TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN
----------------***--------------
Lại Thị Phƣơng Thành
LỰA CHỌN VÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG
CÁC ĐỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ CHO CHƢƠNG TRÌNH
SÁCH GIÁO KHOA SINH HỌC 10 (2006) THEO HƢỚNG
ĐỔI MỚI PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp giảng dạy
Người hướng dẫn: Thạc sĩ Trần Thị Hường
HÀ NỘI – 2007
Lời cảm ơn!
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô: Trần Thị Hƣờng – giảng viên
bộ môn phƣơng pháp giảng dạy khoa Sinh – KTNN đã tận tình hƣớng dẫn em
hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, và các bạn khoa Sinh – KTNN
trƣờng ĐHSP Hà Nội II đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình nghiên
cứu để hoàn thành đề tài này.
Hà Nội, tháng 5 năm 2007
Sinh viên
Lại Thị Phương Thành
LỜI CAM ĐOAN
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
3.2. Phạm vi nghiên cứu
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết
5.2. Phƣơng pháp điều tra cơ bản, quan sát sƣ phạm
6. Thời gian nghiên cứu
PHẦN 2: TỔNG QUAN
1. Lịch sử nghiên cứu
1.1. Trên thế giới
1.2. Trong nƣớc
2. Tình hình ra đề kiểm tra Sinh học ở các trƣờng phổ thông
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lí luận
1.1. Khái niệm kiểm tra
1.2. Khái niệm đánh giá
1.3. Quan hệ giữa kiểm tra và đánh giá
1.4. Vai trò của kiểm tra đánh giá
1.5. Các phƣơng pháp kiểm tra đánh giá
1.6. Những yêu cầu sƣ phạm của đề kiểm tra đánh giá
1.7. Kĩ năng ra đề kiểm tra đánh giá.
1.8. Kĩ thuật viết câu hỏi trắc nghiệm khách quan
1.9. Qui trình biên soạn đề kiểm tra đánh giá
2.Cơ sở thực tiễn
CHƢƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM
1. Kết quả nghiên cứu.
12
12
13
13
14
14
18
19
20
25
26
29
29
29
33
36
41
44
1.6. Đề thi học kì II
2. Thực nghiệm
2.1. Mục đích thực nghiệm
2.2. Phƣơng pháp thực nghiệm
2.3. Kết quả thực nghiệm
2.4. Nhận xét
PHẦN 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1.Kết kuận
2. Đề nghị
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
04.Trung học phổ thông
: THPT
05. Trung học cơ sở
: THCS
06. Giáo viên
: GV
07. Học sinh
: HS
08. Sách giáo viên
: SGV
09. Giáo dục
: GD
10. Giáo dục- Đào tạo
: GD-ĐT
11. Trắc nghiệm khách quan
học sinh; củng cố hoàn thiện tri thức giúp học sinh ôn tập, hệ thống hoá kiến
thức; khâu kiểm tra đánh giá sẽlàm sáng tỏ tình trạng nắm kiến thức, phát
triển kĩ năng, kĩ xảo của học sinh, từ đó giúp học sinh rút ra đƣợc phƣơng
pháp học, tự đánh giá đƣợc trình độ, năng lực của mình, đồng thời thông qua
KTĐG giáo viên có thể điều chỉnh phƣơng pháp dạy học của mình sao cho
phù hợp. Nhƣ vậy, cùng với khâu nghiên cứu tài liệu mới, củng cố hoàn chỉnh
tri thức thì KTĐG cũng là một khâu quan trọng cần đƣợc đổi mới. Hiệu quả
của việc kiểm tra đánh giá phụ thuộc rất nhiều vào qui trình biên soạn đề kiểm
tra. Ngƣời giáo viên phải nắm đƣợc mục tiêu của từng bài kiểm tra, ƣu nhƣợc
6
điểm của từng loại hình KTĐG để có thể đƣa ra đƣợc những đề kiểm tra có
chất lƣợng.
Trong thực tế giảng dạy ở phổ thông hiện nay, việc KTĐG vẫn chƣa
đƣợc coi trọng đúng mức, một số giáo viên chƣa thực sự đầu tƣ thời gian để
xây dựng các đề KTĐG và việc KTĐG chỉ là hình thức lấy điểm để xếp loại
học sinh, điều đó đã làm ảnh hƣởng đến chất lƣợng dạy và học .
Mặt khác, từ trƣớc đến nay chúng ta vẫn thƣỡng sử dụng các hình thức
kiểm tra đành giá đó là: kiểm tra viết (tự luận) và kiểm tra vấn đáp (miệng).
