Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
11
nghiệp trong những quốc gia đang phát triển, hoạt động thông qua sự đònh giá quá
cao được kích thích của tỷ giá hối đoái thực nói chung là không có chủ ý. Thiên
lệch giá gây bất lợi cho nông nghiệp này không thể bò loại trừ một cách đơn giản
bằng cách điều chỉnh tỷ giá hối đoái danh nghóa. Nó có thể được sửa chữa ngay tại
nguồn gây ra nó, có nghóa là hạ thấp rào cản nhập khẩu vốn bảo hộ cho những
ngành công nghiệp nội đòa một cách không hợp lý và khôi phục lại cân bằng trong
cán cân thanh toán. Tỷ giá ngoại thương đối với bên ngoài và tỷ giá hối đoái thực:
Sự dòch chuyển giá của nước ngoài cũng ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các giá
nội đòa của hàng hóa có thể xuất khẩu, hàng hóa có thể nhập khẩu, và hàng hóa
nội đòa, và vì vậy ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái thực. Ước lượng những tác động
được kích thích bởi chính sách đối với tỷ giá hối đoái thực trong những nghiên cứu
dẫn ra trước đây giả thiết rằng tỷ giá ngoại thương bên ngoài không đổi được xác
đònh một cách ngoại sinh dưới giả thiết một nước nhỏ. Một sự thay đổi ngoại sinh
trong tỷ giá ngoại thương của một quốc gia tác động đến tỷ giá hối đoái thực theo
những cách khác nhau.
của Pakistan dẫn đến gia tăng 2,4%trong tỷ giá hối đoái thực đối với hàng hóa xuất
khẩu (Chương 7). Ở Phi-lip-pin tỷ giá hối đoái thực đáng lẽ đã cao hơn 22% giữa
1975 và 1984 nếu tỷ giá ngoại thương đã được giữ cùng mức của thập niên 70
(Bautisa 1987b, 52).
Dù rằng chính sách không thể ảnh hưởng một cách trực tiếp đến tỷ giá ngoại
thương, nhưng thay đổi trong tỷ giá ngoại thương có thể ảnh hưởng lớn đến tỷ giá
hối đoái thực và nên tính đến thay đổi này trong khi đánh giá động cơ khuyến
khích tổng hợp đối với sản xuất nông nghiệp. Những tác động đối với sản lượng, phân phối thu nhập và sự di chuyển nguồn
lực giữa các khu vực kinh tế:
Những tác động về giá tương đối của chính sách ngoại thương và chính sách kinh tế
vó mô có những ảnh hưởng khác nhau đối với sản lượng nông nghiệp và thu nhập.
Khi nông sản bò đònh giá thấp, sản lượng nội đòa chòu thiệt hại – không những do
hiệu quả tónh của việc sử dụng nguồn lực giảm mà quan trọng hơn còn do có những
tác động bất lợi đối với cung lao động trong nông nghiệp, sự tích lũy vốn, và sự
thay đổi công nghệ trong dài hạn.
Trong ngắn hạn, sự đáp ứng theo giá của sản lượng nông nghiệp giảm theo sự gia
tăng tổng gộp sản lượng, vì khả năng tái phân bổ nguồn lực giảm khi sản phẩm trở
nên phân biệt hơn. Rõ ràng là sự dòch chuyển nguồn lực trong ngắn hạn từ sản
xuất nông nghiệp đến sản xuất phi nông nghiệp khó hơn là dòch chuyển chúng từ
cây lương thực sang cây trồng xuất khẩu, và còn khó hơn là dòch chuyển chúng từ
lúa gạo sang bắp. Quy mô tổn thất sản lượng có thể quy cho hiệu quả tónh thấp hơn
dó nhiên phụ thuộc không những vào độ co dãn cung trong ngắn hạn mà còn vào
giá nông sản bò kéo xuống như thế nào so với các mức giá biên giới - mà nó có thể
khác biệt rất lớn từ quốc gia này sang quốc gia khác.
