Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá 2003-2004
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés 1 Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang HùngSỰ PHÙ HP CỦA CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ
CHÍNH SÁCH KINH TẾ VĨ MÔ ĐỐI VỚI NÔNG NGHIỆP
. Tiềm năng kinh tế nông nghiệp chưa được biến thành hiện thực trong nhiều quốc
gia có mức thu nhập thấp rất lớn. Những khả năng công nghệ ngày càng thuận lợi
hơn, nhưng những cơ hội kinh tế cần phải có để nông dân tại các quốc gia này có
thể biến tiềm năng này thành hiện thực vẫn còn xa vời.
- Theodore W. Schultz, sự biến dạng những động cơ khuyến khích nông nghiệp
Cho tới gần đây, các tác phẩm về phát triển chưa quan tâm nhiều đến tác động
của chính sách ngoại thương và chính sách kinh tế vó mô đối với những cơ hội kinh
tế có sẵn cho các nhà sản xuất nông nghiệp. Một lý do cho vấn đề này là sự đònh
hướng theo từng khu vực và hạn hẹp của phép phân tích chính sách nông nghiệp
trong thời gian qua; một lý do khác là quan niệm sai lầm phổ biến cho rằng nông
nghiệp chỉ đóng một vai trò hạn chế trong phát triển kinh tế.
là ban đầu - đã thúc đẩy tiến trình dòch chuyển cơ cấu này. Những quốc gia đang
phát triển đã thúc đẩy những ngành công nghiệp cạnh tranh với nhập khẩu thông
qua thuế nhập khẩu cao và các biện pháp hạn chế nhập khẩu đònh lượng. Họ cũng
đã cung cấp ngoại tệ cho việc nhập khẩu những hàng hóa tư bản và nguyên liệu
liên quan với các điều kiện rất thuận lợi.
Chính sách thay thế nhập khẩu của những quốc gia đang phát triển khác nhau về
thời hạn, tính toàn diện và cường độ. Trong một vài nơi, đáng chú ýù nhất là Hàn
Quốc và Đài Loan, chiến lược phát triển trở thành hướng ngoại ở giai đoạn ban đầu
của quá trình công nghiệp hoá và khuyến khích xuất khẩu các sản phẩm chế tạo
công nghiệp thâm dụng lao động. Vào thập niên 70, sự nhấn mạnh dòch chuyển
sang những hàng hóa xuất khẩu thâm dụng kỹ năng, vốn và công nghệ, và chính
phủ bắt đầu giảm việc bảo hộ công nghiệp, chấp nhận tỷ giá hối đoái thực tế hơn,
và phát triển cơ sở hạ tầng xuất khẩu. Tuy nhiên, nói chung chế độ ngoại thương
vẫn còn mang tính bảo hộ mạnh những ngành công nghiệp cạnh tranh nhập khẩu.
Trong giai đoạn đầu tiên của quá trình thay thế nhập khẩu, những quốc gia này
hướng về bảo hộ những ngành công nghiệp nhẹ. Sau đó, họ tập trung vào những
ngành công nghiệp thượng nguồn đòi hỏi lao động có kỹ năng , vốn đầu tư lớn, và
công nghệ tiên tiến hơn. Đây là trường hợp ở hầu hết các nước Châu Mỹ La Tinh
trong suốt những thập niên 50 và 60 và ở nhiều nước châu Á vào thập niên 60 và
70.
Vào thập niên 70 những quốc gia đang phát triển đã bắt đầu nhận ra giá trò của
việc xuất khẩu hàng chế tạo công nghiệp và đã trợ cấp đối với một số hàng công
nghiệp xuất khẩu. Tuy nhiên, các khoản trợ cấp này không bù đắp được một cách
đầy đủ những thiên lệch chung bất lợi cho xuất khẩu, và một vài khoản khuyến
khích chỉ được thực hiện nếu những nhà sản xuất hàng xuất khẩu sử dụng nhập
lượng nhập khẩu.
Những nhà sản xuất hàng nông sản xuất khẩu ở trong tình trạng thậm chí còn xấu
ngoại thương và một cách gián tiếp không khuyến khích sản xuất hàng hóa có thể
ngoại thương . Trợ cấp xuất khẩu hàng chế tạo công nghiệp có cùng tác động về
mặt đònh tính giống đối với tỷ giá hối đoái (vì rằng chúng có xu hướng gia tăng
cung xuất khẩu ); thuế xuất khẩu nông sản có tác động ngược lại. Khu vực nông
nghiệp đặc biệt dễ bò tổn thương bởi các biến dạng trong tỷ giá hối đoái thực bởi vì
sản lượng nông nghiệp của những quốc gia đang phát triển có xu hướng có thể
ngoại thương cao, cho dù nó được sản xuất bởi những quốc gia đang phát triển có
thu nhập cao như Chilê ( được thảo luận trong chương 9 của tài liệu này) hoặc là
những quốc gia có thu nhập thấp như Zaire (chương 5). Không có gì đáng ngạc
nhiên, tự do hóa ngoại thương và quản lý tỷ giá hối đoái thực dường như là có tác
động tích cực đối với sản xuất nông nghiệp hơn là sản xuất phi nông nghiệp (như
đã được chỉ ra trong chương 8 bàn về Ac-hen-ti-na).