Nhƣợc điểm của các hình thức kiểm tra này là mất nhiều thời gian kiểm tra,
chấm bài, chƣa đảm bảo tính khách quan, bài kiểm tra không thể hiện hết các
kiến thức các em đã đƣợc học…Để khắc phục đƣợc những nhƣợc điểm trên,
chúng ta lên đƣa vào các đề kiểm tra phần tự đánh giá với các câu hỏi TNKQ.
Hiện nay việc sử dụng các câu hỏi TNKQ trong KTĐG đang đƣợc ứng dụng
rộng rãI cho cả đại học và phổ thông.
Nội dung chƣơng trình Sinh học 10 (2006), các em chủ yếu đƣợc học về
các kiến thức đại cƣơng: đó là sinh học tế bào và sinh học VSV. Những kiến
thức này không chỉ là cơ sở để cho các em học tiếp phần sau mà còn là một
3.2. Phạm vi nghiên cứu.
Một số lớp 10 trƣờng THPT Tam Đảo II thuộc huyện Tam Đảo – Vĩnh
Phúc.
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
4.1. Ý nghĩa khoa học.
Đổi mới kỹ thuật biên soạn đề kiểm tra chính là cơ sở lí luận cho đổi mới
phƣơng pháp kiểm tra đánh giá có ý nghĩa tích cực đến quá trình dạy học.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn.
Hi vọng sẽ là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên, cũng nhƣ giáo
viên quan tâm đến khâu đổi mới kiểm tra đánh giá Sinh học 10.
8
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
5.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết.
- Đọc các tài liệu lý thuyết có liên quan đến đề tài: các chủ trƣơng, chính
sách của Đảng và Nhà nƣớc trong công tác đổi mới giáo dục, các tài liệu về lí
luận dạy học…
- Phân tích kế hoạch giảng dạy, mục tiêu, nội dung, trọng tâm của từng
bài, của từng chƣơng để xây dựng các đề kiểm tra cho phù hợp với thời gian,
nội dung của bài, và với từng đối tƣợng học sinh.
5.2. Phƣơng pháp điều tra cơ bản, quan sát sƣ phạm.
- Dự giờ, trao đổi kinh nghiệm với giáo viên bộ môn về kinh nghiệm
biên soạn đề kiểm tra theo hƣớng truyền thống và đổi mới.
- Đọc tham khảo và phân tích một số đề kiểm tra Sinh học 10 ở các
trƣờng THPT để xác định tính khả thi và hiệu quả của đề kiểm tra.
6. Thời gian nghiên cứu.
Từ tháng 9 năm 2006 đến tháng 5 năm 2007.
Hiện nay việc kiểm tra đánh giá đã trở thành công việc thiết yếu trong
quá trình dạy học. Bên cạnh các nhà khoa học nghiên cứu về các bộ môn khác
10
thì với bộ môn Sinh học có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu nhƣ: Nguyễn
Quang Vinh, Trần Doãn Bách, Trần Bá Hoành, Trần Kiên,… các tác giả đã
nêu rõ khái niệm, vai trò của kiểm tra đánh giá một cách khá toàn diện.
Hoà chung với xu hƣớng phát triển và đổi mới giáo dục trên quy mô toàn
cầu, giáo dục Việt Nam đã nhanh chóng tiếp cận và đổi mới phƣơng pháp dạy
học trong đó có việc cải tiến ra đề KTĐG. Tại các tỉnh phía Nam, trƣớc ngày
giải phóng đã xuất bản những cuốn sách dùng riêng cho giáo viên để hƣớng
dẫn cụ thể việc dùng TNKQ trong nhà trƣờng (Nguyễn Ngọc Đính, Lê Nhƣ
Dục), trắc nghiệm trí thông minh của Lê Quang Liêm. Những năm gần đây
trong lĩnh vực tâm lí học đã có những cuốn sách giới thiệu khá kĩ về TNKQ
(Trần Trọng Thuỷ). Một số nghiên cứu vận dụng TNKQ để đánh giá mức độ
phát triển, trí tuệ, thăm dò năng khiếu nghề nghiệp của học sinh, sinh viên
(Trần Bá Hoành, Trần Kiên), theo hƣớng đổi mới việc kiểm tra đánh giá.
Hiện nay TNKQ đã đƣợc đƣa vào sử dụng trong các trƣờng THCS,
THPT và cả trong các kì thi tuyển sinh đại học.
2. Tình hình ra đề kiểm tra Sinh học ở các trƣờng phổ thông.
- Các câu hỏi trong đề kiểm tra chủ yếu là các câu hỏi tự luận.
