MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU
1
CHƯƠNG 1: THẤT NGHIỆP VÀ CÁC CHÍNH SÁCH KINH TẾ VĨ MÔ
CHỐNG THẤT NGHIỆP
2
1.1. Giới thiệu môn học, vị trí của môn học trong chương trình đại học 2
1.1.1. Những vấn đề chung của kinh tế học 2
1.1.2. Vị trí của môn học trong chương trình học đại học 4
1.2. Phân tích các vấn đề về thất nghiệp 4
1.2.1. Khái niệm 5
1.2.2. Tỷ lệ thất nghiệp 5
1.2.3. Phân loại thất nghiệp 6
1.2.4. Tác hại của thất nghiệp 8
1.3. Các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm làm giảm tỷ lệ thất nghiệp 10
1.4. ảnh hưởng của các chính sách trên đối với nền kinh tế 11
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ MỨC NHÂN DỤNG CỦA VIỆT NAM THỜI KỲ 2000
- 2008
13
2.1. Tình hình chung của kinh tế - xã hội ở Việt Nam thời kỳ 2000-
2008
13
2.2. Tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam thời kỳ 2000 - 2008 14
2.3. Chính sách của Chính phủ Việt Nam đã sử dụng để chống thất
nghiệp và ổn định thị trường lao động
16
2.4. Quan điểm về thực trạng hiện trường Việt Nam hiện nay 17
KẾT LUẬN
23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
º Mâu thuẩn giữa sự hạn chế về nguồn lực và nhu cầu không ngừng tăng về của
cải vật chất của con người. Tất cả những lý thuyết kinh tế đi theo mục đích tìm ra
những phương án khác nhau trong việc sử dụng nguồn lực có hạn để tạo ra nhiều của
cải vật chất khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của con người được gọi chung là kinh
tế học.
Kinh tế học là môn khoa học về sự lựa chọn – nó giải thích tại sao các cá nhân,
doanh nghiệp, hoặc chính phủ lại đưa ra lựa chọn như vậy khi họ phải đối mặt với sự
khan hiếm. Hay nói cách khác kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu các thức con
người sử dụng các nguồn lực khan hiếm để tạo ra của cải vật chất nhằm thoả mãn tối
đa nhu cầu của con người.
b) Phân nhánh kinh tế học
Các nhà kinh tế nhìn nhận và phân tích nền kinh tế để lý giải cơ chế hoạt động
của nó từ hai góc độ vi mô và vĩ mô.
Kinh tế Vi mô - Kinh tế Vĩ mô
3
BÀI TẬP LỚN Môn: Kinh tế vĩ mô 1
Kinh tế Vi mô là một bộ phận của kinh tế học nói chung, nghiên cứu hành vi của
các cá nhân và các doanh nghiệp và cách thức tương tác giữa các tác nhân này trên thị
trường. Kinh tế học vi mô rất cụ thể chi tiết.
VD:
- Hộ gia đình mua bao nhiêu hàng hóa, cung cấp bao nhiêu giờ lao động
- DN thuê bao nhiêu lao động và bán bao nhiêu hàng hóa
- Giá cả được hình thành như thế nào 1.1.2. Kinh tế học vĩ mô
Kinh tế học vĩ mô là một bộ phận của kinh tế học. Vì vậy, việc nghiên cứu
phương pháp nghiên cứu kinh tế học vĩ mô phải thông qua phương pháp nghiên cứu
kinh tế học. Kinh tế học vĩ mô quan tâm đến việc nghiên cứu sự vận động của những
mối quan hệ kinh tế chủ yếu trên bình diện toàn diện toàn bộ nền kinh tế. Sự vận động
của các mối quan hệ trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Các mối quan hệ mà kinh tế học vĩ mô sẽ nghiên cứu là:
1. Sản lượng và tăng trưởng kinh tế
giảm quá nhanh, hạn chế thấp nhất sự gia tăng lạm phát.
