Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá 2003-2004
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés 1 Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang HùngSỰ PHÙ HP CỦA CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ
CHÍNH SÁCH KINH TẾ VĨ MÔ ĐỐI VỚI NÔNG NGHIỆP
. Tiềm năng kinh tế nông nghiệp chưa được biến thành hiện thực trong nhiều quốc
gia có mức thu nhập thấp rất lớn. Những khả năng công nghệ ngày càng thuận lợi
hơn, nhưng những cơ hội kinh tế cần phải có để nông dân tại các quốc gia này có
thể biến tiềm năng này thành hiện thực vẫn còn xa vời.
- Theodore W. Schultz, sự biến dạng những động cơ khuyến khích nông nghiệp
Cho tới gần đây, các tác phẩm về phát triển chưa quan tâm nhiều đến tác động
của chính sách ngoại thương và chính sách kinh tế vó mô đối với những cơ hội kinh
tế có sẵn cho các nhà sản xuất nông nghiệp. Một lý do cho vấn đề này là sự đònh
hướng theo từng khu vực và hạn hẹp của phép phân tích chính sách nông nghiệp
trong thời gian qua; một lý do khác là quan niệm sai lầm phổ biến cho rằng nông
nghiệp chỉ đóng một vai trò hạn chế trong phát triển kinh tế.
là ban đầu - đã thúc đẩy tiến trình dòch chuyển cơ cấu này. Những quốc gia đang
phát triển đã thúc đẩy những ngành công nghiệp cạnh tranh với nhập khẩu thông
qua thuế nhập khẩu cao và các biện pháp hạn chế nhập khẩu đònh lượng. Họ cũng
đã cung cấp ngoại tệ cho việc nhập khẩu những hàng hóa tư bản và nguyên liệu
liên quan với các điều kiện rất thuận lợi.
Chính sách thay thế nhập khẩu của những quốc gia đang phát triển khác nhau về
thời hạn, tính toàn diện và cường độ. Trong một vài nơi, đáng chú ýù nhất là Hàn
Quốc và Đài Loan, chiến lược phát triển trở thành hướng ngoại ở giai đoạn ban đầu
của quá trình công nghiệp hoá và khuyến khích xuất khẩu các sản phẩm chế tạo
công nghiệp thâm dụng lao động. Vào thập niên 70, sự nhấn mạnh dòch chuyển
sang những hàng hóa xuất khẩu thâm dụng kỹ năng, vốn và công nghệ, và chính
phủ bắt đầu giảm việc bảo hộ công nghiệp, chấp nhận tỷ giá hối đoái thực tế hơn,
và phát triển cơ sở hạ tầng xuất khẩu. Tuy nhiên, nói chung chế độ ngoại thương
vẫn còn mang tính bảo hộ mạnh những ngành công nghiệp cạnh tranh nhập khẩu.
Trong giai đoạn đầu tiên của quá trình thay thế nhập khẩu, những quốc gia này
hướng về bảo hộ những ngành công nghiệp nhẹ. Sau đó, họ tập trung vào những
ngành công nghiệp thượng nguồn đòi hỏi lao động có kỹ năng , vốn đầu tư lớn, và
công nghệ tiên tiến hơn. Đây là trường hợp ở hầu hết các nước Châu Mỹ La Tinh
trong suốt những thập niên 50 và 60 và ở nhiều nước châu Á vào thập niên 60 và
70.
Vào thập niên 70 những quốc gia đang phát triển đã bắt đầu nhận ra giá trò của
việc xuất khẩu hàng chế tạo công nghiệp và đã trợ cấp đối với một số hàng công
nghiệp xuất khẩu. Tuy nhiên, các khoản trợ cấp này không bù đắp được một cách
đầy đủ những thiên lệch chung bất lợi cho xuất khẩu, và một vài khoản khuyến
khích chỉ được thực hiện nếu những nhà sản xuất hàng xuất khẩu sử dụng nhập
lượng nhập khẩu.