- Một số giáo viên phổ thông còn chƣa có nhiều kinh nghiệm ra đề hoặc
ngại ra đề kết hợp giữa tự luận và TNKQ vì mất nhiều thời gian, mất nhiều
công sức…
- Các đề kiểm tra đƣợc xây đựng và sử dụng theo quy trình biên soạn đổi
mới chỉ đƣợc các Sở GD áp dụng trong các đợt kiểm tra chất lƣợng.
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1.2. Khái niệm đánh giá.
12
Là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công
việc, dựa vào sự phân tích các thông tin thu đƣợc đối chiếu với mục tiêu, tiêu
chuẩn đặt ra nhằm đề xuất những qui định thích hợp để cải thiện hiện trạng,
điều chỉnh nâng cao chất lƣợng và hiệu quả của công việc. Trong dạy học
ngƣời ta phân biệt các loại hình đánh giá sau:
1.2.1. Đánh giá định hình và đánh giá tổng kết.
Đƣợc tiến hành trong quá trình dạy và học một nội dung nào đó nhằm
thu nhận thông tin phản hồi về kết quả học tập của HS về nội dung đó, dùng
làm cơ sở cho việc định hƣớng hoạt động dạy và học tiếp theo nhằm làm cho
các hoạt động này có hiệu quả hơn.
Đánh giá tổng kết đƣợc tiến hành khi kết thúc năm học, khoá học bằng
những kì thi nhằm đánh giá tổng quát kết quả học tập đối chiếu với mục tiêu
đề ra.
1.2.2. Đánh giá theo chuẩn và đánh giá theo tiêu chí.
Đánh giá theo chuẩn: Nhằm so sánh kết quả học tập của một học sinh
với các học sinh khác đƣợc học cùng một chƣơng trình GD. Nó cho phép sắp
xếp kết quả học tập của học sinh theo thứ tự và phân loại.
Đành giá theo tiêu chí: Nhằm xác định mức độ kết quả của học sinh
theo mục tiêu GD, kết quả học tập của học sinh đƣợc so sánh với các mục tiêu
học tập đƣợc xác định trong các chƣơng trình GD của các môn học. Trong đó
nêu rõ những kiến thức, kĩ năng và thái đọ nào học sinh phải đạt đƣợc sau khi
học tập.
1.3. Quan hệ giữa kiểm tra và đánh giá.
Trong nhà trƣờng, việc đánh giá kết quả học tập của HS đƣợc thực hiện
chủ yếu qua việc tổ chức kiểm tra, thi một cách có hệ thống theo qui định chặt
- Xét về mục đích kiểm tra có thể phân biệt:
+ Kiểm tra củng cố: Kiểm tra những kiến thức vừa trình bày.
+ Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra những kiến thức cũ đã đƣợc học.
14
+ Kiểm tra tổng kết: Kiểm tra những kiến thức cơ bản cần nắm vững
cho mỗi bài, chƣơng học, kì học.
- Xét về hình thức trong thực tiễn dạy học, có thể phân biệt:
+ Kiểm tra miệng.
+ Kiểm tra viết.
+ Kiểm tra thực hành.
Trong nội dung đề tài này, tôi chỉ nghiên cứu sâu vào cách phân chia
thứ hai: Xét về hình thức trong thực tiễn dạy học.
1.5.1. Kiểm tra miệng.
Đƣợc áp dụng với hình thức kiểm tra thƣờng xuyên. Dùng khi kiểm tra
bài cũ, dạy học bài mới, củng cố cuối tiết học. Kiểm tra miệng giúp GV đánh
giá một cách sơ bộ mức độ nắm vững kiến thức của HS từ đó GV điều chỉnh
cách dạy trong các bài tiếp sau.
Trong một tiết học, thời gian kiểm tra miệng không nhiều, do đó GV
phải hết sức lƣu ý kỹ thuật sƣ phạm từ khâu chuẩn bị câu hỏi, công bố câu
hỏi, đến đánh giá câu trả lời của HS.
- Về câu hỏi:
+ Phải có dung lƣợng vừa phải, sát với chƣơng trình cũng nhƣ trình độ
của HS.
+ Câu hỏi phải chính xác, rõ ràng.
+ GV phải chuẩn bị câu hỏi bổ sung đối với những HS giỏi và cả HS yếu
tƣơng ứng với những câu hỏi gợi ý hoặc câu hỏi nâng cao.
- Về công bố câu hỏi:
cách có hệ thống và chọn lọc.
