ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Ngô Ngọc Hải
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI
LOÀI THẠCH SÙNG MÍ CÁT BÀ GONIUROSAURUS CATBAENSIS
VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP BẢO TỒN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Ngô Ngọc Hải
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI LOÀI
THẠCH SÙNG MÍ CÁT BÀ GONIUROSAURUS CATBAENSIS
VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP BẢO TỒN
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Lê Đức Minh
TS. Nguyễn Quảng Trường
CHLB Đức). Xin được trân trọng cảm ơn.
Tôi xin cảm ơn Ban Giám đốc, các cán bộ kiểm lâm của VQG Cát Bà, người
dân địa phương các xã thuộc VQG Cát Bà đã cung cấp thông tin và tạo điều kiện thuận
lợi cho tôi trong quá trình khảo sát thực địa.
Xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và người thân đã động viên và ủng
hộ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu này.
Nghiên cứu thực địa trong năm 2014 và 2015 được hỗ trợ bởi Vườn thú
Cologne (CHLB Đức)
Hà Nội,
tháng
năm 2015
Học viên
Ngô Ngọc Hải
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ....................................... 2
1.1.
Tổng quan về nghiên cứu bò sát ở Việt Nam ................................................ 2
1.1.1. Đa dạng loài bò sát ở Việt Nam ......................................................................... 2
1.1.2. Các nghiên cứu về bò sát ở vùng Đông Bắc....................................................... 2
1.1.3. Nghiên cứu về bò sát ở đảo Cát Bà .................................................................... 3
1.1.4. Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài bò sát ........................ 4
Các loài Thạch sùng mí phân bố ở Việt Nam .................................................. 13
CHƢƠNG II. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ... 14
2.1.
Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 14
2.2.
Nội dung nghiên cứu ...................................................................................... 14
2.3.
Phƣơng pháp nghiên cứu .............................................................................. 15
2.3.1.
Dụng cụ khảo sát thực địa ................................................................................ 15
2.3.2.
Khảo sát thực địa .............................................................................................. 15
2.3.3.
Ước tính mật độ và kích cỡ quần thể ............................................................... 17
2.3.3.1. Phương pháp bắt – đánh dấu – thả – bắt lại ..................................................... 17
2.3.3.2. Ước tính mật độ quần thể. ................................................................................ 19
3.1.3.
Thể trạng cơ thể theo nhóm tuổi....................................................................... 34
3.2.
Hiện trạng quần thể ....................................................................................... 36
3.2.1.
Hiện trạng phân bố ........................................................................................... 36
3.2.2.
Ước tính mật độ quần thể của loài Thạch sùng mí cát bà ................................ 38
3.2.3.
Ước tính kích cỡ quần thể của loài Thạch sùng mí cát bà ............................... 41
3.2.4.
Cấu trúc quần thể .............................................................................................. 43
3.3.
Một số đặc điểm sinh thái của loài Thạch sùng mí cát bà .......................... 48
3.3.1.
3.5.2.
Bảo vệ sinh cảnh ............................................................................................... 59
3.5.3.
Tuyên truyền và nâng cao nhận thức................................................................ 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................................................... 61
1.
Kết luận ........................................................................................................... 61
2.
Kiến nghị ......................................................................................................... 62
2.1.
Đối với công tác nghiên cứu tiếp theo.............................................................. 62
2.2.
