Học viện Chính trị - hành chính quốc gia Hồ chí Minh
báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu
đề tài cấp bộ năm 2008
Mã số: B08-08
xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô
của nhà nớc ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp
Cơ quan chủ trì : Viện Quản lý kinh tế
Chủ nhiệm đề tài : TS Trịnh Thị ái Hoa
Th ký đề tài : ThS Hồ Thị Hơng Mai
7390
08/6/2009
FDI
IMF
ISG
NHNN
NHTM
NSNN
NTD
OMO
SWAP
TCTD
USD
VAT
VND
WB
WTO
Ngân hàng Phát triển Châu á
Cán cân thơng mại
Chính sách
Chính sách tiền tệ
Chính sách tài khoá
Chính sách kinh tế
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp Nhà nớc
Dự trữ bắt buộc
Đầu t trực tiếp nớc ngoài
Quỹ Tiền tệ Quốc tế
Chơng trình Hỗ trợ Quốc tế
Ngân hàng thơng mại
Ngân sách Nhà nớc
Ngời tiêu dùng
các thời kỳ 57
2.2. Đánh giá chung về xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô
của Nhà nớc ở Việt Nam 102
Chơng 3:
Giải pháp hoàn thiện việc xây dựng và thực
thi chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nớc ở
Việt Nam
116
3.1. Bối cảnh trong nớc và quốc tế ảnh hởng tới việc xây dựng và
thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam 116
3.2. Mục tiêu hoàn thiện việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế
vi mô của Nhà nớc ở Việt Nam 119
3.3. Giải pháp hoàn thiện việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế
vĩ mô của Nhà nớc ở Việt Nam 121
Kết luận
140
danh mục Tài liệu tham khảo
143
danh mục các hình Trang
Hình 1.1.
Quy trình xây dựng chính sách công ở Mỹ 27
Hình 1.2.
Quy trình hoạch định chính sách công ở úc
28
Hình 1.3.
với 1998
100
Hình 2.5.
Đánh giá về thể chế và chính sách quốc gia 101
Hình 3.1.
Đề xuất quy trình xây dựng CSTK và CSTM ở Việt Nam 127
Hình 3.2.
Đề xuất quy trình xây dựng CSKT vĩ mô 128
Hình 3.3.
Quy trình xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô 131
danh mục các bảng Trang
Bảng 2.1.
Một số mục tiêu kinh tế vĩ mô của Việt Nam (1991 - 2000) 66
Bảng 2.2.
Một số mục tiêu CSTM Việt Nam thời kỳ 1991 - 2000 68
Bảng 2.3.
Mục tiêu của một số công cụ chính sách thơng mại
Việt Nam
71
Bảng 2.4.
Một số mục tiêu kinh tế vĩ mô và kết quả thực hiện của
Việt Nam (1996 - 2000)
85
đúng quỹ đạo trở thành quốc gia phát triển. Nếu chúng ta quản lý kinh tế vĩ mô
không tốt, không có chiến lợc phát triển đúng đắn, không có chính sách phù
hợp, mục tiêu trở thành nớc thu nhập trung bình vào năm 2010 và trở thành
nớc công nghiệp vào năm 2020, mà chúng ta đang theo đuổi, khó trở thành hiện
thực. Việt Nam sẽ khó khăn hơn trong việc bắt kịp các nớc khác trong khu vực.