* Kinh tế đối ngoại: ngày nay hầu hết các quốc gia đề có nền kinh tế mở được
thể hiện thông qua hoạt động xuất nhập khẩu. Các hoạt động đi vay và cho vay thu hút
vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Mục đích của kinh tế đối ngoại là ổn định tỷ giá
hối đoái thực hiện cán cân thương mại quốc tế.
1.1.2. Vị trí của môn học trong chương trình học đại học
Thực hiện chủ trương đổi mới chương trình, giáo trình và nâng cao chất lượng
giảng dạy của Bộ giáo dục và đào tạo. Trường đại học Hàng Hải đã đưa bộ môn kinh
tế học vĩ mô vào giảng dạy ngay từ những năm đầu của đại học, với mục đích giúp
sinh viên nắm vứng các chương trình môn học, hiểu sâu hơn lý thuyết và biết sử dụng
các phân tích kinh tế vĩ mô để nhận thức và giải quyết các vấn đề kinh tế.
1.2. Phân tích các vấn đề về thất nghiệp
Khi nền kinh tế tăng trưởng, sản xuất phát triển, lúc này các doanh nghiệp mở
rộng sản xuất và thuê mướn thêm nhân công. Tuy nhiên, khi kinh tế rơi vào suy thoái,
5
BÀI TẬP LỚN Môn: Kinh tế vĩ mô 1
sản xuất bị thu hẹp làm cho một số lao động bị mất việc và trở thành người thất nghiệp.
Điều này chứng tỏ rằng lao động không được sử dụng hết gây lãng phí cho nền kinh tế.
Ở những quốc gia khi nền kinh tế rơi vào suy thoái thì thất nghiệp luôn là vấn đề
kinh tế vĩ mô mà các nhà kinh tế quan tâm và tìm cách giải quyết.
1.2.1. Khái niệm.
Thất nghiệp trong kinh tế học là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà
không tìm được việc để làm.
1.2.2. Tỷ lệ thất nghiệp
* Tại sao lại có thất nghiệp?
- Nếu mọi người đều nhanh chóng tìm được việc làm (f = 1), khi đó tình trạng
thất nghiệp thu hẹp lại, và tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên sẽ gần bằng không.
- Có 2 lý do tại sao f < 1:
1. Sự tìm kiếm việc làm
2. Tính cứng nhắc của tiền lương
Chẳng hạn như những thanh niên mới bước và độ tuổi lao động, học sinh, sinh
viên mới tốt nghiệp…không phải tìm được việc ngay hoặc tìm được việc như họ mong
muốn. Trong điều kiện thị trường lao động luôn biến động thì thất nghiệp tạm thời
luôn tồn tại. Người ta luôn muốn có công việc tốt hơn.
* Thất nghiệp cơ cấu: là loại hình thất nghiệp do cơ cấu hàng hoá dịch vụ thay
đổi.
Vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà nhu cầu về hàng hoá dịch vụ của doanh
nghiệp và hộ gia đình thay đổi theo thời gian. Và do đó làm cầu lao động để sản xuất
ra các loại hàng hoá đó cũng thay đổi theo. Ví dụ: có một loại bánh bông lan xuất hiện
được người tiêu dùng đánh giá là ngon hơn bánh quy không bán được cầu lao động để
sản xuất bánh quy giảm , đồng thời làm tăng nhu cầu về lao động sản xuất bánh bông
lan.
Hay thất nghiệp cơ cấu còn được giải thích như sau:
7
BÀI TẬP LỚN Môn: Kinh tế vĩ mô 1
Chẳng hạn như những thanh niên mới bước và độ tuổi lao động, học sinh, sinh
viên mới tốt nghiệp…không phải tìm được việc ngay hoặc tìm được việc như họ mong
muốn. Trong điều kiện thị trường lao động luôn biến động thì thất nghiệp tạm thời
luôn tồn tại. Người ta luôn muốn có công việc tốt hơn.