Tỷ giá hối đoái thực cũng có thể bò ảnh hưởng bởi sự mất cân bằng trong tài khoản
đối ngoại của quốc gia. Thành phần không thể bền vững trong thâm hụt tài khoản
vãng lai – ví dụ do việc vay mượn nước ngoài quá nhiều – được dùng làm cơ sở để
bảo vệ tỷ giá hối đoái được đònh giá cao, được minh họa bởi kinh nghiệm của Phi
lip pin sau cú sốc giá dầu năm 1973-1974 và năm 1978-1980 (chương 6).
Một yếu tố nữa có thể làm cho tỷ giá hối đoái tăng lên là căn bệnh Hà lan – nó
được mang tên này do kinh nghiệm của Hà lan với việc phát hiện ra khí đốt tự
nhiện. Căn bệnh này xuất hiện khi có sự phát triển bùng nổ trong một hàng hóa có
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
đoái thực (Valdés và Siamwalla 1988). Tuy nhiên hai tỷ giá này không tương ứng
1-1. Nếu giá ở nước ngoài và các biện pháp hạn chế ngoại thương được giữ không
đổi, tác động của một sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái danh nghóa đối với tỷ giá hối
đoái thực sẽ phụ thuộc vào cách giá của hàng hóa không thể ngoại thương thay đổi
đáp lại những chính sách kinh tế vó mô được thực hiện. Vì vậy, chính sách tiền tệ
và chính sách thu chi ngân sách của một quốc gia, việc vay mượn nước ngoài, và
việc quản lý tỷ giá hối đoái danh nghóa có thể ảnh hưởng đáng kể đến tỷ giá hối
đoái thực và do đó ảnh hưởng đến khả năng mang lại lợi nhuận của việc sản xuất
hàng hóa có thể ngoại thương.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
5
Tác động trực tiếp của chính sách ngoại thương đối với giá tương đối:
Như những thảo luận trước đây chỉ ra, bất kỳ phân tích nào về tác động của chính
sách ngoại thương đối với giá tương đối đều phải phân biệt giữa hàng hóa có thể
nhập khẩu và hàng hóa có thể xuất khẩu, và giữa hàng chế tạo công nghiệp có thể
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
6
những nhập lượng như vậy chiếm tỷ phần nhỏ trong giá trò của sản lượng nông
nghiệp và bởi vì “hầu hết trợ cấp nhập lượng nông nghiệp” là dưới mức biên tế
( Krueger, Schiff, và Valdés 1988,258).
Chính sách thay thế nhập khẩu của các quốc gia đang phát triển dẫn đến một cơ
cấu khuyến khích vốn phân biệt chống lại những nhà sản xuất hàng xuất khẩu và
sản xuất sản phẩm sơ cấp. Trong số những quốc gia đang phát triển ở Châu Á,
Băng- la- đét và Phi-lip-pin có tỷ lệ bảo hộ danh nghóa đối với việc sản xuất cạnh
tranh nhập khẩu cao hơn nhiều so với sản xuất xuất khẩu; và kể từ đầu thập niên
70, các sản phẩm chế tạo công nghiệp xuất khẩu của họ được hưởng mức bảo hộ
trực tiếp lớn hơn sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu (chương 10).
Tác động giá trực tiếp của chính sách ngoại thương của các quốc gia đang phát
triển cũng khác nhau trong phạm vi nông nghiệp .Theo những kết quả nghiên cứu
gần đây của Ngân Hàng Thế Giới ( Krueger, Schiff, và Valdés 1988), các nông sản
xuất khẩu quan trọng nhất thì “không được bảo hộ” (bò đánh thuế) nặng hơn những
lương thực thực phẩm chủ yếu – có lẽ do mong muốn tự túc về lương thực thực
phẩm và sự dễ dàng về mặt chính trò và hành chính của việc đánh thuế vào cây
trồng xuất khẩu thương mại so với cây lương thực để tồn tại. Nhiều quốc gia đang
phát triển - đặc biệt là những quốc gia có mức thu nhập cao như Chi lê, Hàn Quốc,
và Ma-lai-xi-a- đã bảo hộ sản xuất lương thực thực phẩm thông qua các biện pháp
hạn chế ngoại thương.
Mối quan hệ dài hạn này chỉ được khẳng đònh một phần trong nghiên cứu của Ngân
Hàng Thế Giới, nghiên cứu này so sánh mức bảo hộ danh nghóa cho hai nhóm cây
lương thực cạnh tranh nhập khẩu chính và sản phẩm được xuất khẩu trong 16 quốc
gia đang phát triển suốt giai đoạn 1975-1979 và 1980-1984. Chỉ có 9 trong số 16
sản phẩm trong 2 nhóm thể hiện mức bảo hộ bình quân vào năm 1980-1984 cao
hơn 1975-1979. Trên tổng thể, dường như chính sách giá cả chuyên biệt trong từng
khu vực suốt nửa đầu thập niên 80 đã không cải thiện được “cơ hội kinh tế”, như
giáo sư Schultz đề cập chúng trong lời tựa đầu chương này.
