Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
21
khẩu khác nhau, và những ước lượng của ông ta cho thấy một sự thiên lệch dai
dẳng gây bất lợi cho sản xuất hàng xuất khẩu nông nghiệp truyền thống như đường,
dừa, dứa, và thuốc lá.
Bautista cũng sử dụng mô hình thông số mức độ tác động tổng gộp để mô phỏng
một kòch bản ngoại thương tự do. Kết quả ở đây cũng chỉ ra một thiên lệch lớn bất
lợi cho sản xuất hàng hóa có thể xuất khẩu tương đối so với hàng hóa nội đòa và
những họạt động cạnh tranh với hàng nhập . Hàng hoá xuất khẩu truyền thống chòu
đựng gánh nặng lớn hơn so với hàng hóa xuất khẩu không phải truyền thống.
Nghiên cứu phân tích hai nguồn dao động của tỷ giá hối đoái thực ở Phi-lip-pin, đó
là các biện pháp hạn chế ngoại thương và sự thâm hụt ngoại thương kéo dài. Nói
chung, chính sách ngoại thương là một yếu tố nổi bật trong thiên lệch giá cả bất lợi
cho nông nghiệp. Cùng lúc, tác động của thâm hụt ngoại thương đối với tỷø giá hối
đoái thực giải thích tại sao, ngay cả sau khi tự do hoá những hạn chế ngoại thương
ở Phi-lip-pin vào những năm 1970, sản xuất hàng hóa nông nghiệp có thể xuất
khẩu tiếp tục bò đánh thuế, dù là tiềm ẩn.
Trong chương 7 đề cập đến Pa-kis-tan, Dorosh xây dựng một khuôn khổ đònh lượng
đầu những năm 1980, các chính sách trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế tăng cường
thuế trực tiếp thông qua các chính sách giá khu vực đối với lúa mì, gao basmati, và
gạo thường , dù rằng ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái thực nhỏ hơn ảnh hưởng đó vào
những năm 1960. Cây mía là một câu chuyện khác: nó được bảo hộ trực tiếp đáng
kể cho tới năm 1982, và dù cho dao động trong tỷ giá hối đoái thực đang lan khắp,
sản xuất đường nhận được mức bảo hộ toàn bộ dương trong suốt giai đoạn này,
ngoại trừ những năm từ 1972 đến 1977.
Hai chương kế tiếp- đề cập đến Ác-hen-ti-na và Chi-lê -xem xét những yếu tố xác
đònh tăng trưởng nông nghiệp trên giác độ toàn bộ nền kinh tế, nhấn mạnh tính
năng động của điều chỉnh kinh tế. Trong chương 8 đề cập đến Ác-hen-ti-na,
Cavallo, Mundlak, và Domenech kết luận rằng nông nghiệp là một lực lượng rất
mạnh hậu thuẩn cho tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của quốc gia từ 1913
đến vào khoảng 1930. Sau đó, sức sống kinh tế của Ac-hen-ti-na giảm đi rõ rệt .
Dù rằng giá xuất khẩu nông sản thế giới của đất nước này giảm liên tục xét theo
giá thực, nhưng các tác giả quy mức tăng trưởng chậm hơn chủ yếu là do những
chính sách kinh tế nội đòa.
Giả thiết của nghiên cứu này là các chính sách ngoại thương và chính sách kinh tế
vó mô là những yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến thành quả kinh tế. Các tác giả đã
xây dựng mô hình kinh tế lượng để xem xét những ảnh hưởng động của một cuộc
cải cách chính sách giả thiết vào năm 1930. Để mô phỏng những ảnh hưởng của tự
do hóa ngoại thương, họ ước lượng những phương trình hành vi đối với tiêu dùng,
đầu tư tư nhân và phân bổ giữa các khu vực của đầu tư, tỷ trọng các yếu tố, mức thu
dụng lao động, sản lượng, và các dòng ngoại thương. Phân tích thực nghiệm này
tiên đoán mức tăng trưởng cao hơn đáng kể của nông nghiệp so với năm gốc, chủ
yếu là do tích lũy vốn nhanh chóng trong nông nghiệp và mức tăng trưởng sản
lượng phi nông nghiệp nhanh hơn. Trong chừng mực mà những công nghệ mới
được hàm chứa trong hàng hóa tư bản, đầu tư mới trong nông nghiệp có tác động
tích cực đến mức năng suất trong nông nghiệp vượt quá mức có thể quy cho sự tăng
trong số các biến nội sinh khác.