* Thất nghiệp cơ cấu: là loại hình thất nghiệp do cơ cấu hàng hoá dịch vụ thay
đổi.
Vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà nhu cầu về hàng hoá dịch vụ của doanh
nghiệp và hộ gia đình thay đổi theo thời gian. Và do đó làm cầu lao động để sản xuất
ra các loại hàng hoá đó cũng thay đổi theo. Ví dụ: có một loại bánh bông lan xuất hiện
được người tiêu dùng đánh giá là ngon hơn bánh quy không bán được cầu lao động để
sản xuất bánh quy giảm , đồng thời làm tăng nhu cầu về lao động sản xuất bánh bông
lan.
8
BÀI TẬP LỚN Môn: Kinh tế vĩ mô 1
Hay thất nghiệp cơ cấu còn được giải thích như sau:
nguồn lực con người không được sử dụng vỏ phí cơ hội sản xuất thêm sản phẩm và
dịch vụ.
- Thất nghiệp còn có nghĩa là sản xuất ít hơn, giảm tính hiệu quả của sản xuất
theo quy mô.
- Thất nghiệp dẫn đến nhu cầu xã hội giảm, hàng hoá và dịch vụ không có người
tiêu dùng, cơ hội kinh doanh ít ỏi, chất lượng sản phẩm và giá cả tụt giảm. Hơn nữa,
tình trạng thất nghiệp cao đưa đến nhu cầu tiêu dùng ít đi so với khi nhiều việc làm, do
đó cơ hội đầu tư cũng ít hơn.
Từ 1/1/2009, lao động sẽ được hỗ trợ 60% mức tiền lương, tiền công tháng đóng
bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi bị mất việc làm.
Theo nghị định 127 Thủ tướng vừa ký ban hành, người được hưởng bảo hiểm
thất nghiệp là công dân Việt Nam giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc xác
định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng; hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc
không xác định thời hạn với người sử dụng lao động.
Lao động sẽ được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi đáp ứng đủ 3 điều kiện: đã
đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi bị mất
việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc; đã đăng ký với cơ
quan lao động khi bị mất việc làm, chấm dứt hợp đồng lao động và chưa tìm được việc
làm sau 15 ngày kể từ khi đăng ký.
Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền
công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp. Thời
10
BÀI TẬP LỚN Môn: Kinh tế vĩ mô 1
gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng phụ thuộc vào thời gian làm việc có đóng
bảo hiểm thất nghiệp của lao động.
Nguồn hình thành Quỹ bảo hiểm thất nghiệp gồm: lao động đóng bằng 1% tiền
lương, tiền công; người sử dụng đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo
hiểm thất nghiệp của những lao động tham gia loại hình bảo hiểm này, ngân sách hỗ
trợ bằng 1% quỹ và tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư quỹ
Cụ thể lao động hưởng 3 tháng, nếu có từ đủ 12 đến dưới 36 tháng đóng bảo
nghiệp thu hẹp sản xuất. Lúc này chính phủ tăng chi tiêu và giảm thuế sẽ khiến sản
lượng tăng lên và mức việc làm đầy đủ có thể khôi phục và tỷ lệ thất nghiệp giảm.
- Các chính sách nhằm vào đường cung người lao động như chính sách nâng cao
mức lương trung bình. Tiền công cao, tỷ lệ người thất nghiệp tự nguyện giảm. Đào tạo
nghề đa dạng hoá các loại nghề khác nhau giúp cho người lao động có khả năng đổi
nghề.
- Khi Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương giảm lãi
suất. Lãi suất giảm đã khuyến khích tiêu dùng đầu tư doanh nghiệp mở rộng sản
xuất, cung việc làm tăng dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp giảm.
1.4. Ảnh hưởng của các chính sách trên đối với nền kinh tế
- Chính sách tài khoá: công cụ của chính sách tài khoá là thuế và chi tiêu của
Chính phủ. Khi Chính phủ thực hiện tăng chi tiêu (trong ngắn hạn) tổng cầu tăng dẫn
đến thu nhập tăng, đường AS dịch chuyển sang phải, khi đó R tăng, thu nhập quốc dân
tăng, giá tăng, thu nhập lại giảm.