Những quốc gia đang phát triển đã theo đuổi những kiểu bảo hộ nông nghiệp khác
nhau. Thí dụ, Hàn quốc phân biệt đối xử gây bất lợi cho nông nghiệp vào đầu thập
niên 70, nhưng rồi chuyển sang bảo hộ vào suốt giai đoạn giữa thập niên 80. Sự
dòch chuyển này được quy là do “những khó khăn xã hội và chính trò liên quan đến
sự điều chỉnh nguồn lực giữa các khu vực” cùng với sự dòch chuyển nhanh chóng
trong lợi thế so sánh ở Hàn quốc từ nông nghiệp sang công nghiệp (Honma và
Hayami 1987,59).
Ngược lại, Ma-lai-xi-a đánh thuế rất nặng những nhà sản xuất cây trồng xuất khẩu
(cao su và dầu cọ), họ chủ yếu không phải gốc người Malai ( Jenkins và Lai
1989), nhưng lại bảo hộ những nhà nông sản xuất gạo có quyền lực chính trò người
Mã-lai. Những chính sách giá nông sản ở Sri-Lan-ka ban đầu tương tự với những
chính sách giá ở Ma-lai-xi-a. Cho tới giữa những năm 70, Sri-Lanka đánh thuế vào
những nhà sản xuất cây trồng công nghiệp rất thành đạt (trà và cao su) để tài trợ
cho những chi tiêu xã hội lớn của nó. Chi phí chính trò tương đối nhỏ bởi vì những
đồn điền trà và cao su sử dụng một số lượng ít công nhân, chủ yếu là người Tamil.
Cùng lúc nước này bảo hộ sản xuất gạo, được thống trò bởi người Sin-ha-li có ảnh
hưởng lớn về mặt chính trò. Khi thặng dư từ các vụ trà bắt đầu giảm và nguồn lực từ
những bộ phận khác của nền kinh tế không đủ bù đắp sự sút giảm này, những nhà
chính trò ở Sri-Lanka phải “dựa vào chi tiêu bằng cách chòu thâm hụt và những
cách thu xếp nhanh khác” (Bhalla 1988,90). Cuối cùng một cuộc khủng hoãng kinh
gián tiếp dẫn đến sụt giảm trong tỷ giá hối đoái thực và trong giá tương đối nội đòa
của hàng hóa có thể xuất khẩu. Tương tự , thuế xuất khẩu không những làm giảm
một cách trực tiếp giá nội đòa của hàng hóa có thể xuất khẩu, mà còn gián tiếp gia
tăng tỷ giá hối đoái thực và giá nội đòa của hàng hóa có thể nhập khẩu (Lerner
1936), trong khi đó trợ cấp xuất khẩu có tác động ngược lại. Quy mô của những tác
động gián tiếp này phụ thuộc vào mức độ có thể thay thế giữa hàng hóa có thể
ngoại thương và hàng hóa nội đòa trong sản xuất và trong tiêu dùng. Yếu tố này
được gọi là thông số mức độ tác động. Ở Ác-hen-ti-na, Chi-lê, Cô -lum-bia, Ni-giê-
ri-a, Pê-ru, Phi-lip-pin và Zai-re, mức bảo hộ mạnh những sản phẩm công nghiệp
đã đánh một mức thuế gián tiếp đáng kể lên hàng nông nghiệp cạnh tranh nhập
khẩu và sản xuất xuất khẩu (Valdés).
Thuế quan và các biện pháp hạn chế đònh lượng đối với hàng nhập khẩu công
nghiệp, cũng như trợ cấp đối với hàng xuất khẩu công nghiệp, cũng dẫn đến sự
đònh giá quá cao tỷ giá hối đoái thực, trong khi thuế xuất khẩu nông sản có tác
động bù đắp, ngoại trừ trường hợp cầu nước ngoài không co giãn. Kinh nghiệm của
Phi-lip-pin cho thấy ảnh hưởng quan trọng của các biện pháp hạn chế ngoại thương
đối với tỷ giá hối đoái thực ( chương 6).