Đối với công tác bảo tồn .................................................................................. 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Hình 17: So sánh trọng lượng hai loài G.catbaensis và G.luii ...................................... 32
Hình 18: Tỷ lệ dài đầu với rộng đầu (HL/HW) giữa loài G.catbaensis và loài
G.luii…….. ..................................................................................................................... 33
Hình 19: Sự tương quan sinh trưởng giữa chiều dài cơ thể (SVL) và trọng lượng
(W)……………………………………………………………………………………34
Hình 20: Thể trạng cơ thể theo cấu trúc quần thể của loài Thạch sùng mí cát bà ........ 35
Hình 21: Biến thiên thể trạng cơ thể của loài Thạch sùng mí cát bà theo các tháng .... 35
Hình 22: Thể trạng cơ thể ở 2 loài G.catbaensis và G.luii ............................................ 36
Hình 23: Bản đồ vùng phân bố của loài Thạch sùng mí cát bà. .................................... 37
Hình 24: A) Sinh cảnh ghi nhận cá thể sát ven biển; B) Sinh cảnh nhỏ ghi nhận cá thể
bám; C) Hình ảnh cá thể đánh dấu. ............................................................................... 38
Hình 25: Bản đồ ghi nhận số lượng cá thể theo các tuyến khảo sát tại VQG Cát Bà ... 39
Hình 26: A) Mật độ cá thể của loài Thạch sùng mí cát bà trên đơn vị chiều dài (km);
B) Mật độ quần thể loài trên đơn vị diện tích (km2) theo tháng. ................................... 41
Hình 27: Cấu trúc theo nhóm tuổi dựa trên sự khác biệt về chiều dài SVL .................. 44
Hình 28: Biến thiên giá trị SVL của các cá thể Thạch sùng mí cát bà quan sát theo các
tháng…. ......................................................................................................................... 45
Hình 31: Phân bố theo độ cao của loài G.catbaensis tại 2 điểm nghiên cứu ở VQG Cát
Bà và của loài G.luii tại huyện Hạ Lang, Cao Bằng ..................................................... 49
Hình 32: Tần suất bắt gặp các cá thể loài Thạch sùng mí cát bà theo độ cao ............... 49
Hình 33: Tần suất bắt gặp của loài Thạch sùng mí cát bà theo độ che phủ .................. 50
Hình 34: Tỉ lệ phân bố theo nơi ở của 2 loài G.catbaensis và G.luii ............................ 51
Hình 35: Độ cao từ vị trí bám so với mặt đất của loài Thạch sùng mí cát bà theo nhóm
tuổi và giữa các cá thể cái mang trứng và cá thể trưởng thành ..................................... 52
Hình 36: Tần suất ghi nhận các cá thể trên các dạng mặt bám theo nhóm tuổi của loài
Thạch sùng mí cát bà …… ............................................................................................ 52
Hình 37: Độ cao từ vị trí bám của các cá thể Thạch sùng mí cát bà so với mặt đất theo
từng loại mặt bám…….. ................................................................................................ 53
Hình 38: Tỉ lệ (%) thành phần thức ăn trong dạ dày của loài Thạch sùng mí cát bà .... 56
IEBR
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
IUCN
Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (The World Conservation
Union)
MVP
Quần thể tối thiểu để tồn tại (Minimum Viable Population)
PCA
Phân tích thành phần chính (Principal Component Analysis)
UNESCO
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (United
Nations Educational Scientific and Cultural Organization)
VQG
Vườn Quốc gia
MỞ ĐẦU
Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có khu hệ bò sát đa dạng
nhất trên thế giới với khoảng hơn 450 loài bò sát được ghi nhận (Uetz & Hošek, 2015)
1.1.
Tổng quan về nghiên cứu bò sát ở Việt Nam
1.1.1. Đa dạng loài bò sát ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng Indo-Burma, là một trong 34 điểm nóng trên thế giới
về đa dạng sinh học (Conservation International 2013) [16]. Việt Nam cũng được đánh
giá là một trong 25 quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao nhất thế giới (Myers và
cs, 2000) trong đó có khu hệ bò sát [29]. Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc
ghi nhận 258 loài bò sát, số lượng loài tăng lên 368 loài vào năm 2009 (Nguyễn và cs,
2009) và lên tới 420 loài vào năm 2013 [37]. Chỉ tính riêng trong hai năm trở lại đây
có tới hơn 30 loài mới được công bố hoặc ghi nhận tại Việt Nam (tính đến tháng 72015 theo Uetz & Hošek, 2015) [54] (Hình 1). Số lượng loài tăng lên nhanh chóng và
những phát hiện mới chứng tỏ khu hệ bò sát của Việt Nam rất đa dạng và cần tiếp tục
những nghiên cứu chi tiết hơn.