Giả sử nền kinh tế đang lâm vào tình trạng suy thoái và thất nghiệp, các hãng tư
nhân, người tiêu dùng không muốn chi tiêu cho tiêu dùng. Tổng cầu ở mức rất thấp.
Lúc này để mở rộng tổng cầu, chính phủ phải tăng chi tiêu hoặc giảm thuế, nâng cao
mức hci tiêu chung của nền kinh tế. Trong một mô hình hình số nhân đầy đủ, việc
Chính phủ tăng chi tiêu và giảm thuế sẽ khiến sản lượng tăng lên và mức việc làm đầy
đủ có thể khôi phục. Ngược lại khi nên kinh tế đang trong trạng thái phát đạt quá mức,
lạm phát tăng lên, chính phủ có thể giảm chi tiêu và tăng thuế, nhờ đó mức chi tiêu
chung giảm đi, sản lượng giảm theo và lạm phát sẽ chững lại. Như vậy, chính sách tài
khoá có thể coi là phương thuốc hữu hiệu để ổn định nền kinh tế. Tuy nhiên trong thực
tế chính sách tài khoá không có đủ sức mạnh như vậy, đặc biệt trong nền kinh tế hiện
đại. Vì vậy hệ thống tài chính hiện đại có những yếu tố tự ổn định mạnh mẽ, đó là
những thay đổi tự động về thuế và hệ thống bảo hiểm.
12
BÀI TẬP LỚN Môn: Kinh tế vĩ mô 1
Tuy nhiên những nhân tố ổn định chỉ có tác động làm giảm một phần các giao
động của nền kinh tế, mà không xoá bỏ hoàn toàn những giao động đó. Phần còn lại
10,27% (cao hơn so với cùng kỳ năm 2006: 7,65% - 2007: 8,7%).
- Giá trị sản xuất của các ngành đề tăng cao
- Tổng thu ngân sách đạt khá
- Đầu tư phát triển: Tổng nguồn vốn đầu tư 6 tháng đầu năm huy động được
7639 tỷ đồng, bằng 44,71% kế hoạch cả năm, tăng 24,04% so với cùng kỳ. Trong đó
vốn ngân sách đầu tư thực hiện 733,363 tỷ đồng mới đạt 35,32% kế hoạch tăng
11,04% so với cùng kỳ công tác thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp có nhiều tiến
bộ.
- Lĩnh vực văn hoá xã hội có nhiều chuyển biến tích cực. Chất lượng khám chữa
bệnh được nâng lên, không để xảy ra dịch bệnh lớn. Thực hiện tốt các chính sách ưu
đãi người có công và các trợ cấp xã hội khác. Công tác phòng chống mại dâm và cai
nghiện ma tuý được quan tâm chỉ đạo. Công tác xoá đói giảm nghèo, đào tạo nghề giải
quyết việc làm đạt kết quả khá.
- Quốc phòng an ninh được đảm bảo. Dân chủ cơ sở tiếp tục được quan tâm chỉ
đạo tốt hơn. Giải quyết khiếu nại tố cáo được các cấp, các ngành quan tâm không để
xảy ra điểm nóng. Phòng chống tham nhũng lãng phí bước đầu đạt một số kết quả đáng
kể. Tai nạn giao thông giảm.
- Công tác cải cách hành chính tiến bộ
14
BÀI TẬP LỚN Môn: Kinh tế vĩ mô 1
- Tuy nhiên vẫn có một số chỉ tiêu kinh tế chưa đạt kế hoạch như:
- Sản xuất nông nghiệp chưa có năng lực mới đáng kể nên tốc độ tăng trưởng
trong những tháng sau không tăng nhiều so với cùng kỳ 2007 do năng lực sản xuất đã
huy động hết, ảnh hưởng của lạm phát gây tác động lớn đến sản xuất nông nghiệp
- Còn dễ thất thu thuế trong một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh, khai thác
khoáng sản.