Sự thâm hụt không thể bền vững trong tài khoản đối ngoại là một nguồn nữa của sự
đònh giá quá cao tỷ giá hối đoái trong các quốc gia đang phát triển. Vì thế các
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Sự đònh giá quá cao tỷ giá hối đoái do cả các biện pháp hạn chế ngoại thương
chuyên biệt theo khu vực lẫn do thâm hụt không thể bền vững trong tài khoản đối
ngoại, đã tạo ra tác động gián tiếp tiêu cực đối với giá của nông sản có thể ngoại
thương chủ yếu trong những quốc gia đang phát triển (Kruger , Schiff, và Valdés
1988). Những ước lượng của các tác động giá này thay đổi từ giá trò trung bình thấp
4,3% và 9,5% cho giai đoạn 1975-1979 và 1980-1984 của Ma-lai-xi-a đến giá trò
cao nhất là 66% và 89% cho cùng các giai đoạn tương ứng ở Gha-na. Nhiều quốc
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
10
gia đang phát triển, đặc biệt là những quốc gia có mức thu nhập thấp, đã duy trì
những mức không bảo hộ tổng thể cao (những tác động gián tiếp và trực tiếp) cho
cả các cây trồng xuất khẩu và thực phẩm cạnh tranh với hàng nhập khẩu. Thật
đáng ngạc nhiên, trong vài trường hợp, những tác động giá gián tiếp lớn hơn rất
nhiều so với mức bảo hộ danh nghóa trực tiếp. Hơn nữa, trong nhiều trường hợp
mức bảo hộ trực tiếp dương đối với cây lương thực thấp hơn tác động về giá gián
tiếp âm có thể quy cho sự đònh giá quá cao tỷ giá hối đoái. Ở Phi-lip-pin, sự kiểm soát nhập khẩu và ngoại hối thònh hành có tác động trực tiếp
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
11
nghiệp trong những quốc gia đang phát triển, hoạt động thông qua sự đònh giá quá
cao được kích thích của tỷ giá hối đoái thực nói chung là không có chủ ý. Thiên
lệch giá gây bất lợi cho nông nghiệp này không thể bò loại trừ một cách đơn giản
bằng cách điều chỉnh tỷ giá hối đoái danh nghóa. Nó có thể được sửa chữa ngay tại
nguồn gây ra nó, có nghóa là hạ thấp rào cản nhập khẩu vốn bảo hộ cho những
ngành công nghiệp nội đòa một cách không hợp lý và khôi phục lại cân bằng trong
cán cân thanh toán. Tỷ giá ngoại thương đối với bên ngoài và tỷ giá hối đoái thực:
Sự dòch chuyển giá của nước ngoài cũng ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các giá
nội đòa của hàng hóa có thể xuất khẩu, hàng hóa có thể nhập khẩu, và hàng hóa
nội đòa, và vì vậy ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái thực. Ước lượng những tác động
được kích thích bởi chính sách đối với tỷ giá hối đoái thực trong những nghiên cứu
dẫn ra trước đây giả thiết rằng tỷ giá ngoại thương bên ngoài không đổi được xác
đònh một cách ngoại sinh dưới giả thiết một nước nhỏ. Một sự thay đổi ngoại sinh
trong tỷ giá ngoại thương của một quốc gia tác động đến tỷ giá hối đoái thực theo
những cách khác nhau.
Mặc dù nhiều nhà kinh tế đồng ý rằng tỷ giá ngoại thương xấu đi dẫn đến giảm giá
trong tỷ giá hối đoái thực, nhưng mối quan hệ giữa hai biến số phần nào phức tạp.
Khi giá xuất khẩu giảm so với hàng nội đòa (trong khi giá nhập khẩu không đổi)
Dù rằng chính sách không thể ảnh hưởng một cách trực tiếp đến tỷ giá ngoại
thương, nhưng thay đổi trong tỷ giá ngoại thương có thể ảnh hưởng lớn đến tỷ giá
hối đoái thực và nên tính đến thay đổi này trong khi đánh giá động cơ khuyến
khích tổng hợp đối với sản xuất nông nghiệp. Những tác động đối với sản lượng, phân phối thu nhập và sự di chuyển nguồn
lực giữa các khu vực kinh tế:
Những tác động về giá tương đối của chính sách ngoại thương và chính sách kinh tế
vó mô có những ảnh hưởng khác nhau đối với sản lượng nông nghiệp và thu nhập.
Khi nông sản bò đònh giá thấp, sản lượng nội đòa chòu thiệt hại – không những do
hiệu quả tónh của việc sử dụng nguồn lực giảm mà quan trọng hơn còn do có những
tác động bất lợi đối với cung lao động trong nông nghiệp, sự tích lũy vốn, và sự
thay đổi công nghệ trong dài hạn.
Trong ngắn hạn, sự đáp ứng theo giá của sản lượng nông nghiệp giảm theo sự gia
tăng tổng gộp sản lượng, vì khả năng tái phân bổ nguồn lực giảm khi sản phẩm trở
nên phân biệt hơn. Rõ ràng là sự dòch chuyển nguồn lực trong ngắn hạn từ sản
xuất nông nghiệp đến sản xuất phi nông nghiệp khó hơn là dòch chuyển chúng từ
cây lương thực sang cây trồng xuất khẩu, và còn khó hơn là dòch chuyển chúng từ
lúa gạo sang bắp. Quy mô tổn thất sản lượng có thể quy cho hiệu quả tónh thấp hơn
dó nhiên phụ thuộc không những vào độ co dãn cung trong ngắn hạn mà còn vào
giá nông sản bò kéo xuống như thế nào so với các mức giá biên giới - mà nó có thể
khác biệt rất lớn từ quốc gia này sang quốc gia khác.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
nông nghiệp và mức năng suất. Mặc dù nghiên cứu về lúa ở Ấn độ tiếp diễn trong
nhiều thập niên, nhưng các giống lúa thích hợp với phân bón hóa học đã bò lãng
quên trong thời gian dài do giá phân bón thường là cao và giá lúa thấp (Schultz
1978).