500
450
400
350
300
250
200
150
100
50
0
420
450
Về mô tả loài mới và ghi nhận mới cho Việt Nam: Le & Ziegler (2003) lần đầu
tiên ghi nhận loài Shinisaurus crocodilurus ở Việt Nam [25]. Darevsky và cs (2004)
mô tả loài mới Sphenomorphus devorator ở Quảng Ninh [19]. Böhme và cs (2005) mô
tả mới loài Tylototriton vietnamensis ở Bắc Giang [13]. Vu và cs (2006) ghi nhận bổ
sung loài Goniurosaurus luii cho khu hệ bò sát của Việt Nam [59]. Ziegler và cs
(2008) mô tả mới Goniurosaurus catbaensis ở đảo Cát Bà [62]. Ziegler và cs (2008)
phát hiện loài mới Opisthotropis tamdaoensis ở Tam Đảo [61]. Năm 2009, Orlov và cs
mô tả loài rắn mới Protobothrops trungkhanhensis với mẫu chuẩn thu tại tỉnh Cao
Bằng [41]. Nguyen và cs (2010) mô tả loài mới Scincella apraefrontalis tại tỉnh Lạng
Sơn [32]. Rosler và cs (2010) mô tả loài Gekko canhi thu tại tỉnh Lạng Sơn [46].
David và cs (2012) mô tả mới loài Oligodon nagao tại tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng
[17]. Nguyen và cs (2012) ghi nhận bổ sung loài Sphenomorphus incognitus cho khu
hệ bò sát của Việt Nam với mẫu vật thu tại tỉnh Bắc Giang [35]. Orlov và cs (2013)
mô tả loài mới Azemiops kharini với mẫu vật thu tại các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn và
Vĩnh Phúc [42].
1.1.3. Nghiên cứu về bò sát ở đảo Cát Bà
Darevsky (1990) ghi nhận 7 loài bò sát phân bố trên đảo Cát Bà [18]. Năm
1993, Bobrov ghi nhận 18 loài bò sát ở các đảo thuộc vịnh Bắc Bộ, trong đó có đảo
Cát Bà [11]. Nguyen và Shim (1997) ghi nhận 20 loài, bao gồm cả 2 loài rùa biển [38].
Gần đây nhất, Nguyen và cs (2011) đã ghi nhận 40 loài bò sát trong đó có 1 loài rùa,
19 loài thằn lằn và 20 loài rắn ở đảo Cát Bà [34]. Về loài mới, Ziegler và cs (2008)
công bố loài Thạch sùng mí cát bà Goniurosaurus catbaensis [62]. Nguyen và cs
(2011) công bố loài Thằn lằn phê-nô bắc bộ Sphenomorphus tonkinensis với mẫu
chuẩn thu ở Cát Bà (Hải Phòng), đảo Ba Mùn (Quảng Ninh), Tam Đảo (Vĩnh Phúc) và
đảo Hải Nam (Trung Quốc) [31].
3
Như vậy các nghiên cứu về bò sát ở Việt Nam tập trung ghi nhận về thành phần
loài ở các khu vực khác nhau và khám phá loài mới.
4
tiếp nhau. Vườn quốc gia Cát Bà chiếm phần lớn diện tích của quần đảo đá vôi thuộc
khu dự trữ sinh quyển [2] (Hình 2).
1.2.1. Vị trí địa lý
VQG Cát Bà có tọa độ địa lý: 20°41' - 22°53' vĩ độ Bắc, 106°58' - 107°14' kinh
độ Đông; phía Đông, Đông Nam và Đông Bắc giáp vịnh Hạ Long được ngăn cách bởi
lạch Ngăn và lạch Đầu Xuôi của tỉnh Quảng Ninh; phía Tây và Tây Nam là sông Bạch
Đằng, sông Cấm và biển Đồ Sơn. Đảo Cát bà cách trung tâm thành phố Hải Phòng
khoảng 50 km về phía Đông, cách Hà Nội khoảng 150 km về phía Đông Bắc, nằm
giáp ranh với Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long (Birdlife International 2004)
[2].