Mặt khác, trong trờng hợp những mục tiêu trên là khả thi, khi đó, nền kinh tế
của chúng ta sẽ ngày càng trở nên phức tạp, ngày càng có nhiều sự khác biệt
giữa các vùng, miền, giữa các tầng lớp dân c, nhiều rủi ro hơn, nhiều vấn đề
phức tạp phải giải quyết hơn. Điều đó đòi hỏi Nhà nớc phải có năng lực xây
dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô để có thể quản lý đợc nền kinh tế
phức tạp đó. Một điểm nữa, gia nhập WTO không có nghĩa là đất nớc sẽ tự cất
cánh. Điều cần thiết để Việt Nam có thể hội nhập thành công là cần có yếu tố
nội lực. Trong đó, việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà
nớc là một trong những yếu tố nội lực quan trọng để quản lý một nền kinh tế
ngày càng phức tạp, trong một môi trờng thế giới đầy biến động và cạnh tranh
2
gay gắt. Xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô là một trong những nhân
tố quan trọng cho phép Nhà nớc có thể kiểm soát đối với quá trình hội nhập,
đối phó với những khó khăn nghiêm trọng khi xảy ra.
Mặc dù việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nớc
trong thời gian qua đã có nhiều tiến bộ và đã đạt đợc những thành công quan
trọng, nhng vấn đề này còn hạn chế trên nhiều mặt. Do đó, đòi hỏi phải có giải
pháp hoàn thiện việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà
nớc, nhằm đáp ứng đợc yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế
của Việt Nam trong thời kỳ mới, để có thể đạt đợc những mục tiêu mà chúng ta
mong đợi, sớm đa đất nớc ta trở thành nớc công nghiệp phát triển vào năm
2020. Điều đó cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết cần có sự nghiên cứu một cách sâu
sắc, có hệ thống và khoa học vấn đề xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ
mô của Nhà nớc ở Việt Nam. Thực hiện đề tài này, nhóm nghiên cứu hy vọng
lớn, liên quan đến đề tài. Một là, phân tích những vấn đề kinh tế vĩ mô của Việt
Nam ở nhiều thời kỳ khác nhau. Hai là, phân tích, đánh giá các chính sách kinh tế
vĩ mô của Việt Nam qua các thời kỳ, nh chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá,
chính sách thơng mại, chính sách đầu t, các chiến lợc phát triển kinh tế xã hội.
Tuy nhiên, các đánh giá về xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà
nớc ở Việt Nam cha đợc thể hiện đậm nét và mới dừng ở mức độ chung nhất
trong các phân tích của các tác giả. Chúng cha đủ sâu sắc và cha đợc trình bày
một cách có hệ thống. Song, các kết quả nghiên cứu của các công trình này về
chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nớc, cho chúng ta có nhiều góc nhìn về xây
dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nớc ở Việt nam. Sau đây là một
số công trình tiêu biểu thuộc nhóm này. Các công trình này có thể đề cập tới nhiều
nội dung, nhng chúng tôi chỉ giới thiệu tóm lợc những nội dung chính liên
quan đến đề tài này.
- Phòng Tổng hợp Quốc gia Vụ Khu vực 1 Khu vực Đông á và Thái
Bình Dơng, (1995), Việt Nam: Báo cáo kinh tế về CNH và chính sách công
nghiệp (Tài liệu của Ngân hàng Thế giới), NXB Thế giới, H.
Trong tài liệu này, các nhà nghiên cứu đã tập trung phân tích các hoạt động
kinh tế vĩ mô của Việt Nam từ 1986 đến 1994. Các chính sách ở đây, đợc phân
tích dới giác độ tạo môi tr
ờng cho các doanh nghiệp t nhân phát triển. Ngoài
ra, tài liệu này cũng xem xét một số vấn đề khác, nh cải cách khu vực doanh
nghiệp Nhà nớc, CNH vùng và phát triển nông thôn, ngăn ngừa ô nhiễm công
nghiệpở đây, vấn đề quản lý kinh tế vĩ mô nói chung, xây dựng và thực thi
chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nớc nói riêng cha đợc đề cập tới một cách
rõ nét.