Hầu hết những nghiên cứu về đáp ứng tổng hợp của nông nghiệp đối với những sự
thay đổi trong giá tương đối đã không tính đến những ảnh hưởng động này, đấy là
chưa nói đến những ảnh hưởng sản lượng và thu nhập bên ngoài khu vực nông
nghiệp. Để nắm bắt một cách đầy đủ những tác động trong phạm vi toàn bộ nền
kinh tế của những thiên lệch giá cả do chính sách gây ra bất lợi cho nông nghiệp,
người ta cần phải nghiên cứu trong khuôn khổ kinh tế vó mô, khuôn khổ này kết
hợp cơ cấu giá cả nội đòa, mô thức sản xuất, và phân phối thu nhập.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
14
Đó là những gì mà tác giả của chương 8 và 9 đã cố gắng làm trong khi xây dựng
các mô hình cân bằng tổng quát động của họ cho Ác-hen-ti-na và Chi-lê. Họ giả
đònh rằng phân bổ đầu tư giữa các khu vực phụ thuộc vào mức sinh lời khác nhau
giữa các khu vực và sự dòch chuyển lao động giữa các khu vực phụ thuộc vào mức
tiền lương giữa các khu vực; và bản thân những mức này bò ảnh hưởng bởi giá sản
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
15
những điều chỉnh như sự đáp ứng lại của tiền lương ở đô thò đối với chi phí lương
thực thực phẩm chủ yếu và những dòch chuyển trong cầu của người tiêu dùng
hướng về những sản phẩm thay thế. Vì hầu hết các hộ gia đình vừa tiêu dùng vừa
sản xuất, điều thực sự quan trọng là những tác động ròng đối với họ với tư cách vừa
là người tiêu dùng vừa là nhà sản xuất.
Adelman và Robinson (1978) xây dựng một mô hình cân bằng tổng quát động ở
Hàn quốc để mô phỏng những tác động của các biện pháp chính sách khác nhau,
hầu hết các chính sách này hướng vào khu vực nông thôn, để cải thiện phân phối
thu nhập. Họ tìm thấy rằng nền kinh tế điều chỉnh theo các biện pháp can thiệp
chính sách phần lớn thông qua sự thay đổi của giá và rằng thay đổi trong tỷ giá
ngoại thương nông nghiệp có tác động lớn nhất đến quy mô phân phối thu nhập.
Một mô hình cân bằng tổng quát đa khu vực được sử dụng để cho thấy rằng tự do
hoá ngoại thương ở Phi-lip-pin sẽ dẫn đến sự mở rộng sản xuất nông nghiệp nhiều
hơn sự mở rộng sản xuất phi nông nghiệp và thu nhập nông thôn gia tăng nhiều hơn
thu nhập thành thò (Bautista 1986b) . Những kết quả này phù hợp với giả thiết
chung rằng sản lượng nông nghiệp trong những quốc gia đang phát triển “có thể
ngoại thương” hơn - và vì vậy nhạy cảm hơn đối với thay đổi trong tỷ giá hối đoái
nghiệp. Các chính phủ ở các nước đang phát triển bù đắp phần nào cho sự tháo
chạy của nguồn lực này thông qua chi tiêu công trong nông nghiệp. Chuyển giao
ròng ở Phi-lip-pin từ năm 1970 đến 1982 trung bình hàng năm vào khoảng 25% của
giá trò gia tăng trong nông nghiệp, trong khi ở Ma-lai-xi-a (nơi mà tỷ giá hối đoái
thực không bò đònh giá cao đáng kể) con số này chỉ là 5% (chương 10).
Khái niệm di chuyển nguồn lực giữa các khu vực kinh tế được giới thiệu trong tài
liệu này khác với khái niệm đó được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu không xem sự
khác nhau giữa giá trong nước và giá nước ngoài là một hình thức ngầm ẩn của
thuế hoặc trợ cấp nông nghiệp (thí dụ, xem Ishikawa 1967). Những gì mà họ gọi là
nguồn “vô hình” của chuyển giao từ nông nghiệp qua thời gian thực ra là độ sai
biệt của tỷ giá ngoại thương trong nông nghiệp so với năm gốc. Rõ ràng, trong việc
đánh giá tác động gây biến dạng của chính sách đònh giá trong nông nghiệp, sự
thay đổi qua thời gian của tỷ giá trao đổi thương mại nội đòa không quan trọng
bằng cơ cấu giá nội đòa so với giá nước ngoài (hoặc doanh thu biên, nếu độ co giãn
của cung nhập khẩu và cầu xuất khẩu không phải là vô hạn). Các mức giá trong
quá khứ không đặc biệt hữu ích trong các đánh giá như vậy vì chúng không đại
diện cho một tập hợp thay thế của các mức giá có sẵn hiện hành mà phạm vi của
hành động chính sách có thể liên quan .