Những nhà sản xuất hàng nông sản xuất khẩu ở trong tình trạng thậm chí còn xấu
ngoại thương và một cách gián tiếp không khuyến khích sản xuất hàng hóa có thể
ngoại thương . Trợ cấp xuất khẩu hàng chế tạo công nghiệp có cùng tác động về
mặt đònh tính giống đối với tỷ giá hối đoái (vì rằng chúng có xu hướng gia tăng
cung xuất khẩu ); thuế xuất khẩu nông sản có tác động ngược lại. Khu vực nông
nghiệp đặc biệt dễ bò tổn thương bởi các biến dạng trong tỷ giá hối đoái thực bởi vì
sản lượng nông nghiệp của những quốc gia đang phát triển có xu hướng có thể
ngoại thương cao, cho dù nó được sản xuất bởi những quốc gia đang phát triển có
thu nhập cao như Chilê ( được thảo luận trong chương 9 của tài liệu này) hoặc là
những quốc gia có thu nhập thấp như Zaire (chương 5). Không có gì đáng ngạc
nhiên, tự do hóa ngoại thương và quản lý tỷ giá hối đoái thực dường như là có tác
động tích cực đối với sản xuất nông nghiệp hơn là sản xuất phi nông nghiệp (như
đã được chỉ ra trong chương 8 bàn về Ac-hen-ti-na).
Tỷ giá hối đoái thực cũng có thể bò ảnh hưởng bởi sự mất cân bằng trong tài khoản
đối ngoại của quốc gia. Thành phần không thể bền vững trong thâm hụt tài khoản
vãng lai – ví dụ do việc vay mượn nước ngoài quá nhiều – được dùng làm cơ sở để
bảo vệ tỷ giá hối đoái được đònh giá cao, được minh họa bởi kinh nghiệm của Phi
lip pin sau cú sốc giá dầu năm 1973-1974 và năm 1978-1980 (chương 6).
Một yếu tố nữa có thể làm cho tỷ giá hối đoái tăng lên là căn bệnh Hà lan – nó
được mang tên này do kinh nghiệm của Hà lan với việc phát hiện ra khí đốt tự
nhiện. Căn bệnh này xuất hiện khi có sự phát triển bùng nổ trong một hàng hóa có
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
đoái thực (Valdés và Siamwalla 1988). Tuy nhiên hai tỷ giá này không tương ứng
1-1. Nếu giá ở nước ngoài và các biện pháp hạn chế ngoại thương được giữ không
đổi, tác động của một sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái danh nghóa đối với tỷ giá hối
đoái thực sẽ phụ thuộc vào cách giá của hàng hóa không thể ngoại thương thay đổi
đáp lại những chính sách kinh tế vó mô được thực hiện. Vì vậy, chính sách tiền tệ
và chính sách thu chi ngân sách của một quốc gia, việc vay mượn nước ngoài, và
việc quản lý tỷ giá hối đoái danh nghóa có thể ảnh hưởng đáng kể đến tỷ giá hối
đoái thực và do đó ảnh hưởng đến khả năng mang lại lợi nhuận của việc sản xuất
hàng hóa có thể ngoại thương.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
5
Tác động trực tiếp của chính sách ngoại thương đối với giá tương đối:
Như những thảo luận trước đây chỉ ra, bất kỳ phân tích nào về tác động của chính
sách ngoại thương đối với giá tương đối đều phải phân biệt giữa hàng hóa có thể
nhập khẩu và hàng hóa có thể xuất khẩu, và giữa hàng chế tạo công nghiệp có thể
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
6
những nhập lượng như vậy chiếm tỷ phần nhỏ trong giá trò của sản lượng nông
nghiệp và bởi vì “hầu hết trợ cấp nhập lượng nông nghiệp” là dưới mức biên tế
( Krueger, Schiff, và Valdés 1988,258).
Chính sách thay thế nhập khẩu của các quốc gia đang phát triển dẫn đến một cơ
cấu khuyến khích vốn phân biệt chống lại những nhà sản xuất hàng xuất khẩu và
sản xuất sản phẩm sơ cấp. Trong số những quốc gia đang phát triển ở Châu Á,
Băng- la- đét và Phi-lip-pin có tỷ lệ bảo hộ danh nghóa đối với việc sản xuất cạnh
tranh nhập khẩu cao hơn nhiều so với sản xuất xuất khẩu; và kể từ đầu thập niên
70, các sản phẩm chế tạo công nghiệp xuất khẩu của họ được hưởng mức bảo hộ
trực tiếp lớn hơn sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu (chương 10).