- Báo cáo kinh tế không chính thức của Ngân hàng Thế giới Hội nghị
nhóm t vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam, Hà Nội, ngày 14 - 15 / 12/1999, Việt
Nam chuẩn bị cất cánh? Làm thế nào Việt Nam có thể tham gia toàn diện vào
quá trình phục hồi của Đông á?
bộ máy nhà nớc đang đợc coi là rào cản lớn hạn chế chất lợng tăng trởng của
Việt Nam. Tuy nhiên, những phân tích của các tác giả về sự yếu kém trong năng lực
quản lý của Nhà nớc mới đợc thể hiện trong quản lý nói chung mà cha bàn sâu tới
quản lý kinh tế vĩ mô, xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô nói riêng.
- Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ơng (CIEM), (2001), nhóm các
báo cáo về kinh tế Việt Nam trong từng năm, từ năm 1998 tới 2006.
- Kinh tế Việt Nam 1998; Kinh tế Việt Nam 1999; Kinh tế Việt Nam 2000;
Kinh tế Việt Nam 2001; Kinh tế Việt Nam 2002; Kinh tế Việt Nam 2003, Kinh tế
Việt Nam 2004; Kinh tế Việt Nam 2005; Kinh tế Việt Nam 2006.
5
Đây là các báo cáo hàng năm về kinh tế Việt Nam do Viện Nghiên cứu
Quản lý Kinh tế Trung ơng thực hiện. Nội dung các báo cáo này gồm các phân
tích kinh tế của năm nghiên cứu, nh bối cảnh kinh tế thế giới và trong nớc,
tình hình kinh tế vĩ mô (tăng trởng kinh tế, cơ cấu kinh tế, đầu t, xuất nhập
khẩu hàng hoá, lạm phát, tỉ giá, cán cân thanh toán quốc tế), các điều chỉnh
chính sách kinh tế vĩ mô (chủ yếu đề cập tới chính sách tài chính, chính sách tiền
tệ, thu chi ngân sách, điều chỉnh lãi suất), kết quả tác động của các chính sách
thông qua các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô. Tuy vậy, việc phân tích, đánh giá các chính
sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam cha đợc thể hiện rõ nét trong các báo cáo
này, các vấn đề về xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô cha thấy đợc
đề cập ở đây.
- Ngân hàng Thế giới (12/2006), Báo cáo phát triển Việt Nam 2007:
Hớng đến tầm cao mới , www.vdic.org.vn.
Bản báo cáo có những đánh giá cụ thể những tiến bộ trong cách thức lập
kế hoạch của Việt Nam, những u điểm trong kế hoạch mới, những tiến bộ mà
Việt Nam đạt đợc trong thời kỳ 2001 -2005 thông qua các tiêu chuẩn đánh giá
là tăng trởng kinh tế, tỷ lệ giảm nghèo, các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
Bản báo cáo còn đa ra những phân tích, đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu
trong các lĩnh vực cải cách, trong cải cách chính sách kinh tế vĩ mô. Hơn nữa,
vietnamnet.com.vn
, ngày 8-10-2006.
- Vietnam: Country Assistance Strategy of the World Bank Group 1999
-2002 (Việt Nam: Chiến lợc hỗ trợ quốc gia của Nhóm Ngân hàng Thế giới
giai đoạn 1999 -2002), Tài liệu của Ngân hàng Thế giới.
- Vietnam: A Progress Report on the Country Assistance Strategy of the
World Bank Group 1999 -2002 (Việt Nam: Báo cáo tiến triển Chiến lợc hỗ trợ
quốc gia giai đoạn 1999 -2002), Tài liệu của Ngân hàng Thế giới.
- Việt Nam: Chiến lợc hỗ trợ quốc gia của Nhóm Ngân hàng Thế giới-
giai đoạn 2003 -2006), Tài liệu của Ngân hàng Thế giới.
- Báo cáo tiến triển Chiến lợc hỗ trợ quốc gia giai đoạn 2003 -2006, Tài
liệu của Ngân hàng Thế giới.
- Nguyễn Văn Thờng, Lê Du Phong(2006), Tổng kết kinh tế Việt Nam
2001 - 2006, NXB Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân, H.