- Những câu hỏi có yêu cầu cao: là những câu hỏi cần có sự phân tích,
tổng hợp, khái quát hoá, vận dụng kiến thức.
Chính vì vậy đề kiểm tra viết phải bao hàm cả câu hỏi khó và câu hỏi dễ,
có nhƣ vậy mới phân loại đƣợc HS ở các mức độ khác nhau: yếu, kém, trung
16
bình, khá, giỏi. Để đánh giá chính xác trình độ HS, GV cần xây dựng đáp án
và biểu điểm chính xác, chi tiết cho mỗi bài kiểm tra.
Ƣu điểm của kiểm tra viết:
- Kiểm tra đƣợc đồng loạt HS trong cả lớp với cùng bài kiểm tra sẽ
đánh giá chính xác vị trí của HS, năng lực nhận thức trong cả lớp,
đánh giá trình độ chung của lớp học.
- Đề kiểm tra có thể đề cập đến nhiều vấn đề nhằm đánh giá HS ở
nhiều mặt hơn so với kiểm tra miệng.
- Qua bài viết GV có thể đánh giá sự phát triển ngôn ngữ, khả năng
diễn đạt bằng văn viết của HS.
Nhƣợc điểm:
- Chỉ kiểm tra đƣợc một số kiến thức mấu chốt.
- Thời gian kiểm tra dài, chấm bài mất nhiều thời gian, đôi khi không
chính xác.
1.5.3. Thực hành kiểm tra.
Sử dụng thực hành trong khâu kiểm tra nhằm một mặt đánh giá mức độ
nắm vững kiến thức của HS. Mặt khác, quan trọng hơn là kiểm tra kĩ năng kĩ
xảo của các em trong các thao tác thí nghiệm, lắp ráp các dụng cụ, sử dụng
các thiết bị, xử lý các số liệu qua quan sát và thực hiện. Đó là những kỹ năng
cần thiết của ngƣời nghiên cứu , ngƣời lao động trong tƣơng lai.
1.6. Những yêu cầu sƣ phạm của đề kiểm tra đánh giá.
năng lực tự đánh giá của HS.
1.6.2. Những yêu cầu sƣ phạm của đề kiểm tra.
Đề kiểm tra cần phải có những yêu cầu sau:
- Câu hỏi đƣa ra phải rõ ràng, chính xác để tránh dẫn đến hiểu sai hay
trả lời nhầm ở HS.
- Đảm bảo tính mục tiêu: Đó chính là những mục tiêu cụ thể đối với
mỗi bài, mỗi chƣơng, mỗi phần, mỗi lớp.
18
- Đảm bảo tính vừa sức: đề kiểm tra không đƣợc quá dễ, cũng không
quá khó đối với HS.
- Đảm bảo tính phân hoá: Để đánh giá chính xác trình độ lĩnh hội kiến
thức của HS thì đề kiểm tra phải có sự phân hoá. Trong đề kiểm tra
cần có yêu cầu ở các mức độ khác nhau nhƣ mức độ hiểu biết, vận
dụng…
- Đảm bảo thời gian: Đề kiểm tra phải đảm bảo thời gian làm bài của
HS tránh quá thừa, hoặc quá thiếu thời gian làm bài.
1.7. Kĩ năng ra đề kiểm tra đánh giá.
Việc ra đề KTĐG chất lƣợng học sinh phụ thuộc vào thời gian kiểm tra
.Với kiểm tra miệng hoặc kiểm tra 15 phút cần phải đƣa ra các câu hỏi ngắn
ngọn ,xúc tích, dễ hiểu còn kiểm tra 1 tiết, học kì phải tuân theo nguyên tắc
nhất định. Để ra đề kiểm tra, GV phải xác định đƣợc dạng câu hỏi mình ra.
1.7.1. Các dạng câu hỏi trong đề kiểm tra đánh giá.
Trong các đề kiểm tra hiện nay thƣờng sử dụng chủ yếu hai dạng câu
hỏi:
- Trắc nghiệm tự luận (TNTL).
- Trắc nghiệm khách quan(TNKQ).
1.7.2. Sự tƣơng đồng giữa trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách
tốn ít thời gian.
-
Số lƣợng câu hỏi ít, nên chỉ - Số lƣợng câu hỏi nhiều nên kiểm
kiểm tra đƣợc một phần nhỏ kiến
tra đƣợc một cách hệ thống và toàn
thức và kĩ năng của HS, dễ gây tình
diện kiến thức, kĩ năng, tránh học
trạng học tủ, học lệch.
lệch, học tủ.