Các tác giả trình bày 3 mô phỏng chính sách bao gồm những thay đổi trong giá của
sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp và trong tỷ giá hối đoái thực. Sử dụng những
mức đầu tư gộp và cung lao động trong quá khứ, họ tìm thấy rằng những thay đổi
mang tính giả thiết trong giá tương đối ảnh hưởng đến sự phân bổ nguồn lực một
cách đáng kể: lao động và vốân dòch chuyển đến những khu vực có suất sinh lợi cao
hơn. Trong mô phỏng này, tỷ lệ vốn - lao động trong nông nghiệp giảm liên tục và
độ co giãn của đường tổng cung dài hạn đối với nông nghiệp là 1,4. Ước lượng độ
co giãn này cao hơn một cách đáng kể so với ước lượng thu được từ những quốc gia
khác trong phân tích hồi quy phương trình đơn vốn không tính đến những tác động
của sự thay đổi trong giá nông sản trên thò trường các yếu tố sản xuất (xem Herdt
1970; Reca 1980; và Bond 1983)
4
. Nó cũng cao hơn một cách đáng kể so với
những ước lượng được đưa ra bởi những người theo trường phái cơ cấu vào những
thập niên 1950 và 1960 về mức độ đáp ứng của tổng cung nông nhiệp đối với
những động cơ khuyến khích ở Châu Mỹ La Tinh.
Những cuộc khảo sát toàn khu vực ở chương 10 (Châu Á), 11 (Châu Phi), và 12
(Châu Mỹ La Tinh) tổng kết một số kết quả tìm thấy trong những nghiên cứu khác
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
với những nhà sản xuất sản phẩm cạnh tranh với hàng nhập khẩu không được bảo
hộ, đã phải trả ít nhất là một nửa chi phí của sự bảo hộ cao đối với ngành công
nghiệp nội đòa.
Chi tiêu của chính phủ là một biến số chính sách nữa có ảnh hưởng đến tỷ giá hối
đoái thực. Đặc biệt trong trường hợp của Châu Mỹ La Tinh và vùng Phi châu hạ
Sahara, tỷ giá hối đoái thực thường lên giá do thiếu kỷ cương thu chi ngân sách.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
25
Điều này làm tổn hại đến khả năng sinh lợi tương đối của việc sản xuất ra hàng
hóa có thể ngoại thương và kìm hãm mức tăng sản lượng.
Nông nghiệp đóng một vai trò tương tự nổi bật trong những chiến lược phát triển
của ba khu vực này. Nét chung của ba chiến lược này là sự nhấn mạnh của chúng
vào công nghiệp hóa như là yếu tố then chốt đối với tăng trưởng kinh tế, được tài
trợ một phần thông qua chuyển giao nguồn lực từ nông nghiệp. Thứ nhì, nhiều
quốc gia dựa chủ yếu vào thuế từ ngoại thương như nguồn thu của chính phủ, thực
tế là một gánh nặng thuế không thể tránh khỏi đối với xuất khẩu nông nghiệp.
Một trong những kết quả quan trọng nhất của các cuộc khảo sát ba khu vực này là,
vào những tác động của chính sách ngoại thương và chính sách kinh tế vó mô,
nhưng họ không xem xét lý do tại sao các chính phủ chấp nhận thực hiện những
chính sách gây biến dạng và tại sao những nhà hoạch đònh chính sách đã không thể
hoặc là không sẵn lòng sửa chữa chúng.