- Lê Xuân Sang (2003), Chính sách kích cầu của Việt Nam sau 4 năm
nhìn lại: thành công hạn chế và một số gợi ý chính sách, Tạp chí Nghiên cứu
Kinh tế số 6-7, tr.3, 42.
- Võ Hùng Dũng, (200), Kinh tế Việt Nam: Phân tích từ tổng cầu, Tạp chí
Nghiên cứu kinh tế số 11, tr.3.
- Phạm Đỗ Chí, Trần Nam Bình, Vũ Quang Việt, (2002), Những vấn đề
kinh tế Việt Nam: Thử thách của hội nhập, NXB Thành phố Hồ Chí Minh,
Trung tâm Kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng, Thời báo Kinh tế Sài gòn.
- UNDP Bộ Kế hoạch và Đầu t, (2001), Việt Nam hớng tới 2010, Nxb
Chính trị Quốc gia, H, (Tuyển tập báo cáo phối hợp nghiên cứu chiến lợc Phát
triển kinh tế - xã hội của các chuyên gia quốc tế và Việt Nam).
7
- Hội nghị Nhóm T vấn các Nhà Tài trợ Việt Nam, (2004), Báo cáo phát
triển Việt Nam 2005: Quản lý và điều hành, Hà Nội, 12/2004.
- Hội nghị Nhóm T vấn các Nhà Tài trợ Việt Nam, (2002), Báo cáo phát
- Nguyễn Hồng Phong, (2005), Chính sách tài chính - tiền tệ với mục tiêu
cân bằng kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam qua 20
năm đổi mới, Tạp chí Công nghệ kỳ 1, tháng 12/2005.
8
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ơng, (2007), Cơ sở lý luận và
thực tiễn cho việc điều chỉnh chính sách tài khoá Việt Nam sau khi gia nhập
Tổ chức Thơng mại Thế giới, Hà Nội, Đề tài khoa học cấp bộ.
- Việt Nam: Quản lý tốt hơn nguồn lực Nhà nớc - Đánh giá chi tiêu
công 2000 (hai phần), Báo cáo của Nhóm công tác chung giữa Chính phủ Việt
Nam và các nhà tài trợ về đánh giá chi tiêu công, tháng 12/2000.
- Việt Nam: Đánh giá trách nhiệm tài chính quốc gia, Báo cáo của Ngân
Hàng thế giới với sự cộng tác của các cơ quan Chính phủ Việt Nam, tháng
10/2001.
- Việt nam: Quản lý chi tiêu công để tăng trởng và giảm nghèo Đánh
giá tổng hợp chi tiêu công 2004, Báo cáo chung của Chính phủ Việt Nam và
Ngân hàng thế giới với sự hỗ trợ của Nhóm các nhà tài trợ cùng mục đích, NXB
Tài chính, 4/2005
- Trơng Văn Phớc,(2006), Chính sách tỷ giá thời hội nhập,
www.nhandan.com.vn, cập nhật 14/8/2006
- Lê Đức Thuý (bài trả lời phỏng vấn của phóng viên Vietnamnet - Hồng
Phúc ghi)(2005), Ngân hàng Nhà nớc không bất lực trớc giá cả,
www.vietnamnet.com.vn
, cập nhật ngày 14/1/2005.
- Hồng Phúc, (2003), Ngân hàng Nhà nớc lúng túng trong quản lý thị
trờng ngoại hối, www.vietnamnet.com.vn
, cập nhật 29/10/2003.
- Vũ Quang Việt, (2004), Lạm phát ở Việt Nam hiện nay và sự cần nhìn
nhận lại lý thuyết tiền tệ, Thời đại mới- tạp chí nghiên cứu và thảo luận số 3,
tháng 11/2004, www.thoidai.org
thơng mại. Tuy nhiên, những công trình viết riêng về chính sách đầu t không
nhiều nh các công trình nghiên cứu về chính sách thơng mại. Hơn nữa, trong
nhiều công trình, chính sách thơng mại và chính sách đầu t đợc nghiên cứu
chung trong sự kết hợp chặt chẽ của hai chính sách này. Sau đây là một số công
trình tiêu biểu.