tư công cộng trong một chừng mực nhất đònh. Hơn nữa, những nhà nông sẽ chấp
nhận sử dụng những công nghệ mới và mua những nhập lượng vật chất chứa đựng
công nghệ mới chỉ khi họ kỳ vọng thu nhập của họ sẽ được cải thiện. Điều đó có
nghóa là động cơ khuyến khích về giá cũng ảnh hưởng đến sự phổ biến công nghệ
nông nghiệp và mức năng suất. Mặc dù nghiên cứu về lúa ở Ấn độ tiếp diễn trong
nhiều thập niên, nhưng các giống lúa thích hợp với phân bón hóa học đã bò lãng
quên trong thời gian dài do giá phân bón thường là cao và giá lúa thấp (Schultz
1978).
Hầu hết những nghiên cứu về đáp ứng tổng hợp của nông nghiệp đối với những sự
thay đổi trong giá tương đối đã không tính đến những ảnh hưởng động này, đấy là
chưa nói đến những ảnh hưởng sản lượng và thu nhập bên ngoài khu vực nông
nghiệp. Để nắm bắt một cách đầy đủ những tác động trong phạm vi toàn bộ nền
kinh tế của những thiên lệch giá cả do chính sách gây ra bất lợi cho nông nghiệp,
người ta cần phải nghiên cứu trong khuôn khổ kinh tế vó mô, khuôn khổ này kết
hợp cơ cấu giá cả nội đòa, mô thức sản xuất, và phân phối thu nhập.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
14
Đó là những gì mà tác giả của chương 8 và 9 đã cố gắng làm trong khi xây dựng
sách kinh tế vó mô đối với phân phối thu nhập qua những ảnh hưởng thu nhập khác
nhau của các chính sách này đối với các nông trại lớn và nhỏ, qua loại cây trồng,
và qua mô thức chi tiêu tiêu dùng. Một lần nữa, khuôn khổ cân bằng từng phần
không tính đến những gì xảy ra đối với thu nhập của từng khu vực khi đối mặt với
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
15
những điều chỉnh như sự đáp ứng lại của tiền lương ở đô thò đối với chi phí lương
thực thực phẩm chủ yếu và những dòch chuyển trong cầu của người tiêu dùng
hướng về những sản phẩm thay thế. Vì hầu hết các hộ gia đình vừa tiêu dùng vừa
sản xuất, điều thực sự quan trọng là những tác động ròng đối với họ với tư cách vừa
là người tiêu dùng vừa là nhà sản xuất.
Adelman và Robinson (1978) xây dựng một mô hình cân bằng tổng quát động ở
Hàn quốc để mô phỏng những tác động của các biện pháp chính sách khác nhau,
hầu hết các chính sách này hướng vào khu vực nông thôn, để cải thiện phân phối
thu nhập. Họ tìm thấy rằng nền kinh tế điều chỉnh theo các biện pháp can thiệp
chính sách phần lớn thông qua sự thay đổi của giá và rằng thay đổi trong tỷ giá
ngoại thương nông nghiệp có tác động lớn nhất đến quy mô phân phối thu nhập.
Một mô hình cân bằng tổng quát đa khu vực được sử dụng để cho thấy rằng tự do
hoá ngoại thương ở Phi-lip-pin sẽ dẫn đến sự mở rộng sản xuất nông nghiệp nhiều
16
Thiên lệch giá cả gây bất lợi cho nông nghiệp trong chính sách ngoại thương và
chính sách kinh tế vó mô thực chất là chuyển nguồn lực ra khỏi khu vực nông
nghiệp. Các chính phủ ở các nước đang phát triển bù đắp phần nào cho sự tháo
chạy của nguồn lực này thông qua chi tiêu công trong nông nghiệp. Chuyển giao
ròng ở Phi-lip-pin từ năm 1970 đến 1982 trung bình hàng năm vào khoảng 25% của
giá trò gia tăng trong nông nghiệp, trong khi ở Ma-lai-xi-a (nơi mà tỷ giá hối đoái
thực không bò đònh giá cao đáng kể) con số này chỉ là 5% (chương 10).