Một yếu tố quan trọng nữa cần xem xét là các quốc gia đang phát triển sử dụng
“thặng dư” nông nghiệp được chuyển giao như thế nào. (Myint 1988). Nhiều nước
thực hiện chính sách thay thế hàng nhập khẩu được bảo hộ cao và sử dụng những
nguồn biến dạng giá nội đòa khác đã đạt được các mức hiệu quả thấp trong việc sử
dụng nguồn lực vào sản xuất công nghiệp. Trừ khi sự biến dạng như vậy được sữa
chữa, chuyển giao nguồn lực từ nông nghiệp không có khả năng mang lại lợi ích xã
hội lớn. Có những cơ hội để gia tăng nhanh năng suất nông nghiệp và tăng trưởng
thu nhập nếu nhu cầu về vốn để cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn và để phổ biến
công nghệ mới được đáp ứng đầy đủ. Tuy nhiên, những cơ hội này đã bò bỏ quên
khi các quốc gia tiếp tục phân biệt đối xử bất lợi cho nông nghiệp trong các chính
(1974) và Sjaastad (1980), Franklin và Valdés tìm thấy rằng gia tăng thuế quan
đồng nhất đối với hàng chế tạo công nghiệp 10% (với điều kiện thuế quan đối với
hàng hóa nông nghiệp không thay đổi) sẽ áp đặt một mức thuế tiềm ẩn 5,6% (đối
với hàng hóa nội đòa) đối với hàng hóa có thể nhập khẩu như gạo và một mức thuế
tiềm ẩn 6,7% đối với nông sản có thể xuất khẩu như bông và đường. Khi giá nông
sản được đem so với giá của hàng hóa có thể nhập khẩu phi nông nghiệp, tác động
thuế tiềm ẩn đối với cả hai loại hàng hóa nông sản trên là 10%. Những kết quả này
chỉ ra rằng Peru cho phép mức độ thay thế cao giữa hàng hóa nội đòa và hàng hóa
phi nông nghiệp có thể nhập khẩu và rằng hàng hóa xuất khẩu chòu một phần lớn
(hơn một nửa) gánh nặng của thuế quan đối với nhập khẩu.
Ba thành phần của công cụ phân tích là mức độ tác động của chính sách ngoại
thương đối với giá tương đối, cung nông sản, và chi tiêu của hộ gia đình. Các tác
giả đã sử dụng mô hình mô phỏng để đánh giá sự điều chỉnh ngắn hạn và trung hạn
của một sự thay đổi trong mức bảo hộ toàn bộ. Những kết quả thực nghiệm của họ
cho thấy rằng (1) những chính sách ngoại thương trong công nghiệp có tính hạn chế
chứ không phải là những chính sách giá trực tiếp đối với nông nghiệp đã có tác
động lớn nhất đối với mức tiêu dùng thực phẩm và phân phối thu nhập ở Pêru; (2)
như là hậu quả của sự thay đổi trong giá tương đối, có một sự dòch chyển rõ nét
trong khẩu phần (đặc biệt nhất là những người sống ở vùng cao nguyên) bỏ thực
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
García García cũng tìm thấy rằng sụt giảm trong giá tương đối của nông sản ở Cô-
lôm-bia, có thể quy cho sự phát triển bùng nổ cà phê và sự thâm hụt ngân sách liên
tục, đã làm giảm đáng kể đầu tư trong nông nghiệp và giảm tiền công thực trong
nông nghiệp.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
19
Như tư liệu mà Oyejide đưa ra trong chương 4, chính phủ Ni-giê-ri theo đuổi một
chiến lược thay thế hàng nhập khẩu vào những năm 1960 và đầu những năm 1970
để thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp nhanh chóng. Sự bùng nổ dầu lửa tiếp sau đó
và chính sách ngoại thương, chính sách tỷ giá hối đoái, và các chính sách kinh tế vó
mô khác đi kèm theo đã củng cố xu hướng hướng về công nghiệp hóa này. Đáp
ứng lại - như ở Cô-lôm-bia trong suốt thời kỳ cà phê phát triển mạnh-tỷ giá hối
đoái thực lên giá một cách đáng kể, và khả năng cạnh tranh, sản lượng, và việc làm
trong khu vực hàng hóa có thể ngoại thương không phát triển bùng nổ, đáng kể
nhất là nông nghiệp, đã sụt giảm .
Ni-giê-ri là một trường hợp lý thú bởi vì số thu gia tăng từ dầu hỏa giúp cho chính
phủ có thể đưa ra những cải cách chính sách ưu tiên cho nông nghiệp. Thí dụ, họ
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
20
chính đối với thành quả nông nghiệp yếu kém của quốc gia này. Đồng thời, khi
những khu vực khác đã phát triển, chúngï tạo những cơ hội việc làm ngoài nông
trại tốt hơn, đẩy tiền lương ở khu vực nông nghiệp lên cao: chỉ số của chúng từ 100
trong năm 1970 đến 232 trong năm 1982.