- Ari Kokko, (1997), Quản lý quá trình chuyển sang chế độ thơng mại
tự do: Chính sách thơng mại của Việt Nam cho thế kỷ XXI, Nxb Chính trị
quốc gia, H.
- Trịnh Thị ái Hoa: "Chính sách thơng mại của Việt Nam và quá trình
hội nhập quốc tế", Thơng mại, (16), tr. 2-3.
- David Vanzetti và Phạm Lan Hơng, (2006), Một số kịch bản cho
Chính sách Th
ơng mại Việt Nam,www.ciem.org.vn/hoithao/baocaokhoahoc
- Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế xã hội quốc gia (Bộ Kế hoạch và
Đầu t), Kinh tế Việt Nam nhìn từ bên ngoài, Hà Nội, 3/2005.
- Oxfam quốc tế (10/2004), Gia nhập WTO- Liệu Việt Nam có giành đợc
những điều kiện có lợi cho phát triển?
- Phạm Văn Thuyết - Nguyễn Thanh Hà (2001), Môi trờng Quy chế và
dịch vụ hỗ trợ phát triển xuất khẩu, Hội nghị t vấn của Ngân hàng thế giới về
xuất khẩu của Việt Nam: Chính sách và triển vọng, Hà Nội.
- Trần Hữu Dũng,(1996), Thơng mại và công nghiệp hoá: một cách-
- Trịnh Thị ái Hoa: "Có lợi gì khi dùng hạn ngạch để bảo hộ sản xuất
trong nớc", Thơng mại, (17), tr. 5-7.
- Trịnh Thị ái Hoa: Hạn ngạch xuất khẩu gạo và vấn đề bảo đảm cân đối
lơng thực của Việt Nam, Nghiên cứu Kinh tế, số 325 (6), tr. 39 42.
10
Nh vậy, có thể thấy rằng, mặc dù đã giải quyết nhiều vấn đề cốt lõi của
kinh tế vĩ mô ở Việt Nam, đã đề cập tới một số khía cạnh về xây dựng và thực thi
chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nớc ở Việt Nam, nhng các công trình nói trên
- Phân tích mục tiêu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện việc xây dựng và
thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nớc ở Việt Nam.
11
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tợng nghiên cứu của đề tài là xây dựng và thực thi chính sách kinh
tế vĩ mô ở Việt Nam. Các chính sách kinh tế vĩ mô đợc xem xét ở đây bao gồm
chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá (hay chính sách ngân sách), chính sách
thơng mại quốc tế (hay chính sách ngoại thơng). Đó là các chính sách tác
động tới tổng cầu của nền kinh tế.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài
+ Về nội dung: đề tài nghiên cứu xây dựng và thực thi chính sách kinh tế
vĩ mô của Nhà nớc ở Việt Nam. Mặt khác, chủ thể xây dựng và thực thi chính
sách kinh tế vĩ mô là Nhà nớc đợc nghiên cứu ở đây, chỉ gồm Chính phủ và
các bộ liên quan tới kinh tế vĩ mô, nh Bộ tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu t, Bộ
Thơng mại, Ngân hàng Nhà nớc Hơn nữa, chi tiêu của Chính phủ trong
chính sách tài khoá có chi tiêu thờng xuyên và chi đầu t. Do đó, chính sách
đầu t đợc nghiên cứu trong đề tài này là chính sách đầu t phát triển của Nhà
nớc. ở đây, chính sách đầu t đối với khu vực t nhân không đợc nghiên cứu.