Khái niệm di chuyển nguồn lực giữa các khu vực kinh tế được giới thiệu trong tài
liệu này khác với khái niệm đó được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu không xem sự
khác nhau giữa giá trong nước và giá nước ngoài là một hình thức ngầm ẩn của
thuế hoặc trợ cấp nông nghiệp (thí dụ, xem Ishikawa 1967). Những gì mà họ gọi là
nguồn “vô hình” của chuyển giao từ nông nghiệp qua thời gian thực ra là độ sai
biệt của tỷ giá ngoại thương trong nông nghiệp so với năm gốc. Rõ ràng, trong việc
đánh giá tác động gây biến dạng của chính sách đònh giá trong nông nghiệp, sự
thay đổi qua thời gian của tỷ giá trao đổi thương mại nội đòa không quan trọng
bằng cơ cấu giá nội đòa so với giá nước ngoài (hoặc doanh thu biên, nếu độ co giãn
của cung nhập khẩu và cầu xuất khẩu không phải là vô hạn). Các mức giá trong
quá khứ không đặc biệt hữu ích trong các đánh giá như vậy vì chúng không đại
diện cho một tập hợp thay thế của các mức giá có sẵn hiện hành mà phạm vi của
hành động chính sách có thể liên quan .
Một yếu tố quan trọng nữa cần xem xét là các quốc gia đang phát triển sử dụng
“thặng dư” nông nghiệp được chuyển giao như thế nào. (Myint 1988). Nhiều nước
thực hiện chính sách thay thế hàng nhập khẩu được bảo hộ cao và sử dụng những
nguồn biến dạng giá nội đòa khác đã đạt được các mức hiệu quả thấp trong việc sử
dụng nguồn lực vào sản xuất công nghiệp. Trừ khi sự biến dạng như vậy được sữa
chữa, chuyển giao nguồn lực từ nông nghiệp không có khả năng mang lại lợi ích xã
đồng nhất (ước lượng cho mỗi năm từ năm 1949 đến năm 1982), vốn dần dần đóng
cửa nền kinh tế Peru đối với ngoại thương.
Sử dụng một mô hình thông số mức độ tác động không tổng gộp lấy từ Dornbusch
(1974) và Sjaastad (1980), Franklin và Valdés tìm thấy rằng gia tăng thuế quan
đồng nhất đối với hàng chế tạo công nghiệp 10% (với điều kiện thuế quan đối với
hàng hóa nông nghiệp không thay đổi) sẽ áp đặt một mức thuế tiềm ẩn 5,6% (đối
với hàng hóa nội đòa) đối với hàng hóa có thể nhập khẩu như gạo và một mức thuế
tiềm ẩn 6,7% đối với nông sản có thể xuất khẩu như bông và đường. Khi giá nông
sản được đem so với giá của hàng hóa có thể nhập khẩu phi nông nghiệp, tác động
thuế tiềm ẩn đối với cả hai loại hàng hóa nông sản trên là 10%. Những kết quả này
chỉ ra rằng Peru cho phép mức độ thay thế cao giữa hàng hóa nội đòa và hàng hóa
phi nông nghiệp có thể nhập khẩu và rằng hàng hóa xuất khẩu chòu một phần lớn
(hơn một nửa) gánh nặng của thuế quan đối với nhập khẩu.