Một vài quốc gia miễn cưỡng chuyển sang một cơ cấu khuyến khích trung hòa hơn
(hay ít bò biến dạng hơn) thông qua việc cải cách chính sách ngoại thương bởi vì
họ nghó sự biến động trong ngắn hạn của giá quốc tế sẽ lan truyền một cách đầy đủ
hơn vào cơ cấu giá nội đòa dưới chế độ ngoại thương mở cửa hơn. Sự ổn đònh giá
trong nông nghiệp có tầm quan trọng đủ để xứng đáng có một cuộc thảo luận chi
tiết, thảo luận này được đưa ra trong chương 13. Luận điểm quan trọng được
Knudsen và Nash đưa ra là giá nội đòa trung bình trong dài hạn phù hợp với xu
hướng giá thế giới không ngăn cản những nỗ lực của chính phủ ổn đònh giá nông
sản trong ngắn hạn.
Những người làm chính sách ở các quốc gia đang phát triển cũng quan tâm một
cách sâu sắc đến những tác động tiêu cực trong ngắn hạn về thu chi ngân sách, về
cán cân thanh toán, và tăng trưởng mà sự điều chỉnh sang chế độ ngoại thương tự
do hơn có thể kéo theo. Vấn đề chính sách này được thảo luận trong chương 15 với
sự tham chiếu đặc biệt đến các quốc gia đang phát triển nào bò hạn chế trong việc
tiếp cận nguồn tín dụng thương mại và cần thực hiện điều chỉnh kinh tế vó mô để
xử lý các vấn đề khó khăn liên quan về việc trả gốc và lãi nợ nước ngoài, thiếu hụt
ngoại tệ, hoạt động kinh tế bò kìm hãm.
Những nghiên cứu quốc gia và các cuộc khảo sát khu vực không xem xét những
yếu tố chính trò liên quan đến sự biến dạng được quan sát trong giá nông sản. Dó
nhiên điều quan trọng là nhận ra được những giới hạn chính trò trong việc lựa chọn
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
những áp lực chính trò cân bằng lại những nhóm đồng quyền lợi đang tìm cách để
duy trì bảo hộ công nghiệp với tổn phí do nông nghiệp và phần còn lại của nền
kinh tế gánh chòu. Sự hiểu biết cũng tạo ra sự cảm nhận về tính hợp pháp của
những quyết đònh chính trò ảnh hưởng đến chính sách kinh tế, mà nhờ đó chúng có
thể được thực hiện dễ dàng hơn.
Những người làm chính sách không phải là một nhóm đồng nhất. Rất có thể là có
những luận điểm khác nhau trong cuộc tranh luận chính sách bên trong chính phủ.
Ngoại trừ khi có một cá nhân hoặc một hệ tư tưởng mạnh thống trò, sự nhất trí hoàn
toàn về các lựa chọn chính sách vốn tạo ra nhiều người hưởng lợi và nhiều người
bò tổn thất trong số những khu vực cử tri khác nhau thì rất hiếm. Không rõ là liệu
những người thủ lónh có chấp nhận một tập hợp chính sách kinh tế bất kỳ nào mà
không có kiến thức về những tác động có thể xảy ra của nó đến giá tương đối và
phân phối lợi ích ròng liên quan hay không.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
28
Vì vậy những kết quả của phân tích thực chứng (đối nghòch với phân tích chuẩn
tắc) là một nhập lượng quan trọng trong hoạch đònh chính sách, đóng góp vào cuộc
thảo luận có cơ sở, cả bên trong và bên ngoài chính phủ, về những giá trò tương đối
dụng sản lượng bình quân đầu người như là biến độc lập ( Schiff 1987, 385)
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
29
Tài liệu được dòch từ nguyên bản BIAS AGAINST AGRICULTURE: TRADE AND MACROECONOMIC
POLICIES IN DEVELOPING COUNTRIES (Chapter 1: The Relevance of Trade and Macroeconomic
Policies for Agriculture) của ROMEO M. BAUTISTA. Bản quyền 1993 của I C S PRESS/
CONTEMPORARY STUDIES. Tài liệu được phép sử dụng của I C S PRESS/ CONTEMPORARY
STUDIES thông qua Copyright Clearance Center, được phép truy cập Internet đến ngày 25/02/2005.