+ Về thời gian, vấn đề nghiên cứu sẽ đợc xem xét trong khoảng thời gian
từ 1986 tới năm 2008, trong đó, đề tài sẽ u tiên tập trung nghiên cứu ở thời kỳ
1991 - 2000 và 2001- 2008.
5. Phơng pháp nghiên cứu và phơng pháp tiếp cận
- Về phơng pháp luận chung: Đề tài coi phơng pháp duy vật biện chứng,
phơng pháp duy vật lịch sử là cơ sở của phơng pháp luận chung trong nghiên
cứu, tiếp cận và giải quyết vấn đề.
- Về phơng pháp nghiên cứu cụ thể: cùng với phơng pháp trừu tợng hoá, là
phơng pháp thờng đợc sử dụng trong khoa học xã hội và kinh tế nói riêng, đề
tài sẽ chú trọng sử dụng các phơng pháp nghiên cứu lý thuyết vổ tổng kết thực
tiễn; phơng pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp; phơng pháp hệ
và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nớc ở Việt Nam trong thời kỳ mới.
7. Kết cấu của đề tài
Thực hiện những nội dung trên, ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài
đợc kết cấu thành 3 chơng, 8 tiết.
13
Chơng 1
Cơ sở lý luận về xây dựng và thực thi chính sách
kinh tế vĩ mô của nhà nớc ở Việt Nam
Nội dung chơng này gồm: a) Xác định khái niệm xây dựng và thực thi
chính sách kinh tế vĩ mô cũng nh quy trình xây dựng và thực thi các chính sách
này; b) Phân tích các đặc điểm của việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế
vĩ mô ở Việt Nam, đồng thời xác định các mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô
ở Việt Nam; c) Nội dung đánh giá việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế
vĩ mô của Nhà nớc.
1.1. Khái niệm, chu trình chính sách kinh tế vĩ mô, phân loại
xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nớc
1.1.1. Khái niệm xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của
Nhà nớc
Trớc khi xác định khái niệm xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ
mô của Nhà nớc, chúng ta cần nhắc lại và làm rõ hơn một số khái niệm liên
quan. Đó là khái niệm kinh tế vĩ mô và chính sách kinh tế vĩ mô.
Khi nói đến kinh tế vĩ mô là muốn nói tới kinh tế của quốc gia. Kinh tế
của một quốc gia có thể nhìn ở các góc độ khác nhau. ở một góc độ này, nền
kinh tế của một quốc gia đợc xem xét nh một thể thống nhất với nhiều ngành
kinh tế, nhiều lĩnh vực kinh tế có quan hệ chặt chẽ với nhau. Chẳng hạn, trong
một nền kinh tế có các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Trong các
ngành đó lại có nhiều phân ngành khác nhau. Chẳng hạn trong ngành dịch vụ có
các phân ngành tài chính - tiền tệ, thơng mại, du lịchở góc độ này, kinh tế vĩ
để tác động vào nền kinh tế nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô
Chính sách kinh tế vĩ mô cũng có thể xem xét trên nhiều phơng diện
khác nhau. ở đây, chính sách kinh tế vĩ mô đợc hiểu là những quyết định của
Nhà nớc tác động với tổng cung, tổng cầu của nền kinh tế.
Chủ thể xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô là Nhà nớc.
Nhà nớc đợc hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo quan điểm của
Ngân hàng Thế giới, Nhà nớc, theo nghĩa rộng, là một tập hợp các thể chế nắm
giữ những phơng tiện c
ỡng chế hợp pháp, thi hành trên một vùng lãnh thổ
đợc xác định và ngời dân sống trên lãnh thổ đó đợc đề cập nh một xã hội.
Nhà nớc độc quyền ra quy định trong phạm vi lãnh thổ của nó, thông qua
phơng tiện thi hành của một chính phủ có tổ chức [1; tr.34].