Tác động bất lợi của sự bùng nổ dầu hỏa đối với hàng hóa có thể ngoại thương
không phải dầu hỏa nghiêm trọng đối với nông nghiệp hơn là đối với công nghiệp
chế tạo, do các hạn chế lao động đặc biệt của nông nghiệp và bởi vì công nghiệp
chế tạo nhận được mức độ bảo hộ nhập khẩu quan trọng hơn nông nghiệp. Vì vậy,
cả căn bệnh Hà lan gắn với sự bùng nổ dầu hỏa lẫn các chính sách ngoại thương
tổng quát và chính sách tỷ giá đã đánh thuế vào nông nghiệp ở Ni-giê-ri.
Chương 5 đề cập đến Zaire, mà cho đến nay là chủ đề của rất ít nghiên cứu chính
sách kinh tế và có cơ sở dữ liệu nghèo nàn. Nông nghiệp sử dụng 80% lực lượng
lao động và tạo ra 40% GDP, nó chiếm chỉ vào khoảng 16% tổng số xuất khẩu từ
năm 1971 đến 1981. Đồng là sản phẩm xuất khẩu chủ yếu.
Sử dụng một mô hình thông số mức độ tác động đơn giản, Tshibaka xem xét một số
tác dụng của chính sách ngoại thương và chính sách tỷ giá hối đoái đối với nông
nghiệp ở Zaire trong bối cảnh những thay đổi cơ cấu và đònh chế quan trọng vốn
theo sau nền độc lập vào năm 1960. Ông ta kết luận rằng những chính sách này đã
đánh thuế tiềm ẩn cao vào những hàng hóa nông nghiệp có thể xuất khẩu và một
số cây lương thực cạnh tranh với nhập khẩu . Ông ta cho rằng sản xuất hàng hóa có
thể xuất khẩu như dầu cọ, bông, và đậu lạc có thể cạnh tranh với lương thực chính
như gạo và bắp, đây là một cơ hội quan trọng cho Zaire, đất nước chỉ có một thò
đựng gánh nặng lớn hơn so với hàng hóa xuất khẩu không phải truyền thống.
Nghiên cứu phân tích hai nguồn dao động của tỷ giá hối đoái thực ở Phi-lip-pin, đó
là các biện pháp hạn chế ngoại thương và sự thâm hụt ngoại thương kéo dài. Nói
chung, chính sách ngoại thương là một yếu tố nổi bật trong thiên lệch giá cả bất lợi
cho nông nghiệp. Cùng lúc, tác động của thâm hụt ngoại thương đối với tỷø giá hối
đoái thực giải thích tại sao, ngay cả sau khi tự do hoá những hạn chế ngoại thương
ở Phi-lip-pin vào những năm 1970, sản xuất hàng hóa nông nghiệp có thể xuất
khẩu tiếp tục bò đánh thuế, dù là tiềm ẩn.
Trong chương 7 đề cập đến Pa-kis-tan, Dorosh xây dựng một khuôn khổ đònh lượng
để đo lường tác động kết hợp của chính sách ngoại thương và chính sách tỷ giáù hối
đoái và các chính sách giá nông sản đối với những động cơ khuyến khích sản xuất
nông nghiệp từ năm 1961 đến năm 1987. Ông ta đưa ra những số đo thuế ngoại
thương tiềm ẩn và tỷ giá hối đoái hiệu dụng đối với hàng hóa nhập khẩu và hàng
hóa xuất khẩu ở Pa-kis-tan và thảo luận sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái thực.
Đây là chương duy nhất sử dụng phân tích hồi quy để xem xét những yếu tố ảnh
hưởng đến tỷ giá hối đoái thực. Tính nội sinh của một vài biến giải thích được
quan tâm đặc biệt (bao gồm chính sách ngoại thương, tỷ giá ngoại thương của nước
ngoài, tiền gởi về nước của công nhân, viện trợ của nước ngoài và khoản vay dài
hạn). Một vài biến số này không phải là ngoại sinh mà chúng được quyết đònh
đồng thời với tỷ giá hối đoái thực. Kết quả của phân tích hồi quy được sử dụng để
xây dựng một chuỗi thời gian cho tỷ giá hối đoái thực cân bằng, nó được so sánh
với các ước lượng dựa vào cách tiếp cận độ co giãn và ngang bằng sức mua.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
vó mô là những yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến thành quả kinh tế. Các tác giả đã
xây dựng mô hình kinh tế lượng để xem xét những ảnh hưởng động của một cuộc
cải cách chính sách giả thiết vào năm 1930. Để mô phỏng những ảnh hưởng của tự
do hóa ngoại thương, họ ước lượng những phương trình hành vi đối với tiêu dùng,
đầu tư tư nhân và phân bổ giữa các khu vực của đầu tư, tỷ trọng các yếu tố, mức thu
dụng lao động, sản lượng, và các dòng ngoại thương. Phân tích thực nghiệm này
tiên đoán mức tăng trưởng cao hơn đáng kể của nông nghiệp so với năm gốc, chủ
yếu là do tích lũy vốn nhanh chóng trong nông nghiệp và mức tăng trưởng sản
lượng phi nông nghiệp nhanh hơn. Trong chừng mực mà những công nghệ mới
được hàm chứa trong hàng hóa tư bản, đầu tư mới trong nông nghiệp có tác động
tích cực đến mức năng suất trong nông nghiệp vượt quá mức có thể quy cho sự tăng
cường vốn. Kết quả mô phỏng cũng chỉ ra sự đánh đổi rất lớn giữa việc bảo vệ tiền
công thực ở nông thôn và thành quả của nền kinh tế.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
23
Trong chương 9 đề cập đến Chi lê, Coeymans và Mundak xây dựng một mô hình
tăng trưởng trong đó những khu vực sản xuất (nông nghiệp, khai khoáng, dòch vụ,
và công nghiệp chế tạo) liên kết rõ ràng thông qua ma trận nhập lượng -xuất lượng.