Tác động giá trực tiếp của chính sách ngoại thương của các quốc gia đang phát
triển cũng khác nhau trong phạm vi nông nghiệp .Theo những kết quả nghiên cứu
gần đây của Ngân Hàng Thế Giới ( Krueger, Schiff, và Valdés 1988), các nông sản
xuất khẩu quan trọng nhất thì “không được bảo hộ” (bò đánh thuế) nặng hơn những
lương thực thực phẩm chủ yếu – có lẽ do mong muốn tự túc về lương thực thực
phẩm và sự dễ dàng về mặt chính trò và hành chính của việc đánh thuế vào cây
trồng xuất khẩu thương mại so với cây lương thực để tồn tại. Nhiều quốc gia đang
phát triển - đặc biệt là những quốc gia có mức thu nhập cao như Chi lê, Hàn Quốc,
và Ma-lai-xi-a- đã bảo hộ sản xuất lương thực thực phẩm thông qua các biện pháp
hạn chế ngoại thương.
Mối quan hệ dài hạn này chỉ được khẳng đònh một phần trong nghiên cứu của Ngân
Hàng Thế Giới, nghiên cứu này so sánh mức bảo hộ danh nghóa cho hai nhóm cây
lương thực cạnh tranh nhập khẩu chính và sản phẩm được xuất khẩu trong 16 quốc
gia đang phát triển suốt giai đoạn 1975-1979 và 1980-1984. Chỉ có 9 trong số 16
sản phẩm trong 2 nhóm thể hiện mức bảo hộ bình quân vào năm 1980-1984 cao
hơn 1975-1979. Trên tổng thể, dường như chính sách giá cả chuyên biệt trong từng
khu vực suốt nửa đầu thập niên 80 đã không cải thiện được “cơ hội kinh tế”, như
giáo sư Schultz đề cập chúng trong lời tựa đầu chương này.
Những quốc gia đang phát triển đã theo đuổi những kiểu bảo hộ nông nghiệp khác
nhau. Thí dụ, Hàn quốc phân biệt đối xử gây bất lợi cho nông nghiệp vào đầu thập
niên 70, nhưng rồi chuyển sang bảo hộ vào suốt giai đoạn giữa thập niên 80. Sự
dòch chuyển này được quy là do “những khó khăn xã hội và chính trò liên quan đến
sự điều chỉnh nguồn lực giữa các khu vực” cùng với sự dòch chuyển nhanh chóng
trong lợi thế so sánh ở Hàn quốc từ nông nghiệp sang công nghiệp (Honma và
Hayami 1987,59).
Ngược lại, Ma-lai-xi-a đánh thuế rất nặng những nhà sản xuất cây trồng xuất khẩu
(cao su và dầu cọ), họ chủ yếu không phải gốc người Malai ( Jenkins và Lai
1989), nhưng lại bảo hộ những nhà nông sản xuất gạo có quyền lực chính trò người
Mã-lai. Những chính sách giá nông sản ở Sri-Lan-ka ban đầu tương tự với những
chính sách giá ở Ma-lai-xi-a. Cho tới giữa những năm 70, Sri-Lanka đánh thuế vào
những nhà sản xuất cây trồng công nghiệp rất thành đạt (trà và cao su) để tài trợ
cho những chi tiêu xã hội lớn của nó. Chi phí chính trò tương đối nhỏ bởi vì những
đồn điền trà và cao su sử dụng một số lượng ít công nhân, chủ yếu là người Tamil.