Theo Frank Ellis, nhà kinh tế học ngời Anh, Nhà nớc đợc định nghĩa
nh tập hợp toàn bộ các thể chế công cộng chịu trách nhiệm về hành chính và
thực thi các quyết sách [2; tr.24].
15
Theo quan niệm của Việt Nam, Nhà nớc là hệ thống các cơ quan công
quyền từ Trung ơng tới cơ sở. Đó là các cơ quan lập pháp, hành pháp và t pháp
các cấp. Do vậy, Nhà nớc bao gồm Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp,
Chính phủ với các bộ chức năng, Uỷ ban nhân dân các cấp, Toà án, Viện kiểm
sát nhân dân các cấp
Thuật ngữ chính phủ (hay chính quyền) cũng đợc hiểu theo nhiều
cách khác nhau, đợc dùng với những mục đích khác nhau trong những bối cảnh
khác nhau. Chính phủ hay chính quyền theo quan niệm của Ngân hàng Thế giới,
có thể đề cập tới quá trình cai trị, tới việc thi hành quyền lực. Nó cũng có thể
nói tới sự tồn tại của quá trình đó hoặc tới điều kiện thống trị có trật tự. Chính
quyền thờng có nghĩa là những ngời nắm giữ các vị trí quyền lực trong một
nhà nớc. Cuối cùng, từ này dùng để chỉ hành vi, phơng pháp hay chế độ cai trị
trong một xã hội: chỉ cơ cấu và sự sắp xếp các cơ quan và cách mà nó ảnh hởng
Các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô bao gồm các công cụ của chính sách
tiền tệ, chính sách tài khoá, chính sách thơng mại và đầu t, chính sách thu
nhập việc làm. Sử dụng các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô, Nhà nớc ban
hành các quy định pháp lý về cách thức, biện pháp tác động và cơ chế thực thi,
phối hợp các công cụ chính sách đó để tác động tới các vấn đề kinh tế vĩ mô. Các
công cụ đó là lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu, lãi suất cơ bản,
nghiệp vụ thị trờng mở, thuế quan và các biện pháp phi thuế quan, thuế nội địa,
chi tiêu của chính phủ, Các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô còn có thể là
chiến lợc, kế hoạch phát triển kinh tế của Nhà nớc, Đó là những công cụ
tác động tới tổng cung dài hạn của nền kinh tế.
Xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nớc là quá
trình Nhà nớc thực hiện các chức năng quản lý của mình trong chu trình
chính sách kinh tế vĩ mô.
Khi xem xét khái niệm này, có sáu điểm cần chú ý.
Thứ nhất, chu trình chính sách kinh tế vĩ mô là một chuỗi các bớc, các
công việc quản lý đợc, đợc thực hiện khi xây dựng và thực thi chính sách kinh
tế vĩ mô. Chu trình chính sách kinh tế vĩ mô còn đợc sử dụng bởi nhiều thuật
ngữ khác nh quy trình chính sách kinh tế vĩ mô, quy trình xây dựng và thực thi
chính sách kinh tế vĩ mô. Sau đây, chúng tôi sử dụng thuật ngữ chu trình chính
sách kinh tế vĩ mô trong các nội dung nghiên cứu của đề tài.
Thứ hai, mỗi chu trình chính sách kinh tế vĩ mô có một số xác định các bớc,
các công việc cần phải thực hiện. Có nhiều cách xác định, sắp xếp các bớc, các
công việc trong chu trình chính sách kinh tế vĩ mô. Nội dung mỗi bớc trong chu
trình chính sách kinh tế vĩ mô cũng đợc tiếp cận, xem xét theo nhiều cách khác
nhau. Vấn đề này sẽ đợc bàn sâu hơn trong tiểu mục 1.1.2.1.