Mô hình này được xây dựng theo cách cho phép các tác giả phân tích những tác
Những cuộc khảo sát toàn khu vực ở chương 10 (Châu Á), 11 (Châu Phi), và 12
(Châu Mỹ La Tinh) tổng kết một số kết quả tìm thấy trong những nghiên cứu khác
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
24
về mức độ chính sách ngoại thương và chính sách kinh tế vó mô đã ảnh hưởng đến
động cơ khuyến khích nông nghiệp trong các quốc gia đang phát triển. Điểm
chung là nông nghiệp trong các quốc gia đang phát triển, đặc biệt nhất là xuất khẩu
nông sản, đã chòu một gánh nặng thuế tiềm ẩn lớn do bảo hộ công nghiệp, sự lên
giá tỷ giá hối đoái thực, và các chính sách kinh tế vó mô liên quan khác.
Hầu hết các quốc gia trong 3 khu vực đều có nền kinh tế tương đối mở, với ngoại
thương đóng góp 25% hoặc nhiều hơn trong GDP. Ngoại thương của họ chủ yếu là
xuất khẩu nông sản, mà thành quả xuất khẩu này có ý nghóa lớn đối với nguồn thu
ngoại tệ của họ. Tuy nhiên, những mối liên kết giữa các chính sách kinh tế vó mô
và nông nghiệp vượt ra ngoài mức đóng góp của khu vực đối với nguồn thu ngoại
tệ. Chính sách ngoại thương và chính sách kinh tế vó mô ảnh hưởng lên toàn bộ cơ
cấu giá tương đối, chủ yếu thông qua cơ chế tỷ giá hối đoái thực. Tiền đề trung
tâm trong tác phẩm này là, xét mức độ có thể ngoại thương cao của nông sản, tỷ
giá hối đoái thực có lẽ là biến số có ảnh hưỏng lớn nhất đến cơ cấu khuyến khích
giá đối với nông nghiệp. Vì vậy, lý thuyết xác đònh tỷ giá hối đoái thực phù hợp
Điều này làm tổn hại đến khả năng sinh lợi tương đối của việc sản xuất ra hàng
hóa có thể ngoại thương và kìm hãm mức tăng sản lượng.
Nông nghiệp đóng một vai trò tương tự nổi bật trong những chiến lược phát triển
của ba khu vực này. Nét chung của ba chiến lược này là sự nhấn mạnh của chúng
vào công nghiệp hóa như là yếu tố then chốt đối với tăng trưởng kinh tế, được tài
trợ một phần thông qua chuyển giao nguồn lực từ nông nghiệp. Thứ nhì, nhiều
quốc gia dựa chủ yếu vào thuế từ ngoại thương như nguồn thu của chính phủ, thực
tế là một gánh nặng thuế không thể tránh khỏi đối với xuất khẩu nông nghiệp.
Một trong những kết quả quan trọng nhất của các cuộc khảo sát ba khu vực này là,
nhìn chung, những tác động gián tiếp của các chính sách trong phạm vi toàn bộ nền
kinh tế mạnh hơn tác động trực tiếp củøa các chính sách chuyên biệt theo khu vực
kinh tế. Những cuộc khảo sát cũng cho thấy rằng có mối liên kết mạnh mẽ giữa
các chính sách kinh tế vó mô và tiền lương (và công việc làm) trong nông nghiệp ở
nhiều quốc gia: ở Ni-giê-ri-a, nơi mà đáp ứng chính sách đối với căn bệnh Hà lan
vào những năm 1970 tạo ra tình trạng khó khăn trong chi phí lao động dẫn đến mất
mát rất lớn khả năng cạnh tranh của khu vực nông nghiệp, và ở Cô-lôm-bia và Chi
lê, nơi mà những chính sách kinh tế vó mô được thực hiện suốt thập niên 1960 và
1970 đã dẫn đến sự giảm sút đáng kể trong tiền công thực ở khu vực nông thôn và
việc làm trong nông nghiệp.