- Xây dựng cơ bản tiến độ chậm do giá dầu vào tăng cao vật liệu xây dựng khan
hiếm, nhiều công trình ngừng thi công. Kết quả giải ngân kế hoạch 2008 còn thấp.
- Trong lĩnh vực văn hoá xã hội: Chất lượng đào tạo ở miền núi chưa chuyển
biến. Chưa có biện pháp lâu dài ngăn chặn học sinh bỏ học. Tình trạng ô nhiễm môi
cao. Trong khi đó không ít ngành nghề đào tạo lại không phù hợp với yêu cầu của thị
trường, dẫn đến lao động không có nghề phù hợp, khó tìm việc làm.
- Thống kê cũng cho thấy từ năm 2001 tới nay, lực lượng lao động vẫn tiếp tục
tăng với tốc độ cao, bình quân mỗi năm tăng 2,4% tương đương khoảng hơn 1 triệu lao
động. Trong khu vực thành thị tăng gắp 2,5 lần so với nông thông. Tuy nhiên hiện nay
do chính sách thắt chặt tiền tiệ khắc nghiệt đưa đến kết quả lạm phát tuy còn ở mức
cao những đã bắt đầu được kiềm chế ảnh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp vừa và
nhỏ. Nguy cơ thua lỗ phá sản ở không ít doanh nghiệp đã thể hiện và đi cùng với nó là
thất nghiệp đang có xu hướng tăng cao. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong
độ tuổi đã liên tục giảm, theo xu hướng giảm dần theo các năm từ 2000 đến 2007. Nếu
như năm 2000 tỷ lệ thất nghiệp là 6,4%, năm 2001 còn 6,28% thì đến năm 2006 tỷ lệ
này còn 5,31%, năm 2007 còn 4,644%. Điều này cũng nói lên thực tế là nhiều năm qua
do đầu tư tăng trưởng liên tục cùng quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá diễn ra
mạnh, lực lượng nhân công càng được huy động nhiều lên theo xu hướng toàn dựng
lao động. Nhưng giờ đây kinh tế có chiều hướng đi xuống, một chu kỳ kinh doanh kết
thúc thì tỷ lệ thất nghiệp tăng trở lại dường như là hợp quy luật. Việt Nam cũng không
phải là ngoại lệ với quy luật phổ biến như vậy. Vấn đề là Nhà nước chuẩn bị ứng phó
như thế nào để không làm lãng phí lao động còn đang ở độ tuổi trẻ, đã ít nhiều được
đào tạo và không làm nảy sinh những vẫn đề xã hội do thất nghiệp gây ra.
- Theo nhiều chuyên gia kinh tế, khả năng tỷ lệ thất nghiệp sắp tới sẽ tăng khá
rõ. Theo tính toán, nếu GDP giảm 2% so với GDP tiềm năng thì tỷ lệ thất nghiệp sắp
tới tăng 1%. Trước khi được quốc hội cho phép điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng GDP
năm nay còn 7%, Chính phủ đã được giao thực hiện chỉ tiêu tăng trưởng năm 2008 là
8,5 - 9% nếu sụt giảm tăng tửởng theo dự tính từ 8,5-9% chỉ còn 6,5% trong năm nay
chắc chắn sẽ dẫn đến hệ quả làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp, lực lượng lao động trong độ
16
BÀI TẬP LỚN Môn: Kinh tế vĩ mô 1
tuổi hiện nay ở Việt Nam gần 45 triệu người nên tỷ lệ % thất nghiệp tăng lên của con
số này sẽ là một vấn đề lớn. Nói tóm lại về mặt bằng chung thì tỷ lệ thất nghiệp ở Việt
Nam từ 2000 đến 2008 có xu hướng giảm dần.