Cùng lúc nước này bảo hộ sản xuất gạo, được thống trò bởi người Sin-ha-li có ảnh
hưởng lớn về mặt chính trò. Khi thặng dư từ các vụ trà bắt đầu giảm và nguồn lực từ
những bộ phận khác của nền kinh tế không đủ bù đắp sự sút giảm này, những nhà
chính trò ở Sri-Lanka phải “dựa vào chi tiêu bằng cách chòu thâm hụt và những
cách thu xếp nhanh khác” (Bhalla 1988,90). Cuối cùng một cuộc khủng hoãng kinh
gián tiếp dẫn đến sụt giảm trong tỷ giá hối đoái thực và trong giá tương đối nội đòa
của hàng hóa có thể xuất khẩu. Tương tự , thuế xuất khẩu không những làm giảm
một cách trực tiếp giá nội đòa của hàng hóa có thể xuất khẩu, mà còn gián tiếp gia
tăng tỷ giá hối đoái thực và giá nội đòa của hàng hóa có thể nhập khẩu (Lerner
1936), trong khi đó trợ cấp xuất khẩu có tác động ngược lại. Quy mô của những tác
động gián tiếp này phụ thuộc vào mức độ có thể thay thế giữa hàng hóa có thể
ngoại thương và hàng hóa nội đòa trong sản xuất và trong tiêu dùng. Yếu tố này
được gọi là thông số mức độ tác động. Ở Ác-hen-ti-na, Chi-lê, Cô -lum-bia, Ni-giê-
ri-a, Pê-ru, Phi-lip-pin và Zai-re, mức bảo hộ mạnh những sản phẩm công nghiệp
đã đánh một mức thuế gián tiếp đáng kể lên hàng nông nghiệp cạnh tranh nhập
khẩu và sản xuất xuất khẩu (Valdés).
Thuế quan và các biện pháp hạn chế đònh lượng đối với hàng nhập khẩu công
nghiệp, cũng như trợ cấp đối với hàng xuất khẩu công nghiệp, cũng dẫn đến sự
đònh giá quá cao tỷ giá hối đoái thực, trong khi thuế xuất khẩu nông sản có tác
động bù đắp, ngoại trừ trường hợp cầu nước ngoài không co giãn. Kinh nghiệm của
Phi-lip-pin cho thấy ảnh hưởng quan trọng của các biện pháp hạn chế ngoại thương
đối với tỷ giá hối đoái thực ( chương 6).
Sự thâm hụt không thể bền vững trong tài khoản đối ngoại là một nguồn nữa của sự
đònh giá quá cao tỷ giá hối đoái trong các quốc gia đang phát triển. Vì thế các
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Sự đònh giá quá cao tỷ giá hối đoái do cả các biện pháp hạn chế ngoại thương
chuyên biệt theo khu vực lẫn do thâm hụt không thể bền vững trong tài khoản đối
ngoại, đã tạo ra tác động gián tiếp tiêu cực đối với giá của nông sản có thể ngoại
thương chủ yếu trong những quốc gia đang phát triển (Kruger , Schiff, và Valdés
1988). Những ước lượng của các tác động giá này thay đổi từ giá trò trung bình thấp
4,3% và 9,5% cho giai đoạn 1975-1979 và 1980-1984 của Ma-lai-xi-a đến giá trò
cao nhất là 66% và 89% cho cùng các giai đoạn tương ứng ở Gha-na. Nhiều quốc
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Phát triển Nông thôn
Bài đọc
Sự phù hợp của chính sách ngoại thương
và chính sách kinh tế vó mô đối với nông
nghiệp
R. M. Bautista & A. Valdés Biên dòch: Xinh Xinh
Hiệu đính: Quang Hùng
10
gia đang phát triển, đặc biệt là những quốc gia có mức thu nhập thấp, đã duy trì
những mức không bảo hộ tổng thể cao (những tác động gián tiếp và trực tiếp) cho
cả các cây trồng xuất khẩu và thực phẩm cạnh tranh với hàng nhập khẩu. Thật
đáng ngạc nhiên, trong vài trường hợp, những tác động giá gián tiếp lớn hơn rất
nhiều so với mức bảo hộ danh nghóa trực tiếp. Hơn nữa, trong nhiều trường hợp
mức bảo hộ trực tiếp dương đối với cây lương thực thấp hơn tác động về giá gián
tiếp âm có thể quy cho sự đònh giá quá cao tỷ giá hối đoái. Ở Phi-lip-pin, sự kiểm soát nhập khẩu và ngoại hối thònh hành có tác động trực tiếp