lên không đáng kể., chỉ
24
2.9%/Nguyên nhân là do nhu cầu làm việc vẫn cao hơn nhu cầu tuyển dụng
Đây là dấu hiệu ban đầu cho sự phát triển chậm lại của lực lượng lao động địa
phương khi mà một thế hệ bắt đầu bước vào độ tuổi nghỉ hưu và một phần lực lượng
lao động trẻ bắt đầu tham gia thị trường.
Bên cạnh đó, tăng trưởng lao động nước ngoài chậm lại cũng đồng nghĩa với
2007, tăng lên mức 46.347.570.005 USD. Năm 2008, cả thế giới chao đảo vì cuộc
khủng hoảng tài chính xuất phát từ Mỹ và lan rộng khắp thế giới, Singapore cũng vì
thế mà bị ảnh hưởng theo. Năm 2008, cán cân vãng lai giảm xuống ở mức:
28.838.313.309 USD, giảm 37,7% so với năm trước đó nhưng vẫn có mức thặng dư
cao hơn năm 2005. Sau năm 2008, khi nền kinh tế Singapore dần hồi phục, mức thặng
dư đã tăng dần, năm 2009 thặng dư đạt: 33.482.026.376 USD, năm 2010 đạt
620.255.100.173 USD và năm 2011, tăng lên mức là 653.323.005.068 USD.
Nhìn chung tài khoản vốn của Singapore có nhiều biến động do cuộc khủng
hoảng tài chính năm 2008 nhưng cán cân vốn của Singapore vẫn luôn ở mức thặng
dư, điều này chứng tỏ đầu tư nước ngoài cao hơn đầu tư trong nước, dòng tiền đầu tư
có xu hướng đổ vào Singapore. Trước năm 2008, tài khoản vốn tăng cao. Năm 2005
tài khoản vốn chỉ đạt mức là 67812374.26 USD. Đến năm 2007, tài khoản vốn đã đạt
mức: 634.192.080,4 USD; tăng 9,35 lần so với năm 2005 và tăng 2,45 lần so với năm
2006. Tuy nhiên, năm 2008 tài khoản vốn tụt xuống chỉ còn 66.383.044,23 USD.
Thấp hơn năm 2005 và bằng 0,11 lần so với năm 2008. Nguyên nhân là do tác động
của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008. Sau năm 2008 tài khoản vốn của Singapore
hồi phục dần nhưng rất chậm. Năm 2009 đạt mức là: 149,935,083 USD, năm 2010 là:
131,002,737.4 USD và năm 2011 là: 157,096,084.4. Tuy tài khoản vốn tăng khá chậm
nhưng Singapore vẫn là một nước thu hút đầu tư với môi trường phát triển thuận lợi,
chế độ kinh tế hàng đầu thế giới.
Chính sách thương mại của Singapore phù hợp, thông thoáng, tạo điều kiện
phát triển thương mại của đất nước. Nhờ thực hiện tự do hoá thương mại, cùng với
những ưu đãi cụ thể mà hàng năm Singapore đã thu hút được một nguồn vốn đầu tư