BÀI TẬP LỚN Môn: Kinh tế vĩ mô 1
ngày càng sát hơn với cơ cấu và trình độ của người tìm việc ngày càng sát hơn với cơ
cấu kinh tế và sự đòi hỏi của doanh nghiệp.
- Thực hiện chính sách tăng mức lương cơ bản của người lao động. Đối với loại
hình thất nghiệp tự nguyện, nhưng người tự nguyện không muốn làm việc, do việc làm
và mức lương tương ứng chưa hoà hợp với mong muốn của mình. Giờ đây mức lương
cơ bản được nâng lên phần nào đáp ứng được nhu cầu sống của con người đã làm cho
lực lượng người thất nghiệp tự nguyện sớm quay trở lại làm việc và tìm kiếm được
công việc phù hợp.
- Việc tiến hành giảm lãi suất của ngân hàng TW đã giúp cho các doanh nghiệp
tăng nguồn vốn đầu tư, tiếp tục đẩy mạnh và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh
tạo nên nhiều công ăn việc làm cho người lao động.
2.4. Quan điểm về thực trạng hiện trường Việt Nam hiện nay.
- Thị trường lao động của Việt Nam hiện nay là thị trường khá năng động và đa
dạng với nguồn lao động dồi dào. Việt Nam vốn là một nước đông dân số, người trong
độ tuổi lao động đạt tỷ lệ lớn trong tổng số dân cư của cả nước. Lực lượng lao động
trong độ tuổi hiện nay ở nước ta gần 45 triệu người nên tỷ lệ phần trăm thất nghiệp
tăng lên của con số này sẽ là một vấn đề lớn.
- Tuy nhiên theo tình trạng thực tế hiện nay thì tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng
trong độ tuổi liên tục giảm theo xu hướng giảm dần. Điều đó chứng tỏ rằng trong nhiều
năm qua, do đầu tư tăng mạnh, tăng trưởng liên tục cùng quá trình đd thịhoá, công
nghiệp hoá diễn rânhnh, lực lượng nhân công này càng được huy động nhiều lên theo
xu hướng toàn dựng nhân công.
- Lực lượng lao động Việt Nam khá dồi dào nhưng trình độ của người lao động
không đồng đều, chất lượng lao động không cao vì vậy giá trị sức lao động của người
Việt Nam còn ở mức thấp, phần lớn là lao động tay chân, số lượng lao động trí óc chưa
cao. Giá nhân công tại thị trường lao động Việt Nam còn ở mức thấp.
- Trước đây với lợi thế về vị trí địa lý kết hợp với nguồn lao động dồi dào, giá
rẻ, Việt Nam đã thu hút được rất nhiều nhà đầu tư vào trong nước. Nhưng ngày nay vời
đòi hỏi của nền kinh tế thị trường, trình độ công nghệ kỹ thuật phát triển thì thị trường,
hành chính - thư ký, kế toán và kỹ thuật. Bên cạnh đó, báo cáo cũng cho thấy sự sụt
giảm của các kĩnh vực tiện ích công cộng, bất động sản hay vận tải giao nhận. Nguyên
nhân chính là do sự suy giảm các lĩnh vực này do nhu cầu công việc ít, các ứng viên
thường lựa chọn công việc có nhiều chỉ tiêu hơn.