Thứ ba, mỗi bớc trong chu trình chính sách gồm nhiều khâu, nhiều việc
cụ thể. Các khâu trong bớc hoạch định chính sách đợc thực hiện theo trình
17
tự xác định. Đó là quy trình hoạch định chính sách. Các thuật ngữ quy trình xây
Khi nghiên cứu chính sách công của Hoa Kỳ trong giai đoạn 1935 - 2001,
tác giả Lê Vinh Danh xác định chu trình chính sách công gồm 4 bớc: xác định
18
vấn đề chính sách và nghiên cứu chính sách; hoạch định chính sách; tổ chức
thực thi chính sách; phân tích đánh giá điều chỉnh chính sách.
Trong chơng trình đào tạo lãnh đạo chính trị của trờng Đại học Portland
(Mỹ), chu trình chính sách công đợc xác định gồm hai bớc (hay hai giai đoạn)
là hình thành chính sách và thực hiện chính sách [4]. Nói là hai bớc nhng thực
chất các khâu thực hiện của hai bớc này cũng tơng tự nh bốn bớc mà tác giả
Lê Vinh Danh đã trình bày trong nghiên cứu nói trên.
Tuy nhiên, trong chơng trình đào tạo chính sách công do ADB hỗ trợ cho
Việt Nam, chu trình chính sách công cũng đợc xác định gồm 4 bớc nhng nội
dung có khác đôi chút. Bốn bớc đó là lập kế hoạch chiến lợc; hoạch định và
phân bổ nguồn lực; thực hiện chiến lợc và đánh giá.
ở Việt Nam, có nhiều tác giả đã nghiên cứu về chu trình chính sách công,
công nghệ làm chính sách công. Tác giả Nguyễn Sỹ Dũng có cách tiếp cận chu
trình chính sách công theo một cách khác. Theo ông, quy trình chính sách công
(hay chu trình chính sách công) gồm hai công đoạn: công đoạn kỹ thuật của chính
sách và công đoạn chính trị của chính sách. Công đoạn kỹ thuật của chính sách lại
gồm ba bớc: i) Nhận biết vấn đề; ii) Nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân của vấn đề
và đề ra giải pháp (giải pháp chính là chính sách) để giải quyết vấn đề; iii) Phân tích
chính sách về giải pháp đã đợc đề ra. Công đoạn chính trị của chính sách là công
đoạn mà trong đó các vấn đề và giải pháp đợc đa ra trình chính phủ xem xét. Nếu
chính phủ phê chuẩn thì chính sách đợc bắt đầu soạn thảo Trờng hợp ngợc lại,
nếu chính phủ không phê chuẩn chính sách thì mọi chuyện có thể chấm dứt tại đó
hoặc một chính sách mới phù hợp hơn phải đ
ợc đề ra [5].
ở đây, tác giả Nguyễn Sỹ Dũng mới xét quy trình chính sách ở bớc đầu
là nghiên cứu sơ bộ và trình chính phủ phê chuẩn.
Bớc một là nghiên cứu ban đầu. Bớc này bao gồm việc dự báo, xác định
vấn đề chính sách và nghiên cứu chính sách.
Dự báo trong chu trình chính sách kinh tế vĩ mô là việc phán đoán trớc
toàn bộ hoạt động kinh tế vĩ mô của quốc gia có thể xảy ra trong tơng lai, trên
cơ sở các số liệu dữ liệu đợc phân tích, tổng hợp một cách khoa học. Dự báo là
cơ sở để xây dựng các kịch bản chính sách kinh tế vĩ mô, các khung khổ chính
sách kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Dự báo kinh tế vĩ mô
luôn hàm ý tính bất ổn và thay đổi. Điều này là hiển nhiên vì các biến số
của các mô hình dự báo là từ thông tin, mà thông tin thì luôn xuất hiện mới và
bất ngờ. Điều quan trọng hàng đầu của dự báo chính là nhận diện hàng trăm,
hàng nghìn những biến số có khả năng xảy ra. Để sau đó, nếu nh các biến số (1)
Những nội dung ở dới đây đợc phân tích dựa chủ yếu theo tài liệu [3]