1.2.2. Địa hình
₋
Diện tích
Tổng diện tích Khu dự trữ sinh quyển Quần đảo Cát Bà 26.241 ha (17.041 ha
phần đảo và 9.200 ha phần biển) bao gồm hầu hết 366 hòn đảo lớn nhỏ thuộc quần đảo
Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng (Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Quần
đảo Cát Bà, 2013). Khu Dự trữ Sinh quyển có đầy đủ 3 vùng chức năng: Vùng lõi
(8.500 ha), vùng đệm (7.741 ha) và vùng chuyển tiếp (10.000ha) [2] (Hình 2).
Nghiên cứu của chúng tôi tập trung trên địa bàn của VQG Cát Bà. Theo Quyết
định số 79/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ký ngày 31/03/1986 thì VQG Cát Bà
có tổng diện tích là 15.200 ha, bao gồm khu vực đất liền trên đảo 9.800 ha và vùng
biển 5.400 ha (Birdlife International 2004) [2].
5
Quần đảo Cát Bà gồm 366 hòn đảo lớn, nhỏ quây quần xung quanh nó là di chỉ
của một nếp lồi lớn thuộc phức nếp lồi Quảng Ninh có trục phát triển theo hướng Tây
Bắc-Nam. Tại đây còn lộ ra các đá cổ hơn so với các đảo còn lại của Vịnh Hạ Long.
Hoạt động đứt gãy, phá hủy xảy ra mạnh mẽ ở khu vực quần đảo Cát Bà, làm dịch
chuyển các thành tạo địa chất và làm biến dạng các nếp uốn, đồng thời khống chế sự
phát triển của địa hình, tạo nên những thung lũng dạng tuyến kéo dài. Hoạt động đứt
gãy đồng thời tạo nên khe nứt trong đá vôi, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đá
vôi hóa (Tran & Waltham, 2001) [53].
Đảo Cát Bà là đảo lớn nhất, có độ cao phổ biến khoảng 100 m, những đỉnh có
độ cao trên 200 m không nhiều, cao nhất có đỉnh Cao Vọng 322 m. Các đảo nhỏ có
7
đầy đủ các dạng địa hình của một miền đá vôi bị ngập nước biển. Nhìn chung, Cát Bà
có các kiểu địa hình chính: Địa hình núi đá vôi, địa hình đồi đá phiến, kiểu địa hình
thung lũng giữa các núi, địa hình bồi tích ven biển.
Các loại đá trên quần đảo Cát Bà được chia thành 3 hệ tầng hình thành trong
các kỷ từ Devon qua Carbon đến Permi, tức là khoảng thời gian từ 385 triệu năm đến
248 triệu năm trước. Ngay trên đảo lớn Cát Bà có thể quan sát được ranh giới thời địa
tầng chuyển tiếp Devon-Carbon (khoảng 360 triệu năm trước) (Khu Dự trữ sinh quyển
thế giới Quần đảo Cát Bà, 2013) [2].
1.2.3. Khí hậu
₋
Nhiệt độ
Theo số liệu của Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Quần đảo Cát Bà (2013), nhiệt
độ trung bình năm ở khu vực đảo Cát Bà là 23,60C. Tháng có nhiệt độ cao nhất là
tháng 7, nhiệt độ trung bình từ 28-290C, cao nhất 320C. Tháng có nhiệt độ thấp nhất là
tháng 1, nhiệt độ trung bình từ 16-170C, thấp nhất 100C, đôi khi xuống tới 50C. Mùa
trong các thung, áng. Bão kèm theo mưa lớn gây ảnh hưởng nặng đến các hệ thống đê,
các khu vực canh tác nuôi trồng thuỷ sản (Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Quần đảo
Cát Bà, 2013) [2].
1.2.4. Đa dạng sinh học
- Hệ sinh thái
Khu DTSQ quần đảo Cát Bà hội tụ nhiều hệ sinh thái tiêu biểu của Việt Nam
như: rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn, vùng triều, hồ nước mặn
(tùng, áng), rạn san hô, đáy mềm (động thực vật phù du, thảm rong, cỏ biển,…) và hệ
thống các hang động đá vôi.
Những hệ sinh thái này trải khắp quần đảo Cát Bà như khu vực trung tâm VQG
Cát Bà, Ao Ếch, Đồng Công, Vạn Tà, Tai Kéo, và các đảo thuộc vịnh Lan Hạ (Khu
Dự trữ sinh quyển thế giới Quần đảo Cát Bà, 2013) [2].