Nhưng vẫn còn thiếu về chất. Trên thị trường lao động hiện tại, nguồn nhân lực
và tay nghề cao là vẫn đang là mối quan tâm của nhà tuyển dụng. Thị trường rất cần
19
BÀI TẬP LỚN Môn: Kinh tế vĩ mô 1
chuyên gia về quản trị kinh doanh, lập trình viên máy tính, các nhà quản lý trung gian
hiểu biết về tài chính và tiếp thị với yêu cầu cơ bản về Tiếng Anh, những công nhân có
tay nghề cao ham học hỏi. Tuy nhiên, nguồn cung ứng lao động có chất lượng trên thị
trường còn hạn chế. Bên cạnh đó, kỹ năng làm việc nhóm, khả năng hợp tác để hoàn
thành tốt công việc của lao động Việt Nam là kém. Nhiều nhà quản lý nước ngoài đã
nhận xét rằng: “Lao động Việt Nam làm việc rất tốt khi tự mình giải quyết công việc,
nhưng nếu đặt trong một nhóm thì hiệu quả giảm đi nhiều”. Chính điều này đã khiến
cho nhiều doanh nghiệp không thành đạt được, cho dù họ đã tập hợp công nhân với
đẳng cấp cao. Theo đánh giá, các chương trình đào tạo của Việt Nam hiện nay thường
nhấn mạnh kiến thức lý thuyết chứ chưa quan tâm đến kỹ năng thực hành. Hầu hết các
sinh viên ra trường đều không thể bắt tay vào công việc ngay mà phải qua đào tạo lại.
Để tạo nên một bước tiến trong đào tạo, cơ chế tuyển dụng và sử dụng nguồn nhân lực
trong các doanh nghiệp, đặc biệt là trong doanh nghiệp Nhà nước cần có sự thay đổi
theo hướng ưu tiên theo lao động có chất lượng có tay nghề cao, đáp ứng nhu cầu của
doanh nghiệp. Trong những năm gần đây, với sự tăng trưởng kinh tế một cách ấn
tượng (khoảng 8%/năm), Việt Nam đang tạo ra sự hấp dẫn và mạnh mẽ trên phạm vi
toàn cầu. Sức hút đối với các nhà sản xuất và đầu tư quốc tế bắt nguồn từ chính giá trị
nội tại và tương lai tươi sáng của Việt Nam. Lực lượng lao động trẻ từ 18 - 34 tuổi
chiếm 45% và hàng năm tiếp tục được bổ sung 1.5 triệu người. Giai đoạn 2001 - 2005
đã tạo được việc làm cho 5,55 triệu lao động; năm 2006 là 1,22 triệu và năm 2007 là
1,25 triệu lao động.
Việc làm được tạo ra chủ yếu ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ (hằng năm có từ
tại có 3 mức lương tối thiểu khác nhau, phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp cũng
như khu vực hoạt động. Nhìn chung, mức lương tối thiểu của người lao động trong các
doanh nghiệp ở miền Nam thường cao hơn ở ngoài Bắc, mức lương tối thiểu cao nhất
là doanh nghiệp có vốn FDI (khoảng 60 USD/tháng). Nhưng một phần không nhỏ mức
lương này dùng để đóng bảo hiểm xã hội. Việc trả lương theo trình độ cũng được áp
dụng tại Việt Nam. Một công nhân chưa đào tạo trong khối sản xuất công nghiệp hiện
có mức lương trung bình 75USD/tháng cộng thêm tiền bảo hiểm xã hội và tiền thêm
giờ. Họ còn có cơ hội phát triển nghề nghiệp. Ngoài ra, Luật lao động đã quy định thời
gian làm việc là ngày làm 8 tiếng, hệ số lương làm thêm giờ là 1.5 với thứ 7 và 2.0 với
ngày chủ nhật.
Vẫn được coi là nơi có sản xuất thấp trong hiệu quả lao động vẫn cần được nâng
cao. Tuy nhiên Việt Nam đang thiếu chuyên gia và công nhân lành nghề với chỉ
khoảng 27% người lao động đã qua đào tạo. Chính vì vậy, các nhà chuyên dụng cần
lưu ý rằng: trong thời gian đầu sẽ rất bỡ ngỡ, họ thực sự chưa chuẩn bị cho công việc
21
BÀI TẬP LỚN Môn: Kinh tế vĩ mô 1
mình sẽ làm. Để nâng cao hiệu suất lao động Việt Nam cần cân đối tỷ lệ lao động đã
qua đào tạo phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Ví dụ: trong tỷ lệ kỹ sư - cán bộ kỹ thuật -
công nhân lành nghề ở Malaysia là 1-4-10, thì ở Việt Nam do chưa có được thị trường
lao động thực thụ nên tỷ lệ này là 1-1-3 (điều này sẽ dẫn đến chi phí cho lương của
ngành công nghiệp ở mức bất thường).