Ba thành phần của công cụ phân tích là mức độ tác động của chính sách ngoại
thương đối với giá tương đối, cung nông sản, và chi tiêu của hộ gia đình. Các tác
giả đã sử dụng mô hình mô phỏng để đánh giá sự điều chỉnh ngắn hạn và trung hạn
của một sự thay đổi trong mức bảo hộ toàn bộ. Những kết quả thực nghiệm của họ
cho thấy rằng (1) những chính sách ngoại thương trong công nghiệp có tính hạn chế
chứ không phải là những chính sách giá trực tiếp đối với nông nghiệp đã có tác
động lớn nhất đối với mức tiêu dùng thực phẩm và phân phối thu nhập ở Pêru; (2)
như là hậu quả của sự thay đổi trong giá tương đối, có một sự dòch chyển rõ nét
trong khẩu phần (đặc biệt nhất là những người sống ở vùng cao nguyên) bỏ thực
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nó gắn với hiện tượng căn bệnh Hà lan - là ngay cả một phát triển tạm thời đầy hứa
hẹn, ví dụ như một sự gia tăng đột ngột trong giá thế giới của một số hàng hóa có
thể xuất khẩu nào đó, có thể có một tác động tiêu cực đối với phần còn lại của khu
vực hàng hóa có thể ngoại thương, bao gồm nông nghiệp, trong một số năm.
García García cũng tìm thấy rằng sụt giảm trong giá tương đối của nông sản ở Cô-
lôm-bia, có thể quy cho sự phát triển bùng nổ cà phê và sự thâm hụt ngân sách liên
tục, đã làm giảm đáng kể đầu tư trong nông nghiệp và giảm tiền công thực trong
nông nghiệp.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
19
Như tư liệu mà Oyejide đưa ra trong chương 4, chính phủ Ni-giê-ri theo đuổi một
chiến lược thay thế hàng nhập khẩu vào những năm 1960 và đầu những năm 1970
để thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp nhanh chóng. Sự bùng nổ dầu lửa tiếp sau đó
và chính sách ngoại thương, chính sách tỷ giá hối đoái, và các chính sách kinh tế vó
mô khác đi kèm theo đã củng cố xu hướng hướng về công nghiệp hóa này. Đáp
ứng lại - như ở Cô-lôm-bia trong suốt thời kỳ cà phê phát triển mạnh-tỷ giá hối
đoái thực lên giá một cách đáng kể, và khả năng cạnh tranh, sản lượng, và việc làm
trong khu vực hàng hóa có thể ngoại thương không phát triển bùng nổ, đáng kể
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
20
chính đối với thành quả nông nghiệp yếu kém của quốc gia này. Đồng thời, khi
những khu vực khác đã phát triển, chúngï tạo những cơ hội việc làm ngoài nông
trại tốt hơn, đẩy tiền lương ở khu vực nông nghiệp lên cao: chỉ số của chúng từ 100
trong năm 1970 đến 232 trong năm 1982.
Tác động bất lợi của sự bùng nổ dầu hỏa đối với hàng hóa có thể ngoại thương
không phải dầu hỏa nghiêm trọng đối với nông nghiệp hơn là đối với công nghiệp
chế tạo, do các hạn chế lao động đặc biệt của nông nghiệp và bởi vì công nghiệp
chế tạo nhận được mức độ bảo hộ nhập khẩu quan trọng hơn nông nghiệp. Vì vậy,
cả căn bệnh Hà lan gắn với sự bùng nổ dầu hỏa lẫn các chính sách ngoại thương
tổng quát và chính sách tỷ giá đã đánh thuế vào nông nghiệp ở Ni-giê-ri.
Chương 5 đề cập đến Zaire, mà cho đến nay là chủ đề của rất ít nghiên cứu chính
sách kinh tế và có cơ sở dữ liệu nghèo nàn. Nông nghiệp sử dụng 80% lực lượng
lao động và tạo ra 40% GDP, nó chiếm chỉ vào khoảng 16% tổng số xuất khẩu từ
năm 1971 đến 1981. Đồng là sản phẩm xuất khẩu chủ yếu.
Sử dụng một mô hình thông số mức độ tác động đơn giản, Tshibaka xem xét một số
tác dụng của chính sách ngoại thương và chính sách tỷ giá hối đoái đối với nông
nghiệp ở Zaire trong bối cảnh những thay đổi cơ cấu và đònh chế quan trọng vốn
theo sau nền độc lập vào năm 1960. Ông ta kết luận rằng những chính sách này đã