-
Có thể đánh giá đƣợc khả năng - Không hoặc khó đánh giá đƣợc khả
diễn đạt ngôn ngữ và quá trình tƣ
năng diễn đạt, sử dụng ngôn ngữ và
duy của HS để đi đến câu trả lời.
quá trình tƣ duy của HS.
1.8. Kĩ thuật viết câu hỏi trắc nghiệm khách quan.
1.8.1. Dạng câu nhiều lựa chọn.
- Cấu tạo: Câu hỏi gồm 2 phần: Phần dẫn và phần trả lời (lựa chọn).
+ Phần dẫn: Có thể là một câu hỏi hay một câu chƣa hoàn chỉnh.
20
+ Phần lựa chọn: Gồm một số phƣơng án để trả lời câu hỏi hay phần bổ
sung cho câu đƣợc hoàn chỉnh, trong đó chỉ có một phƣơng án đúng, phần còn
lại là nhiễu.
Ví dụ: Các Axitamin liên kết với nhau thông qua mối liên kết nào ?
A: Peptit.
B: Photphođieste.
C: Hiđro.
D: Ion.
Đáp án: A.
- Ƣu điểm của câu nhiều lựa chọn:
+ Xác suất chọn đƣợc phƣơng án đúng do ngẫu nhiên không cao.
+ Hình thức rất đa dạng.
+ Có thể kiểm tra đƣợc nhiều mức độ nhận và hình thức tƣ duy (hiểu,
vận dụng, giải quyết vấn đề,… )
- Nhƣợc điểm:
Biên soạn khó.
Chiếm nhiều chỗ trong giấy kiểm tra.
Dễ nhắc nhau khi làm bài (trƣờng hợp đề giống nhau)
2. Khi cần tổng hợp nhanh một chất nào đó với số lƣợng lớn, tế
bào có thể sử dụng nhiều loại enzim khác nhau.
Đáp án: 1.Đ; 2.S
- Ƣu điểm của câu đúng sai.
Dễ biên soạn.
Có thể đƣa ra nhiều nội dung trong một thời gian ngắn.
- Nhƣợc điểm:
Xác xuất chọn đƣợc phƣơng án đúng cao.
Nếu dùng nhiều câu lấy từ SGK dễ khuyến khích HS học
vẹt.
22
- Phạm vi sử dụng:
Dùng hạn chế, thích hợp cho kiểm tra vấn đáp nhanh.
Thƣờng sử dụng khi không tìm đƣợc đủ phƣơng án nhiễu
cho câu nhiều lựa chọn.
- Lƣu ý khi viết:
Không nên bố trí câu đúng theo một trật tự.
Những câu phát biểu phải có tính đúng, sai chắc chắn.
Không nên chép nguyên văn các câu trong SGK. Mỗi câu
chỉ nên diễn tả một ý tƣởng độc lập.
Không nên bố trí các câu đúng bằng các câu sai.
1.8.3. Dạng câu ghép đôi.
Đây là một dạng câu hỏi đặc biệt của câu hỏi nhiều lựa chọn, ngƣời làm
bài phải chọn nội dung đƣợc trình bày ở cột phải sao cho thích hợp với nội
dung đựơc trình bày ở cột trái.
Ví dụ: Ghép nội dung ở cột 2 phù hợp với nội dung ở cột 1 và ghi kết
quả vào cột 3.
4.Lƣới nội chất trơn.
C. Thực hiện qua trình hô hấp.
4-
D. Đóng gói các sản phẩm hay chất thải… rồi tiết
ra ngoài nhờ các bóng nội bào bằng con đƣờng
xuất bào.
E. Tham gia vào sự hình thành thoi phân bào.
23
F. Tổng hợp Lipit, chuyển hoá đƣờng và phân huỷ
các chất độc hại đối với cơ thể.
Đáp án: 1.C; 2.D; 3.B; 4.F;
- Ƣu điểm của câu ghép đôi:
Dễ biên soạn.
Có thể kiểm tra nhiều nội dung trong một thời gian ngắn.
- Nhƣợc điểm:
Dễ trả lời thông qua việc loại trừ.
Khó đánh giá mức độ tƣ duy ở trình độ cao.
HS mất nhiều thì giờ làm bài vì cứ mỗi câu lại phải đọc lại
toàn bộ trong đó có cả những câu rõ ràng là không thích
hợp.
- Phạm vi sử dụng:
Thích hợp cho các kiến thức về cấu tạo phù hợp với chức năng.
Thích hợp với việc kiểm tra nhận thức kiến thức cơ bản sau khi học
xong một chƣơng, một chủ đề.