- Hệ động, thực vật
Theo tài liệu Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Quần đảo Cát Bà (2013), đã ghi
nhận 3.885 loài động vật và thực vật (trên cạn 2.163 loài, dưới biển 1.711 loài, cá nước
ngọt 11 loài). Đặc biệt từ năm 2004 đến tháng 7/2013 tại đảo Cát Bà đã ghi nhận 4 loài
mới cho khoa học gồm hai loài dơi Dơi mũi xám lớn (Hipposideros grandis), Dơi nếp
mũi Grip-phin (Hipposideros griffin), một loài Thằn lằn phê-nô bắc bộ
(Sphenomorphus tonkinensis) và loài Thạch sùng mí cát bà (Goniurosaurus
catbaensis) [2; 36].
9
Các loài sinh vật cạn đã ghi nhận gồm 55 loài thú, 160 loài chim, 47 loài bò sát,
21 loài ếch nhái, 1 loài giáp xác cạn, 274 loài côn trùng, và 1.561 loài thực vật bậc cao,
44 loài nấm [2].
Sinh vật biển gồm 196 loài cá, 193 loài san hô, 658 loài động vật đáy và 131
loài động vật phù du, 400 loài thực vật phù du, 102 loài rong biển, 31 loài thực vật
ngập mặn [2].
kuroiwae (Namiye, 1912), G. orientalis (Maki, 1931), G. splendens (Nakamura
& Uano, 1959), G. toyamai Grismer, Ota và Tanaka, 1994, và G. yamashinae
(Okada, 1936).
Nhóm G.luii gồm 8 loài: G. araneus Grismer, Viets & Boyle, 1999 phân bố ở
Đông Bắc Việt Nam và phía Tây Nam tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), G.
bawanglingensis Grismer, Haitao, Orlov & Anajeva, 2002 ở đảo Hải Nam; G.
catbaensis Ziegler, Nguyen, Schmitz, Stenke & Rosler, 2008 ở đảo Cát Bà
(Việt Nam), G. huuliensis Orlov, Ryabov, Nguyen, Nguyen & Ho, 2008 ở tỉnh
Lạng Sơn (Việt Nam), G. liboensis Wang, Yang & Grismer, 2013 phân bố ở
Quảng Tây và Quý Châu (Trung Quốc), G. luii Grismer, Viets & Boyle, 1999 ở
khu vực Tây Nam tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) và các tỉnh Cao Bằng, Lạng
Sơn (Việt Nam) và 2 loài mới mô tả gần đây G. kadoorieorum và
G.kwangsiensis Yang & Chan, 2015 phân bố ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc)
(Hình 4).
Nhóm G. yingdeensis bao gồm 2 loài: G. yingdeensis Wang, Yang & Cui, 2010
và loài G. zhelongi Wang, Jin, Li & Grismer, 2014 phân bố ở tỉnh Quảng Đông
(Trung Quốc) [60].
11
Hình 4: Các loài thuộc nhóm Thạch sùng mí lui A: G. kwangsiensis; B: G.
kadoorieorum; C: G. araneus; D: G. bawalingensis; E: G. luii; F: G. liboensis; G:
G. catbaensis; H: G. huuliensis (Nguồn ảnh A-F: Yang và Chan, 2015)
12
1.3.2. Các loài Thạch sùng mí phân bố ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hiện đã ghi nhận 5 loài gồm: Goniurosaurus araneus, G.
Xác định mối tương quan giữa chiều dài và cân nặng
₋
Xác định thể trạng cơ thể của loài
Nội dung 2: Đánh giá hiện trạng và ước tính kích cỡ quần thể của loài Thạch
sùng mí cát bà.
₋
Xác định các điểm phân bố của loài ở VQG Cát Bà
₋
Ước tính mật độ của loài
₋
Ước tính kích cỡ quần thể của loài
₋
Xác định cấu trúc quần thể theo nhóm tuổi và giới tính
Nội dung 3: Xác định một số đặc điểm sinh thái của loài Thạch sùng mí cát bà
₋
Mô tả sinh cảnh sống của loài