+ Vì vậy việc các doanh nghiệp Việt Nam trước mắt phải quan tâm đến việc đào
tạo và gắn kết các lao động trẻ có tài năng, và vừa tìm cách giữ chân họ khi trưởng
thành. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có vốn, vừa phải có tầm nhìn và có chức
năng quản trị tốt. Mặt khác, chất lượng đào tạo cần được nâng lên và cần phù hợp với
nhu cầu thực tế. Điều tất yếu, trong cuộc cạnh tranh toàn cầu chỉ có quốc gia có nguồn
nhân lực cao mới phát triển. Ngoài ra, việc hoàn thiện khung pháp lý về thị trường lao
động cũng như thực hiện nghiêm túc và đầy đủ các quy định và thoả ước trong mối
liên hệ giữa người và người (người lao động và người sử dụng lao động) cũng cần đặc
biệt quan tâm. Suy cho cùng hiệu suất lao động chỉ có thể đạt được khi dựa trên nền
trường lao động, chính sách kinh tế vĩ mô cần hướng tới mục tiêu cụ thể.
Những vấn đề cần thiết được rỳt ra khi làm bài tập lớn
- Phải nắm chắc và hiểu một cỏch sõu sắc phần lớ thuyết, như vậy sẽ giỳp chỳng
ta dễ dàng tổng kết ngắn gọn và đầy đủ nhất cỏc ý chớnh của bài học.
- Biết ỏp dụng cỏc cụng thức và lý thuyết đó học vào việc giải cỏc bài tập kinh
tế nhỏ trước khi làm cỏc bài tập lớn, trỏnh nhầm lẫn khi ỏp dụng cỏc cụng thức hay lý
thuyết vào giải cỏc bài tập tỡnh huống.
- Trỏnh nhầm lẫn cỏc kớ hiệu, phải biết vẽ và vẽ chớnh xỏc cỏc loại đồ thị, cỏc
loại đường( đường cung, đường cầu,…)
- Việc học tập và nghiờn cứu phải luụn gắn liền với thực hành.
- Cần sưu tầm và tham khảo thờm những tài liệu ngoài giỏo trỡnh trờn lớp nhằm
nõng cao kiến thức, có được một cỏch nhỡn và tư duy toàn diện hơn về mụn học Kinh
tế vĩ mụ.
- Lý thuyết phải được vận dụng vào thực tế để chứng minh và khẳng định. Như
vậy cỏc kiến thức đó học sẽ được ghi nhớ lâu hơn.
- Làm bài tập lớn chớnh là một lần ụn tập lại hầu như toàn bộ cỏc kiến thức đó
học. Nú sẽ giỳp ta hiểu rừ hơn những vấn đề cũn thắc mắc hoặc chưa hiểu qua cỏc bài
tập được giao.
24
BÀI TẬP LỚN Môn: Kinh tế vĩ mô 1
* Một số kiến nghị:
Tuy rằng kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển nhanh nhưng vẫn coi là chưa
tương xứng với tiềm năng. Việt Nam có vị trí địa lý đặc biệt năm giữa ngã tư đường
hàng hải và hàng không quốc tế nên việc chú trọng và phát triển ngành hàng hải, đóng
tàu cần được đầu tư hơn nữa.
Để giảm tỷ lệ thất nghiệp Nhà nước ta cần phải có sự quan tâm hơn nữa đến
người lao động để họ yêu nghề, hăng say lao động kéo theo năng suất lao động tăng
thu nhập quốc dân tăng. Một trong những vấn đề chủ chốt là công tác lao động - tiền
lương cho người lao động. Tiền lương là số tiền mà người lao động được nhận do họ
bán sức lao động của mình vì thế mà có chế độ tiền lương và tiền thưởng hợp lý để họ